LOGO VNBET
THIÊN BỐN PHÁP
[631A07] 25. PHẨM TỨ ĐẾ

 
KINH SỐ 11
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Nên tu tập pháp bốn đế. Những gì là bốn? Thứ nhất là Khổ đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô tận. Thứ hai là Khổ tập đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô tận. Thứ ba là Khổ tận đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô tận.
Thứ tư là Khổ xuất yếu đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩakhông thể cùng, thuyết pháp vô tận.
“Thế nào là Khổ đế? Khổ đế, là khổ bởi sanh, khổ bởi già, khổbởi bệnh, khổ bởi chết, khổ bởi buồn lo phiền não, khổ bởi oán ghét gặp nhau, khổ bởi ân ái bị chia lìa, khổ bởi những gì cầu mà không được, nói tóm lại là khổ bởi năm thủ uẩn2 . Đó gọi là sự thật về khổ.
“Thế nào là Khổ tập đế? Tập đế, là ái tương ưng với dục, tâm thường nhiễm đắm. Đó gọi là khổ tập đế.
“Thế nào là Khổ tận đế? Tận đế, là dục ái bị diệt tận không còn tàn dư, không tái sanh khởi. Đó gọi là Khổ tận đế.
_________________________
1 Tham chiếu Pāli, S. 56. 21 Vijjā (R. v. 431).
2 Ngũ thạnh ấm 五盛陰, tức năm thủ uẩn (Pāli: pañca-upādānakkhandha).

* Trang 11 *
device

“Thế nào là Khổ xuất yếu đế? Khổ xuất yếu, là tám phẩm đạo Hiền thánh. Nghĩa là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh tam-muội. Đó gọi là Khổ xuất yếu đế.
“Đó gọi là, này Tỳ-kheo, có bốn đế này là thật hữu, không hư dối, là điều mà Thế Tôn nói, cho nên gọi là đế. Trong các loài chúng sanh hai chân, bốn chân ở cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, Như Lai là tối thượng, đã thành tựu bốn đế này, nên gọi là bốn đế.
“Đó gọi là, này các Tỳ-kheo, có bốn đế mà do không giác tri nên sống chết xoay vần mãi trong năm nẻo. Nay Ta do đạt được bốn đế này, từ bờ này đến bờ kia, thành tựu [631b01] nghĩa này, đoạn trừ cội gốc sinh tử, như thực biết rằng không còn tái sinh nữa.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Nay có pháp bốn đế,
Nếu không như thật biết,
Luân hồi trong sinh tử,
Quyết không được giải thoát.
 
Như nay có tứ đế,
Đã giác, đã hiểu rõ,
Nên đoạn gốc sinh tử,
Cũng không còn tái sinh.
“Nếu có chúng bốn bộ nào không được đế này, không giác,không tri, sẽ đọa vào năm nẻo. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu bốn đế này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 12 *
device

KINH SỐ 2
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Có bốn pháp này, lợi ích nhiều cho mọi người. Những gì là bốn? Pháp thứ nhất là nên gần gũi thiện tri thức. Thứ hai là nên nghe pháp. Thứ ba là nên biết pháp. Thứ tư là nên phân minh pháp và pháp tướng.3 Đó gọi là, này Tỳ-kheo có bốn pháp này, lợi ích nhiều cho mọi người.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu bốn pháp này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 34
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan:
“Nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, khi ấy có bốn pháp vị tằng hữu5 xuất hiện ở đời. Những gì là bốn? Các loài
_______________________________
3 Cf. Tập dị 6 (T26n1536, tr. 393a11), Pháp uẩn 2 (T26n1537, tr. 458b26),bốn Dự lưu chi 預流支: thân cận thiện sỹ 親近善士, thính văn chánh pháp聽聞正法, như lý tác ý 如理作意, pháp tùy pháp hành 法隨法行. Pāli, D33 Saṅgīti (R.iii. 227 ): cattāri sotāpattiyaṅgāni– sappurisasaṃsevo,saddhammassa-vanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammappaṭipatti.
4 Tham chiếu Pāli, A IV 127 Adbhūtadhammā (R.ii. 131).
5 Vị tằng hữu pháp. Pāli 未曾有法: adbhūtadhamma.

* Trang 13 *
device

chúng sanh này bị nhiều đắm nhiễm. Nếu khi nói pháp không đắm nhiễm,chúng cũng vâng lãnh, niệm tưởng tu hành, tâm không xa lìa.Đó là pháp vị tằng hữu thứ nhất xuất hiện ở đời, nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, có (một trong)6 bốn pháp vị tằng hữu này xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này luôn luân chuyển không dừng trong năm nẻo. Giả sử Ta muốn nói pháp, chúng cũng vâng lãnh, tâm không xa lìa. Nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, có pháp vị tằng hữu thứ hai này xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này thường ôm lòng kiêu mạn, không bỏ sự dẫn đầu bởi tâm7. Giả sử Ta nói pháp, chúng cũng vâng lãnh, tâm không xa [631c01] lìa. Này A-nan, chúng sanh này thường ôm lòng kiêu mạn, không bỏ chốc lát nào. Giả sử khi Ta nói pháp, chúng cũng vâng lãnh. Đó gọi là pháp chưa từng có thứ ba xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này bị vô minh che kín. Giả sử khi Ta nói pháp minh, chúng cũng vâng lãnh mà không quên mất. Lại nữa, này A-nan, nếu khi Ta nói pháp minh, vô minh này, mà tâm ý chúng nhu hòa luôn thích tu hành; đó gọi là, này A-nan, khi Như Lai xuất ở đời, có pháp vị tằng hữu thứ tư này xuất hiện ở đời.
“Nếu lúc Như Lai6 đang hiện tại, khi ấy có bốn pháp vị tằng hữu này xuất hiện ở đời. Cho nên, này A-nan, hãy phát tâm hoan hỷ hướng về Như Lai. A-nan, hãy học điều
 
__________________________________
6 Trong ngoặc, không có trong Hán dich,  nhưng được thêm vào cho rõ nghĩa.
7 đoạn dưới, cùng ngữ cảnh, Hán dịch như sách không rời bỏ chốc lát. Tham chiếu Pàli, dẫn trên: mānārāmā pājā mānaratā mānasammuditā , chúng sinh vui thú với mạn, say đắm với mạn, hoan hủy với mạn.

* Trang 14 *
device

này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 48
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói về gánh nặng, cũng sẽ nói về người mang gánh nặng, cũng sẽ nói về nhân duyên của gánh nặng, và cũng sẽ nói về sự buông gánh nặng.9 Các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ. Nay Ta sẽ nói.”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Kính vâng, Thế Tôn!”
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy như vậy. Thế Tôn bảo:
“Thế nào là gánh nặng? Đó là năm thủ uẩn. Những gì là năm? Sắc, thọ*, tưởng, hành, thức ấm. Đó gọi là gánh nặng.
“Thế nào là người mang gánh? Người mang gánh, đó là thân người, tự gì, tên gì, sinh như vậy, thức ăn như vậy, thọ khổ lạc như vậy, tuổi thọ ngắn dài như vậy. Đó gọi là người mang gánh.
“Thế nào là nhân duyên của gánh nặng10 ? Nhân duyên của gánh nặng, đó là nhân duyên bởi ái trước câu hữu với
_____________________________
8 Tham chiếu Pāli, S.22. 22 Bhāra (R. iii. 25).
9 Dẫn bởi Câu-xá 30 (T29n1558, tr. 155a27): trọng đảm 重擔 (Pāli: bhāra),hà trọng đảm 荷重擔 (Pāli: bhārahāra), xả trọng đảm 捨重擔 (Pāli:bhāranikkhepana).
10 Pāli: bhāranidāna.

* Trang 15 *
device

dục, tâm không xa lìa.11 Đó gọi là nhân duyên gánh.
“Thế nào là buông gánh nặng? Ái kia đã khiến bị diệt tận không còn tàn dư, đã trừ, đã nhổ ra. Đó gọi là buông gánh nặng.
“Như vậy, Tỳ-kheo, nay Ta đã nói về gánh nặng, đã nói về nhân duyên của gánh nặng, đã nói về người mang gánh nặng,đã nói về buông gánh nặng. Những gì Như Lai cần làm, nay Ta đã làm xong. Hãy ở dưới cây, chỗ nhàn tịnh, ngồi ngoài trời,hằng niệm tọa thiền, chớ có buông lung.”
Bấy giờ Thế Tôn liền nói bài kệ:
Hãy niệm bỏ gánh nặng,
Chớ tạo gánh mới nữa.
[631c29] Gánh là bệnh thế gian,
Buông gánh, lạc đệ nhất.
 
Ái kết cũng đã trừ,
Phi pháp hành cũng xả;
Vĩnh viễn xa ly đây,
Không còn tái sinh nữa.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện buông xả gánh nặng. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
____________________
10Pāli,  định  cú:  yāyaṃ  taṇhā  ponobhavikā nandīrāgasahagatātatratatrābhinandinī seyyathidaṃ– kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā,ái đương lai hữu, câu hữu với hỉ tham, mong ước ta sẽ ở đây, ta sẽ ở kia, tứclà, dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

* Trang 16 *
device

KINH SỐ 5
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại sinh. Những là bốn? Sinh từ trứng, sinh từ thai, sinh từ ẩm, sinh từ hóa.12
“Thế nào là sinh từ trứng? Sinh ra từ trứng, các loại như gà, chim, quạ, bồ câu, khổng tước, rắn, cá, kiến; thảy đều là sinh trứng. Đó gọi là sinh trứng.
“Thế nào là sinh từ thai? Người cùng súc sinh, đến loài vật haichân. Đó gọi là sinh từ thai.
“Thế nào là sinh từ nhân duyên13 ? Những con trùng được sinh từ trong thịt rữa, trùng trong nhà xí, trùng trong thây chết; thảy đều được gọi là sinh từ nhân duyên.
“Thế nào là sinh từ hóa? Đó là các loại trời, địa ngục, ngạ quỉ, hoặc người, hoặc súc sanh. Đó gọi là sinh từ hóa.
“Đó gọi là, này Tỳ-kheo, có bốn loại sinh này. Các Tỳ-kheo lìa bỏ bốn loại sinh này, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu pháp bốn đế. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ
___________________
12 Cf. M 12 Mahā-Sīhanādasuttaṃ (R.i. 73): catasso yoniyo: aṇḍajā yoni,jalābujā yoni, saṃsedajā yoni, opapātikā yoni.
13 Nhân duyên sinh 因緣生. Tức thấp sinh kể trên. Skt. saṃsveda (Pāli: saṃseda), nghĩa đen : sự đổ mồ hôi. Loài người thấp sinh (Câu xá 28 tr.44a), truyền thuyết nói, thời kiếp sơ vua Māndhātar (Mạn-đà-đa) sinh ra từ một cục u (piṭaka) trên đầu vua Upoṣadha.

* Trang 17 *
device

phụng hành

KINH SỐ 614
Tôi nghe như vầy:
Một thời Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên ở Ca-lan-đa, trong vườn Trúc, thành La-duyệt.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Thế gian có bốn hạng người này. Những gì là bốn? Thứ nhất, người có kết tiềm phục; bên trong có kết mà không biết như thật có.15 Hoặc người có kết tiềm phục; bên trong có kết mà biết như thật có. Hay người không có kết sử tiềm phục; bên trong không có kết mà không biết như thật là không có. Hoặc người không có kết sử tiềm phục; bên trong không kết mà biết như thật là không có.
“Các Hiền giả nên biết, hạng người thứ nhất có kết tiềm phục; bên trong có kết mà không biết; trong hai người có kết này ,người này rất thấp hèn. Người thứ hai có kết tiềm phục; bên trong có kết mà biết như thật [632b01] có, người này thật là tối ưu. Người thứ ba không có kết tiềm phục; bên trong không có kết mà không biết như thật; trong hai người không có kết, người này rất là thấp hèn. Người thứ tư không có kết sử tiềm phục; bên trong không kết mà biết như thật; trong người không có kết, thì người này là thật là đệ nhất.
“Các Hiền giả, nên biết, thế gian có bốn hạng người này.”
_____________________
14 Tham chiếu Pāli, M. 5 Anaṅgaṇasuttaṃ (R. i. 24); Hán, Trung 22 kinh 87(T1n26, tr. 566a13).
15Pāli, ibid., sāṅgaṇova (…) ajjhattaṃ aṅgaṇan”ti yathābhūtaṃ nappajānāti, có ô uế, nhưng không như thực biết rằng ta bên trong có ô uế.

* Trang 18 *
device

Bấy giờ Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi Xá-lợi-phất:
“Vì lý do gì người cùng có kết tiềm phục, mà một người thì thấp hèn, một người thì tối ưu? Lại vì lý do gì, hai người không kết tiềm phục này, một người thì thấp hèn, một người thì tối ưu?”
Xá-lợi-phất đáp:
“Người có kết tiềm phục, không biết như thật bên trong có kết, người kia nghĩ thầm, “ta đang có tưởng tịnh.” Người ấy tư duy có tưởng tịnh. Lúc đang có tưởng tịnh, tâm dục khởi. Khi tâm dục khởi, người ấy mạng chung với tâm tham dục, sân nhuế,ngu si. Người ấy đã không tìm cầu phương tiện diệt tâm dục này, mà mạng chung với tâm sân nhuế, ngu si.
“Mục-liên nên biết, giống như có người đến chợ mua được đồ đồng, bụi bặm bám bẩn, rất là bất tịnh. Người kia không tùy thời chịu lau chùi, không tùy thời rửa sạch, đồ đồng kia càng ngày càng thêm ố bẩn, rất là bất tịnh. Người thứ nhất này cũng như vậy, cáu bẩn bám theo, bên trong có kết mà không biết như thật. Người kia nghĩ thầm: “Ta sẽ tư duy tưởng tịnh.”16 Khi tư duy tưởng tịnh, tâm dục sinh. Khi tâm dục sinh, không tìm cầu phương tiện diệt tâm dục này, người ấy mạng chung với tâm tham dục, sân nhuế, ngu si.
“Người thứ hai kia có kết tiềm phục, mà biết như thật bên trong có kết. Người ấy nghĩ: “Nay ta sẽ xả bỏ tưởng tịnh, tư duy tưởng bất tịnh.” Người kia xả bỏ tưởng tịnh, tư duy tưởng bất tịnh. Khi tư duy tưởng bất tịnh, tâm dục không sinh, tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì
_____________________________
16 Pāli: subhanimittaṃ manasi karissati, nó sẽ tác ý đến dấu hiệu tinh sạch.

* Trang 19 *
device

chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, thành tựu những gì chưa thành tựu, bèn không còn tham dục, sân nhuế, ngu si. Người ấy mạng chung mà không có kết.
“Giống như có người từ trong chợ mua được đồ đồng dính bám bụi bẩn. Người kia tùy thời lau chùi, tẩy rửa sạch sẽ. Người này cũng như vậy, có kết tiềm phục, mà biết như thật bên trong có kết. Người này liền bỏ tưởng tịnh, tư duy tưởng bất tịnh. Khi tư duy tưởng bất tịnh, người ấy tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được,[632b29] tác chứng những gì chưa tác chứng. Người này mạng chung với tâm không dục, không sân nhuế, không ngu si. NàyMục-liên, đó gọi là có hai hạng người có kết tiềm phục này,một người hèn hạ, một người tối ưu.”
Mục-liên nói:
“Lại vì lý do gì khiến hai hạng người không có kết tiềm phục này, một người hèn hạ, một người lại tối ưu?”
Xá-lợi-phất nói:
“Hạng người thứ ba không có kết tiềm phục kia, mà không biết như thật bên trong không có kết. Người ấy không tự tư duy rằng: “Ta tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, tác chứng những gì chưa tác chứng.” Người kia mạng cung với tâm bị trói buộc bởi dục,sân nhuế, ngu si.
“Giống như có người đến chợ mua đồ đồng không17 bị dính bụi bẩn, nhưng không tùy thời lau chùi, cũng không tùy thời tẩy rửa. Người thứ ba này cũng như vậy, không có kết tiềm phục,mà không biết như thật bên trong
__________________________________
17 Để bản nhảy sót. Tham chiếu Pāli, ibid.; Trung 22, dẫn trên.

* Trang 20 *
device

không kết, cũng không học điều này: “Ta nên tìm cầu phương tiện diệt trừ các kết này.”Người ấy mạng chung với tâm tham dục, sân nhuế, ngu si.
“Hạng người thứ tư không câu hữu với kết, mà biết như thật bên trong không kết. Người kia tự tư duy tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, tác chứng những gì chưa tác chứng. Người kia mạng chung mà không có kết này.
“Giống như có người đến chợ mua được đồ đồng tốt, rất là tinh sạch, lại thêm tùy thời chăm sóc lau rửa đồ này. Bấy giờ, đồ kia lại càng sạch đẹp. Người thứ tư này lại cũng như vậy, không có kết tiềm phục, biết như thật bên trong không kết. Người kia tự  tư duy tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, tác chứng những gì chưa tác chứng. Người kia thân hoại mạng chung không có kết sử tham dục, sân nhuế, ngu si. Này Mục-liên, đó gọi là có hai hạng người này, không có kết tiềm phục, (mà biết nó như thật bên trong không kết,)18 nhưng một người thì cao quí, một người thì hèn hạ.”
Bấy giờ, Tôn giả Mục-liên hỏi Xá-lợi-phất:
“Vì sao gọi là kết19 ?”
Xá-lợi-phất nói:
“Mục-liên, nên biết, pháp ác bất thiện, khởi các tà kiến, đó gọi là kết.20
_______________________________
17 Câu này nghi để bản chép dư, nên cho vào ngoặc.
18 Kết 結; đây hiểu là “bẩn”; Trung 22 nói là uế 穢. Pāli nói là aṅgaṇa (vếtbẩn).
19 Cf. Trung 22: “Vô lượng pháp ác bất thiện phát sinh từ dục, đó

* Trang 21 *
device

“Hoặc lại có người nghĩ như vầy, “Mong Như Lai hỏi nghĩa ta trước, sau đó mới nói pháp cho các Tỳ-kheo. Chứ Như Lai không hỏi nghĩa Tỳ-kheo khác, mà nói pháp cho các Tỳ-kheo.”Nhưng lại có lúc Thế Tôn nói với Tỳ-kheo khác mà thuyết pháp, chứ không nói với Tỳ-kheo kia. (Người ấy bèn nghĩ)21[633a01]“Như Lai thuyết pháp. Nhưng Như Lai không nói với ta mà lại thuyết pháp cho các Tỳ-kheo.” Do vậy, hoặc có bất gọi là uế.”thiện, hoặc có tham dục. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.22
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Mong khi vào thôn khất thực ta thường đi phía trước các Tỳ-kheo. Chớ để Tỳ-kheo khác đi phía trước các Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực.” Nhưng  có lúc Tỳ-kheo khác đi phía trước khi vào thôn khất thực,không để Tỳ-kheo kia đi phía trước các Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực. (Tỳ-kheo ấy bèn nghĩ:) “Ta không đi phía trước Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực.” Đã có bất thiện, lại có tham dục,cả hai đều bất thiện.
“Mục-liên, nên biết, hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Mong ta ngồi phía trước Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn trước; chớ để Tỳ-kheo khác ngồi trước Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn trước.” Nhưng lại
___________________________
gọi là uế.”Pāli: pāpakānaṃ akusalānaṃ icchāvacarānaṃ adhivacanaṃ yadidaṃaṅgaṇan“ti, ác, bất thiện, cảnh giới của dục, là những từ đỗng nghĩa củacáu bẩn.
21 Trong ngoặc, không có trong Hán dịch, nhưng được thêm vào cho rõnghĩa.
22 Cf. Trung 22, ibid.: “Vị ấy liền sinh ác tâm. Khi tâm sinh ác và tâm sinh dục, thảy đều bất thiện.” Cf Plia, ibid., so kupito hoti appatīto. kopo yo caappaccayo– ubhayametaṃ aṅgaṇaṃ, vị ấy phẩn nộ và bất mãn. Phẩn nộ và bất mãn, cả hai đều ô uế.

* Trang 22 *
device

có Tỳ-kheo khác ngồi phía trước Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn trước, không để Tỳ-kheo kia ngồi trước các Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn trước. (Tỳ kheo ấy bèn nghĩ:) “Ta không ngồi phía trước Tỳ-kheo; không nhận nước trước, không được thức ăn trước.” Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Mong khi ăn xong, tanói pháp cho đàn việt. Chớ để Tỳ-kheo khác nói pháp cho đànviệt sau khi ăn xong.” Nhưng có lúc Tỳ-kheo khác nói pháp chođàn việt sau khi ăn xong, chứ không để cho Tỳ-kheo kia nóipháp cho đàn việt sau khi ăn xong. (Tỳ-kheo ấy bèn nghĩ:) “Ta không được thuyết pháp cho đàn việt sau khi ăn xong.” Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc, Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Mong ta đến nói pháp cho gia chủ, bà-la-môn ở trong vườn. 23 Chớ để cho Tỳ-kheo khác đến nói pháp cho gia chủ, bà-la-môn ở trong vườn. Nhưng có lúc Tỳ-kheo khác đến trong vườn nói pháp cho gia chủ, bà-la-môn, không để Tỳ-kheo ấy đến trong vườn nói pháp cho gia chủ, bà-la-môn. (Tỳ kheo ấy bèn nghĩ:) “Ta không đến trong vườn nói pháp cho gia chủ, bà-la-môn.” Đã có bất thiện, lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nay ta phạm giới. Cầu mong các Tỳ-kheo không biết ta phạm giới.” Nhưng lại có lúc Tỳ-kheo kia phạm giới, mà các Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo này phạm giới. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều [633b01] bất thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nay ta phạm giới.
________________________
23 Viên 園, tức trong tăng già lam, hay tăng viện. Pāli: ārāma.

* Trang 23 *
device

Chớ để Tỳ-kheo khác nói rằng ta phạm giới.” Nhưng lại có lúc, Tỳ-kheo ấy phạm giới, Tỳ-kheo khác nói Tỳ kheo ấy phạm giới. (Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng:) “Các Tỳ-kheo khác nói ta phạm giới.” Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: “Nay ta phạm giới. Mong Tỳ-kheo thanh tịnh nói với ta; không để Tỳ-kheo không thanh tịnh nói với ta.”24 Nhưng lại có lúc Tỳ-kheo không thanh tịnh nói Tỳ-kheo kia rằng Tỳ-kheo kia phạm giới. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nay ta phạm giới, nếu có Tỳ-kheo nào nói với ta, nên ở nơi khuất kín, không ở giữa đại chúng.” Nhưng lại có lúc, Tỳ-kheo kia phạm giới, bị nói tội ở giữa đại chúng, không ở nơi khuất kín. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Mục-liên, nên biết, gốc của các pháp này khởi dậy các hành vi này, gọi là kết sử.
“Mục-liên, lại nên biết, những ai trong chúng bốn bộ mà phạm các hành vi, mọi người đều nghe, đều biết phạm, tuy người đó có nói rằng tôi hành a-lan-nhã, sống ở nơi nhàn tịnh, và ngay dù có khoác y năm mảnh, thường hành khất thực không lựa giàu nghèo, đi không thô tháo, qua lại, đi dừng, nằm ngồi, động tịnh, nói năng, im lặng. Nhưng Tỳ-kheo ấy lại nghĩ như vầy: “Mong Tỳ-kheo,
______________________
24 Hán dịch có sự nhầm lẫn. Tỳ-kheo không thanh tịnh không được nói tội Tỳ-kheo khác. Cf. Vin.i. 170. Tham chiếu, Trung 22: “Ta phạm giới, mong người hơn ta chỉ tội, chứ không phải người không bằng ta chỉ tội.” Pāli: sappaṭipuggalo maṃ codeyya, no appaṭipuggalo”ti.

* Trang 24 *
device

Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tư, các vị phạm hạnh luôn đến cung kính cúng dường ta.› Tỳ-kheo ấy tuy có nghĩ vậy, song cũng không được chúng bốn bộ tùy thời cung kính cúng dường. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia có ác, bất thiện hành chưa được trừ, mà mọi người đều thấy, đều nghe, đều niệm, đều biết. Giống như người có đồ đồng thật sạch sẽ; lại đựng đầy đồ bất tịnh trong bình đồng, rồi dùng đồ khác phủ lên rồi mang đi vào quốc giới. Mọi người thấy hỏi người kia rằng: “Anh mang vật gì vậy? Chúng tôi muốn được thấy qua.” Khi ấy mọi người vốn đã đói kém, kêu lên rằng: “Ồ! Đây là đồ ăn thức uống ngon.› Rồi họ mở nắp đậy ra, mọi người đều trông thấy đồ bất tịnh. Ở đây, Tỳ-kheo cũng lại như vậy. Tuy có hành a-lan-nhã, tùy thời khất thực, mặc y năm mảnh, chánh thân chánh ý, buộc niệm ở trước. Người ấy tuy có ý nghĩ này: “Mong sao các vị phạm hạnh tùy thời đến cung kính cúng dường.” Nhưng [633c01] các vị phạm hạnh lại không tùy thời cung kính cúng dường. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia có pháp ác, bất thiện, kết sử, mà chưa diệt tận.
“Mục-liên, nên biết, những Tỳ-kheo nào không có pháp ác, bất thiện; kết sử đã diệt tận, mà mọi người đều thấy, đều nghe, đều niệm, đều biết; vị ấy dù sống bên thành ấp cũng vẫn là người trì pháp. Hoặc được người thỉnh mời, hoặc nhận được sự cúng dường của các gia chủ. Nhưng Tỳ-kheo ấy không có tưởng tham dục này. Khi ấy chúng bốn bộ và các đồng phạm hạnh đều đến cúng dường. Vì sao? Vì hành vi của Tỳ-kheo kia thanh tịnh, mà mọi người đều thấy, đều nghe, đều niệm, đều biết.
“Giống như người có bình đồng tốt, đựng đầy đồ ăn thức uống, mùi vị rất thơm, lại lấy nắp đậy lên, rồi mang đi vào quốc giới. Mọi người thấy, hỏi người kia rằng: “Đây

* Trang 25 *
device

là vật gì? Chúng tôi muốn được xem qua.” Rồi sau đó mở ra xem, thấy đồ ăn thức uống, cùng lấy ăn. Ở đây cũng như vậy, Tỳ-kheo được thấy, được nghe, được niệm, được biết, tuy đi ở bên thành ấp nhận sự cúng dường của gia chủ, nhưng không nghĩ: “Mong sao các đồng phạm hạnh đến cúng dường.” Tuy vậy, các đồng phạm hạnh đều đến cung kính cúng dường. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia có ác bất thiện hành đã được tận trừ. Cho nên, Mục-liên do các hành này, nên gọi là kết sử.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên khen:
“Lành thay, lành thay, Xá-lợi-phất! Sự việc như vầy. Xưa kia tôi trú tại Ca-lan-đà, trong Trúc lâm, thành La-duyệt này; đến giờ, tôi khóac y ôm bát vào thành La-duyệt khất thực, đến nhà thợ làm xe kia, đứng im lặng ở ngoài cửa. Lúc ấy, người thợ kia tay cầm búa đẽo gỗ. Bấy giờ lại có người thợ già, có chút việc đến nhà người thợ này. Khi người thợ kia đang sửa bản gỗ thì người thợ già này nảy sinh ý nghĩ: ‹Người thợ trẻ đẽo gỗ này như ý ta chăng?” Nay ta phải xem qua. Lúc ấy, những chỗ không vừa ý người thợ kia đã được người thợ này đẽo hết. Người thợ già kia rất lấy làm hoan hỷ, nghĩ rằng: “Hay thay, hay thay! Bạn đẽo gỗ thật là vừa ý ta.” Ở đây cũng như vậy, các Tỳ-kheo mà tâm không nhu hòa, bỏ hạnh Sa-môn, ôm lòng gian ngụy, không theo pháp Sa-môn, tánh hạnh thô tháo, không biết tàm quý, mặt trơ chịu nhục mà làm hành vi thấp hèn, không có dũng mãnh, hoặc hay quên lãng nhiều, không nhớ những gì đã làm, tâm ý không định, hành động [634a01] nhầm lẫn, các căn không định; nhưng vị ấy nay được Tôn giả Xá-lợi-phất quán sát tánh hạnh mà sửa chữa.
“Có nhiều vị thiện gia nam tử, do lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo, rất cung kính giới, không bỏ pháp Sa-môn

* Trang 26 *
device

Hiền thánh, không có huyễn ngụy, không hành thô tháo, tâm ý nhu hòa, nói luôn nở nụ cười, không tổn thương ý người, tâm thường nhất định, không có thị phi, các căn không loạn; những vị ấy nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói xong, liền tự vâng lãnh, cũng không để quên sót.
“Giống như, hoặc có người nam hay người nữ nào xinh đẹp vô song, tự tắm gội, mặc y phục mới, dùng hương thoa người. Lại có người đem hoa ưu-bát đến tặng cho. Người kia được hoa, liền đội lên đầu, vui mừng hớn hở không tự chế được. Ở đây cũng lại như vậy, nếu có vị thiện gia nam tử nào, do lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo, đối với giới cung kính, không để mất pháp Sa-môn, không có huyễn ngụy, không hành thô tháo, tâm ý nhu hòa, nói luôn nở nụ cười, không tổn thương ý người, tâm thường nhất định, không có thị phi, các căn không loạn. Người ấy nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói những lời này rồi, lòng thật vui mừng không tự chế được, mà vâng lãnh lời dạy này. Như vậy, Ngài nói giáo pháp này cho các vị thiện gia nam tử.”
Các Hiền giả mỗi người sau khi nghe những gì đã được nói, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 7
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại trái này. 25Những gì là bốn? Hoặc có trái
____________________________
24 Cf. A IV 105 Ambasuttaṃ (R.ii. 106): Có bốn loại xoài (amba:

* Trang 27 *
device

sống mà tựa chín, hoặc có trái chín mà tựa sống, hoặc có trái chín mà tựa chín, hoặc có trái sống mà tựa sống. Đó là, này Tỳ-kheo thế gian có bốn loại trái này. Cũng lại như vậy, thế gian có bốnhạng người này. Thế nào là bốn? Hoặc có người sống mà giốngchín, hoặc có người chín mà giống sống, hoặc có người chínmà giống chín, hoặc có người sống mà giống sống.
“Thế nào là người sống mà giống chín? Hoặc có người qua lại,đi bước không hành thô tháo. Mắt nhìn ngó phải thuận theopháp giáo. Đắp y, mang bát cũng lại theo pháp. Bước đi, nhìnxuống đất, không liếc nhìn hai bên. Nhưng lại phạm giới,không theo chánh hạnh; thật chẳng phải sa-môn mà giống sa-nôm; không hành phạm hạnh mà tự nói hành phạm hạnh; bạihoại Chánh pháp; là loại mà rễ đã mục. Người này [634b01]gọi là sống mà giống chín.26
“Thế nào là người chín mà giống sống? Hoặc có Tỳ-kheo tánh hạnh có vẻ quê mùa, nhìn ngó không ngay, cũng không đi đúng theo pháp, hay liếc ngó hai bên. Nhưng lại tinh tấn nghe nhiều, tu hành pháp thiện, thường giữ giới luật, không mất oai nghi, thấy điều phi pháp tí ti liền ôm lòng sợ hãi. Người này gọi là chín mà giống sống.
“Thế nào là người sống mà giống sống? Hoặc có Tỳ-kheo không giữ giới cấm, không biết lễ tiết bước đi, cũng lại không biết ra vào đi lại, cũng lại không biết đắp y, mang bát, các căn thác loạn, tâm đắm trước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Người ấy phạm giới cấm, không
______________________________
am-ma-lặc).
26Pāli, ibid. “Hạng người tới lui, cúi ngước, co duỗi, v.v., thảy đều đoanchánh, nhưng không như thực biết đây là khổ, đây là tập, v.v. : sống mà cómàu sắc như trái chín.”

* Trang 28 *
device

hành Chánh pháp, không là sa-môn mà giống sa-môn, không hành phạm hạnh mà giống phạm hạnh; là người mà rễ đã mục không thể cứu chữa. Người này gọi là sống mà giống sống.
“Thế nào là người chín mà giống chín? Hoặc có Tỳ-kheo giữ gìn giới cấm, ra vào, đi bước, không mất thời tiết, nhìn ngó không mất oai nghi, lại rất tinh tấn tu hành pháp thiện, mọi oai nghi lễ tiết đều thành tựu, thấy điều phi pháp tí ti liền ôm lòng sợ hãi huống chi là to lớn. Người này gọi là chín mà giống chín.
“Này Tỳ-kheo, đó gọi là thế gian có (bốn) hạng người như bốn loại trái này. Hãy học người quả chín. Này các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hôm nay, không trung có gió lốc xoáy. Nếu như có con chimnào lại bay đến đó, như ô thước, hồng hộc, gặp gió này thì đầu,não, lông cánh, mỗi thứ mỗi nơi. Ở đây, một Tỳ-kheo cũng lạinhư vậy, bỏ giới cấm rồi sống đời bạch y. Khi ấy, sáu vật tùythân như ba y, bình bát, ống đựng kim, v.v.., thuộc mỗi thứ ởmỗi nơi, giống như gió lốc xoáy thổi chết chim kia. Cho nên,này các Tỳ-kheo, hãy tu hành phạm hạnh. Các Tỳ-kheo, hãyhọc điều này như vậy.”

* Trang 29 *
device

Sau khi nghe những gì đức Phật dạy, các Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 9
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nên biết, có bốn loại chim này. Những gì là bốn?Hoặc có chim tiếng hót hay mà hình thì xấu. Hoặc có chimhình [634c01] đẹp, mà tiếng hót thì dở. Hoặc có chim tiếng hótdở mà hình cũng xấu. Hoặc có chim hình đẹp, tiếng hót cũnghay.
“Thế nào là chim có tiếng hót hay mà hình thì xấu? Đó là chim câu-sí-la.27 Chim này tiếng hay mà hình thì xấu.
“Thế nào là chim hình đẹp mà tiếng hót dở? Đó là chim chí.28 Chim này có hình đẹp mà tiếng hót dở.
“Thế nào là chim có tiếng hót dở mà hình thì đẹp? Đó là chimcú. Chim này có tiếng hót dở hình cũng xấu.
“Lại có chim gì tiếng hót hay hình cũng đẹp? Đó là chim công.Chim này có tiếng hót hay hình cũng đẹp.
“Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn loại chim này, mà mọi người đềubiết. Ở đây cũng vậy, thế gian cũng có bốn hạng người nhưchim, mà mọi người đều biết.
___________________________
27 Câu-sí-la 拘翅羅. Chưa rõ chim gì. Skt. (Pāli): kokila, chim cuốc.
28 Chí điểu 鷙鳥; một loại diều hâu, chim dữ.

* Trang 30 *
device

“Những gì là bốn? Ở đây, hoặc có Tỳ-kheo nhan sắc đoanchánh, ra vào đi lại, đắp y mang bát, co duỗi, cúi ngước, oainghi thành tựu, nhưng lại không thể đọc tụng được những phápmà khoảng đầu thiện, giữa thiện, cuối thiện; không thể vânglãnh giáo pháp, cũng lại không thể khéo đọc tụng. Đó là ngườinày có hình đẹp mà tiếng không hay.
“Lại có những người nào mà tiếng hay nhưng hình xấu? Hoặccó Tỳ-kheo, ra vào, đi lại, co duỗi, cúi ngước, đắp y mang bát,mà không thành tựu oai nghi; nhưng hằng thích nói rộng.Người ấy lại siêng năng trì giới, nghe pháp, có khả năng biếtnhững điều học, nghe nhiều những pháp mà khoảng đầu thiện,giữa thiện, cuối thiện, nghĩa lý sâu xa, tu phạm hạnh đầy đủ.Hơn nữa, đối pháp kia, khéo thọ trì, khéo đọc tụng. Người nàygọi là có tiếng hay mà hình xấu.
“Lại có những người nào có tiếng dở mà hình cũng xấu? Hoặccó người phạm giới, không siêng năng, không nghe nhiều,những gì đã nghe liền quên. Cần phải đầy đủ phạm hạnh ởtrong pháp này, nhưng người không vâng lãnh. Người này gọilà tiếng dở mà hình cũng xấu.
“Lại có những người nào có tiếng hay, hình cũng đẹp? Hoặc cóTỳ-kheo tướng mạo đoan chánh, ra vào, đi lại, đắp y, mang bát,không nhìn ngó hai bên; rồi lại siêng năng tu hành thiện pháp,giới luật đầy đủ, thấy điều phi pháp nhỏ còn luôn ôm lòng sợhãi huống nữa là lớn, cũng lại nghe nhiều, ghi nhận không quên;lại tu hành tốt đẹp những pháp mà khoảng đầu thiện, giữa thiện,cuối thiện. Người ấy khéo thọ trì, đọc tụng pháp như vậy. Phápnhư vậy khéo đọc tụng. Người này gọi là tiếng hay thân cũng đẹp.

* Trang 31 *
device

“Đó gọi là thế gian có bốn hạng người này ở đời, mà mọingười đều biết. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học tiếng hay,hình cũng đẹp. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Sau khi nghe những gì đức Phật dạy, các Tỳ-kheo hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 10
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại mây. 29 Những gì là bốn? Hoặc có mây, sấm màkhông mưa. Hoặc có mây, mưa mà không sấm. Hoặc có mây,vừa mưa vừa sấm. Hoặc có mây cũng không mưa cũng khôngsấm. Đó gọi là bốn loại mây.
“Thế gian có bốn hạng người giống như mây. Những gì là bốnhạng người? Hoặc có Tỳ-kheo sấm mà không mưa. Hoặc cóTỳ-kheo mưa mà không sấm. Hoặc có Tỳ-kheo cũng khôngmưa cũng khộng sấm. Hoặc có Tỳ-kheo cũng mưa cũng sấm.
“Thế nào là Tỳ-kheo sấm mà không mưa? Hoặc có Tỳ-kheolớn tiếng tập tụng Khế kinh, Kỳ dạ, Thọ quyết, Kệ, Bổn mạt,Nhân duyên, Dĩ thuyết, Sanh kinh, Tụng, Phương đẳng, Vịtằng hữu pháp, Thí dụ; những pháp như vậy khéo đọc tụng,không mất nghĩa nó, nhưng không rộng nói pháp cho ngườikhác. Người này gọi là sấm mà
________________________________
29 Cf. A IV 102 Dutiyavalāhakasuttaṃ (R.ii. 103)

* Trang 32 *
device

không mưa.30
“Thế nào là Tỳ-kheo mưa mà không sấm? Hoặc có Tỳ-kheo cótướng mạo đoan chánh, oai nghi ra vào, đi lại, tới dừng đều biếttất cả, tu tất cả pháp thiện không mảy may để mất; song khôngnghe nhiều, cũng không lớn tiếng đọc tụng, lại không tu hànhKhế kinh, Kỳ dạ, Thọ quyết, Kệ, Bổn mạt, Nhân duyên, Thí dụ,Sanh kinh, Phương đẳng, Vị tằng hữu pháp, song theo ngườikhác vâng lãnh cũng không quên mất, thích cùng theo với thiệntri thức. Nhưng cũng thích nói pháp cho người khác. Người này gọi là mưa mà không sấm.31
“Thế nào là Tỳ-kheo cũng không mưa cũng lại không sấm?Hoặc có người tướng mạo không đoan chánh, oai nghi ra vào,đi lại, tiến dừng tất cả đều thiếu sót, không tu các pháp thiện,mà lại không nghe nhiều, cũng không lớn tiếng đọc tụng, lạikhông tu hành Khế kinh cho đến Phương đẳng, cũng lại khôngvì người khác nói pháp. Người này gọi là cũng không mưacũng không sấm.
“Thế nào là Tỳ-kheo cũng mưa cũng sấm? Hoặc có ngườitướng mạo đoan chánh, oai nghi ra vào, đi lại, tiến dừng biết rõtất cả, ưa thích học vấn, những gì đã nhận không quên, cũngthích nói pháp cho người khác. Khuyến khích người khác khiếnhọ vâng lãnh. Người này gọi là cũng sấm cũng mưa.
“Tỳ-kheo, đó gọi là thế gian có bốn hạng người này. Cho
_______________________
30 Pāli, ibid. “Thông suốt Khế kinh (sutta), Ứng tụng (geyya), v.v., nhưngkhông như thực biết đây là khổ, đây là tập, v.v.: sấm mà không mưa”
31 Pāli, ibid., “Không thông suốt Khế kinh, Ứng tụng, v.v., nhưng như thựcbiết đây là khổ, đây là tập, v.v.: mưa mà không sấm.”

* Trang 33 *
device

[635b01]nên, Tỳ-kheo hãy học điều này.”
Sau khi nghe những gì đức Phật dạy, các Tỳ-kheo hoan hỷphụng hành.
Kệ tóm tắt:
Đế, nhiêu ích, A-nan,
Gánh nặng, bốn sanh, kết;
Bốn quả, gió lốc xoáy,
Bốn chim, sấm sau cùng.32
_____________________
32 Bản Hán, hết quyển 17

* Trang 34 *
device

 
Tăng Nhất A- Hàm Tập 2