LOGO VNBET
35. PHẨM TÀ TỤ
 
KINH SỐ 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có người ở trong tụ tà kiến, người ấy có hình dáng như thế nào? Mặt mũi như thế nào?
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
“Như Lai là Vua các pháp, là chí tôn các pháp. Lành thay, ThếTôn, hãy vì các Tỳ-kheo mà nói nghĩa này. Chúng con sau khinghe xong sẽ phụng hành.”
Thế Tôn bảo:
“Các ngươi hãy suy nghĩ kỹ. Ta sẽ vì các ngươi phân biệt nghĩanày.”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy.
Thế Tôn bảo:
“Người ở trong tụ tà cần được nhận biết bằng năm sự. Do thấy năm sự mà biết người này sống trong tụ tà. Sao gọi là năm? Nên cười mà không cười, lúc nên hoan hỷ mà không hoan hỷ, nên khởi lòng từ mà không khởi lòng từ, làm ác mà không hỗ, nghe lời thiện của người mà không để ý. Nên biết người này ắt ở trong nhóm tà. Nếu chúng sanh nào ở trong nhóm tà, người ấy cần được nhận biết bằng năm sự này biết.

* Trang 370 *
device

“Lại nữa, nếu chúng sanh nào ở trong nhóm chánh, người ấy có tướng mạo như thế nào? Có nhân duyên gì?”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Như Lai là Vua các pháp, là chí tôn các pháp. Cúi xin ThếTôn hãy vì các Tỳ-kheo mà nói nghĩa này. Chúng con sau khinghe xong sẽ phụng hành.”
Thế Tôn bảo:
“Các ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì các ngươi phân biệtnghĩa này.”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng theo lời Phật dạy.
Thế Tôn bảo:
“Người ở trong tụ chánh cần được nhận biết bằng năm sự. Do thấy năm sự mà biết người này đang ở trong tụ chánh. Sao gọi là năm? Nên cười thì cười, nên hoan hỷ thì hoan hỷ, nên khởi lòng từ thì khởi lòng từ, đáng hỗ thì hỗ, nghe lời thiện liền chú ý. Nên biết người này đã ở trong tụ chánh. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy nên bỏ tụ tà, ở trong tụ chánh.
[699a01] “Các Tỳ-kheo. hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 2
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây

* Trang 371 *
device

Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như Lai xuất hiện ở đời tất sẽ vì năm việc. Sao gọi là năm? Một sẽ chuyển Pháp luân, hai sẽ độ cha mẹ, ba người không tin kiến lập lòng tin, bốn là người chưa phát ý Bồ-tát khiến phát tâm Bồ-tát, năm sẽ thọ ký cho Phật tương lai. Nếu Như Lai xuất hiện ở đời thì sẽ làm năm việc này. Cho nên, các Tỳ-kheo hãy khởi tâm từ đối với Như Lai.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 3
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm sự vật mà huệ thí không được phước kia. Sao gọi là năm? Một lấy đao thí cho người, hai lấy độc thí cho người, ba đem bò hoang thí cho người, bốn dâm nữ thí cho người, năm tạo miếu thờ thần. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là có năm sự bố thí này không có phước.
“Các Tỳ-kheo nên biết, lại có năm sự vật mà huệ thí được phước lớn. Sao gọi là năm? Một tạo lập công viên, hai trồng rừng cây, ba bắc cầu đò, bốn tạo làm thuyền lớn, tạo lập dựng nhà cửa, nơi ở cho quá khứ và tương lai. Này các tỳ kheo, đó gọi là có năm sự vật khiến được phước đức kia.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:

* Trang 372 *
device

Vườn cảnh, cho mát mẻ;
Và xây dựng cầu đò
Giúp người vượt qua sông;
Còn xây phòng ốc tốt:
Người kia trong đêm ngày
Sẽ thường hưởng phước ấy.
Giới, định đã thành tựu,
Người này ắt sanh thiên.1
“Cho nên, các Tỳ-kheo hãy niệm tu hành năm sự huệ thí này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 4
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người nữ có năm sức mạnh xem thường chồng. Những gì là năm? Một sức mạnh của sắc đẹp, hai sức mạnh của dòng họ, ba sức mạnh của ruộng vườn, bốn sức mạnh của con cái, năm sức mạnh của tiết hạnh. Đó là năm sức mạnh của người nữ.
“Tỳ-kheo nên biết, người nữ dựa vào năm sức mạnh này mà xem thường chồng. Nếu chồng lại có một sức mạnh thì sẽ phủ lấp hết người nữ kia. Một sức mạnh ấy là gì?
_____________________
1 Như bài kệ trong kinh 11 phẩm 19, với một ít chi tiết bất đồng.

* Trang 373 *
device

Đó là sức mạnh của giàu sang. Phàm là người giàu sang thì sức mạnh của sắc không sánh bằng; dòng họ, ruộng vườn, con cái, tiết hạnh cũng không bằng. Do một sức lực mà thắng ngần ấy sức mạnh.
“Nay tệ ma Ba-tuần cũng có năm sức mạnh. Những gì là năm?Đó là sức mạnh sắc, sức mạnh thanh, sức mạnh hương, sức mạnh vị, sức mạnh xúc2 . Phàm người ngu si đắm các pháp sắc,thanh, hương, vị, xúc nên không thể vượt qua cảnh giới Ma Batuần. Thánh đệ tử thành tựu một sức mạnh thì có thể thắngngần ấy sức mạnh. Một sức mạnh ấy là gì? Đó là sức mạnhkhông phóng dật. Nếu Hiền Thánh đệ tử thành tựu khôngphóng dật, không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc câu thúc. Dokhông bị năm dục trói buộc nên có khả năng phân biệt phápsanh, già, bệnh, chết, thắng được năm sức mạnh của Ma, khôngrơi vào cảnh giới Ma, vượt khỏi các nạn sợ hãi, đến chỗ vô vi.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Giới, đường đến cam lồ,
Phóng dật, dẫn lối chết.
Không tham thì không chết
Mất đường là tự mất.3
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy niệm tưởng tu hành không phóng dật.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
____________________
2 Nguyên Hán: tế hoạt
3 Bài kệ dẫn trên, xe kinh 2 phẩm 10, cht. 4.

* Trang 374 *
device

KINH SỐ 5
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người nữ có năm tưởng dục. Những gì là năm? Một sanh trong nhà hào quý, hai được gả vào nhà giàu sang, ba chồng của ta làm theo lời, bốn là có nhiều con cái, năm là độc quyền trong nhà do mình. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là người nữ có năm sự đáng tưởng muốn này.
“Cũng vậy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo của Ta cũng có năm sự đáng tưởng muốn. Sao gọi là năm? Đó là cấm giới, đa văn, thành tựu tam-muội, trí huệ, trí huệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là có [699c01] năm sự này là pháp đáng muốn.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Nguyện sanh dòng hào tộc;
Cũng gặp nhà giàu sang;
Có thể sai khiến chồng;
Chẳng phước không khắc được.
Khiến ta nhiều con cái;
Hương hoa tự trang sức;
Tuy có tưởng niệm này,
Chẳng phước không khắc được.
 
Tín giới mà thành tựu;
Tam-muội không lay động,
Trí huệ cũng thành tựu:
Biếng nhác, không đạt được.
 
Muốn chứng đắc đạo quả.

* Trang 375 *
device

Không dạo vực sanh tử;
Mong muốn đến Niết-bàn;
Biếng nhác, không đạt được.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện hành nơipháp thiện, trừ bỏ pháp bất thiện, dần dần tiến về trước, khôngcó thối ý nữa chừng.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 6
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm trường hợp không nên lễ người. Những gì là năm?Người ở trong tháp, không nên lễ. Người ở trong đại chúng,không nên lễ. Người ở giữa đường, không nên lễ. Người đangốm đau nằm trên giường, không nên lễ. Người đang ăn, khôngnên lễ. Này Tỳ-kheo, đó gọi là có năm trường hợp này không lễngười.
“Lại có năm trường hợp biết đúng thời nên lễ. Những gì là năm?Đó là không ở trong tháp, không ở trong đại chúng, không ởgiữa đường, không đau bịnh, lại chẳng phải đang ăn uống, đâynên hướng về lễ. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầuphương tiện đúng thời mà hành.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 376 *
device

KINH SỐ 7
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở tại Ca-lan-đàtrong vườn Trúc, thành La-duyệt. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Ưu-đầu-bàn4 :
“Ông hãy vào thành La-duyệt xin cho Ta một ít nước nóng. Vì sao vậy? Vì như Ta hôm nay đang trúng gió5 đau cột sống.”
Ưu-đầu-bàn bạch Phật:
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Ưu-đầu-bàn vâng lời Phật dạy, đến giờ khất thực, đắp y, mang bát, vào thành La-duyệt xin nước nóng. Tôn giả Ưu-đầu-bàn [700a01] nghĩ như vầy: ‘Thế Tôn có nhân duyên gì sai ta xin nước nóng? Như Lai đã dứt sạch các kết sử, tập hợp các điều lành, vậy mà Như Lai lại nói rằng: Nay Ta bị trúng gió. Hơn nữa, Thế Tôn lại không cho biết danh tánh nên đến nhà ai.’
Rồi Tôn giả Ưu-đầu-bàn dùng thiên nhãn quán sát các người nam ở thành La-duyệt, thấy tất cả đều đáng được độ. Lúc ấy, thấy trong thành La-duyệt có gia chủ Tỳ-xá-
________________________
4 Ưu-đầu-bàn 優頭槃. Có thể đồng nhất với Pāli: Upavāṇa, có thời làm thị giả Phật. Truyện xin nước nóng được kể trong ThagA. (R.ii. 56)
5 Tích hoạn phong thống 脊患風痛. Pāli: vātabādhiko, bịnh bởi gió, được giải thích là: vātakkhobhanimittaṃ ābādhiko jāto, bịnh phát sinh do triệu chứng rối loạn của gió. Không rõ bịnh gì. (ThagA. R. ii. 57). Có lẽ, Skt. vātavyādhi, chứng bịnh rối loạn hệ thần kinh. Trong y học cổ truyền Ấn độ, vāta hay gió chủ hệ thần kinh.

* Trang 377 *
device

la6 trước đây không trồng căn lành, không có giới, không có tín, tà kiến đối với Phật, Pháp, Tăng, và biên kiến cùng tương ưng. Ông thấy như vầy: ‘Không có bố thí, không có cho, không có người nhận, lại cũng không có quả báo thiện ác; không có đời này, không đời sau, không có cha, không có mẹ; đời không có Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu, ở đời này, đời sau, tự thân tác chứng, mà tự du hóa.’ Tuổi thọ rất ngắn; sau năm ngày nữa ông sẽ chết. Ông lại đang thờ Ngũ đạo đại thần7.
Ưu-đầu-bàn nghĩ thầm: ‘Chắc là Như Lai muốn độ gia chủ này. Vì sao vậy? Vì gia chủ này sau khi qua đời sẽ sanh vào trong địa ngục Đề khốc8 .’ Lúc ấy, Ưu-đầu-bàn liền mỉm cười. Ngũ đạo đại thần từ xa nhìn thấy tôn giả mỉm cười, liền ẩn hình mình, hóa ra hình người, đi đến chỗ Ưu-đầu-bàn để Ngài sai khiến. Tôn giả Ưu-đầu-bàn dẫn sứ giả này đến đứng ngoài cửa nhà gia chủ, đứng im lặng không nói gì cả.
Lúc ấy, gia chủ từ xa nhìn thấy có đạo nhân đứng ở ngoài cửa, lập tức nói kệ này:
Nay người đứng im lặng,
Cạo đầu đắp cà sa
__________________________
6 Tỳ-xá-la 毘舍羅. Pāli, Vedeha. Thag A. R.ii., Upavāṇa đến xin nước nóng nơi nhà Devahita, trong thành Xá-vệ.
7 Ngũ đạo đại thần . Thái tử thụy ứng bản khởi 1 T3 tr.475: “Thái tử lên ngựa, dẫn theo Xa-nặc, đi tới khoảng vào mươi dặm bỗng gặp đại thần chủ quản ngũ đạo tên là Phần (hay Bí?) Chức  (Skt. Pingese?) ở ngã rẽ của ba đạo: Thiên đạo, nhân đạo và ba ác đạo.” Tín ngưỡng thờ Ngũ đạo thần khá phổ biến ở Trung Quốc, nhưng hiếm thấy trong các kinh điển Phật giáo.
8 Đề khốc địa ngục 啼哭地獄. Trường19, kinh Thế ký: địa ngục Khiếu hoán 叫喚. Pāli: Jālaroruva (Skt. Raurava).

* Trang 378 *
device

Vì muốn xin những gì?
Do nhân gì đến đây?
Ưu-đầu-bàn liền nói kệ này đáp:
Như Lai bậc Vô trước,
Hôm nay sanh bệnh phong.
Nếu ngài có nước nóng,
Như Lai muốn tắm rửa.9
Khi ấy, gia chủ im lặng không đáp. Đại thần Ngũ đạo bảovới Tỳ-xá-la:
“Gia chủ nên đem nước sôi cúng dường, tất sẽ được phướcvô lượng, sẽ được báo cam lộ.”
Gia chủ đáp:
“Ta tự có đại thần Ngũ đạo, cần gì đến Sa-môn này? Ông thêmđược việc gì?”
Lúc ấy, đại thần Ngũ đạo liền nói kệ này:
Như Lai đang ở đời
Thiên Đế cũng xuống hầu.
[700b01] Còn ai vượt lên trên?
Ai có thể ngang hàng?
Thần Ngũ đạo làm gì?
Không giúp được gì cả.
Nên cúng dường Thế Tôn,
Để được quả báo lớn.
Lúc ấy, đại thần Ngũ đậi lại nói lần nữa gia chủ:
“Ông hãy khéo tự thủ hộ các hành vi của thân, miệng, ý hành.Ông không biết oai lực của đại thần Ngũ đạo sao?”
___________________________
9 Bài kệ Pāli tương đương, ThagA. R.ii. 57.

* Trang 379 *
device

Đại thần Ngũ đạo liền hóa ra hình quỷ thần lớn, tay phải cầmkiếm, nói với gia chủ:
“Nay ta chính là đại thần Ngũ đạo. Hãy nhanh chóng cho Sa-môn này nước nóng. Chớ có chần chờ.”
Lúc ấy, gia chủ nghĩ thầm: ‘Thật là kỳ lạ! Đại thần Ngũ đạocòn cúng dường Sa-môn này.’ Lập tức ông đem nước nóngthơm trao cho đạo nhân. Lại lấy mật mía trao cho Sa-môn.
Đại thần Ngũ đạo tự tay cầm nước nóng thơm này, cùng Ưu-đầu-bàn đến chỗ Thế Tôn rồi dâng nước nóng thơm này lên Như Lai. Bấy giờ, Như Lai dùng nước nóng thơm này tắm gội thân thể, bệnh phong lập tức thuyên giảm không còn tăng trưởng nữa.
Ông gia chủ, sau năm ngày qua đời, sanh lên cõi trời Tứ thiên vương. Khi Tôn giả Ưu-đầu-bàn nghe gia chủ qua đời, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Ưu-đầu-bàn bạch Như Lai:
“Gia chủ này chết sanh về chốn nào?”
Thế Tôn bảo:
“Gia chủ này chết sanh lên trời Tứ thiên vương.”
Ưu-đầu-bàn bạch Phật:
“Gia chủ này, mạng chung ở đó, sẽ sanh về đâu?”
Thế Tôn đáp:
“Ở đó mạng chung, sẽ sanh cõi trời Tứ thiên vương, trời Tam thập tam, cho đến trời Tha hóa tự tại. Ở đó mạng chung, lại sanh vào cõi trời Tứ thiên vương. Gia chủ này thân trong sáu mươi kiếp, không đọa vào đường ác, cuối cùng được làm người, cạo bỏ râu tóc, đắp ba pháp y, xuất

* Trang 380 *
device

học đạo, thành Bích-chi-phật. Vì sao vậy? Vì nhờ đức cúng dường nước nóng thơm mà phước kia mới như vậy. Cho nên, Ưu-đầu-bàn, hãy thường niệm việc tắm chúng Tăng, nghe thuyết đạo giáo.
“Ưu-đầu-bàn, hãy học điều như vậy.”
Tôn giả Ưu-đầu-bàn sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, có Tỳ-kheo không thích tu phạm hạnh, muốn xả giới cấm, trở về làm bạch y. Khi ấy, Tỳ-kheo kia đến chỗ Thế Tôn, [700c01] đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ, Tỳ-kheo kia bạch Thế Tôn:
“Nay con không thích tu hành trong phạm hạnh này. Con muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y.”
Thế Tôn bảo:
“Nay ngươi vì sao ông không thích tu phạm hạnh, muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y?”
Tỳ-kheo đáp:
“Nay tâm ý con hừng hực, trong thân bừng lửa. Nếu khi con thấy người nữ xinh đẹp vô song, bấy giờ con nghĩ thầm: ‘Mong sao người nữ này cùng ta giao hội nhau.’ Rồi con lại nghĩ: ‘Đây chẳng phải Chánh pháp. Nếu ta theo tâm này thì chẳng phải chánh lý.’ Bấy giờ, con lại

* Trang 381 *
device

nghĩ thầm: ‘Đây là mục đích xấu, chẳng phải là mục đích tốt.10 Đây là pháp ác chẳng phải là pháp thiện.’ Nay con muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y. Giới cấm của Sa-môn thật sự không thể phạm. Ở trong thế tục, con có thể bố thí vật thực11 .”
Thế Tôn bảo:
“Phàm người nữ có năm điều bất thiện. Những gì là năm? Một là bất thiện bởi ô uế, hai là nói hai lưỡi, ba là ganh ghét, bốn là sân nhuế, năm là không biết báo đáp.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Buồn vui12 vì của cải,
Ngoài thiện trong lòng ác;
Phá nẻo thiện của người;
Chim ưng bỏ13 đầm nhơ.
“Cho nên, Tỳ-kheo hãy từ bỏ tưởng tịnh, tư duy quán bất tịnh.14Sau khi tư duy quán bất tịnh, Tỳ-kheo sẽ đoạn tận dục ái, sắc áivà vô sắc ái; đoạn tận vô minh, kiêu mạn. Nay, Tỳ-kheo, dụccủa ngươi từ đâu sanh? Từ tóc sanh? Nhưng tóc hiện nhơkhông sạch, đều do huyễn hóa, lừa gạt người đời. Móng,răng … thuộc về thân thể đều là không sạch. Cái gì là chân, cái nào là thật? Từ đầu đến chân, thảy đều như vậy. Những vật hữu hình như gan, mật, năm tạng, không một vật đáng ham. Cái gì là chân?
____________________
10 Hán: ác lợi và thiện lợi 惡利善利.
11 Nguyên Hán: phân-đàn bố thí 分檀布施. (Pāli: piṇḍa-dāyaka). Xem cht. 46, kinh 1 phẩm 29.
12 Để bản:  phi hỉ ; TNM:  bi hỉ.
13 Để bản :  ô trì; các bản khác:  vu địa, ‘như chim ưng rời mặt đất.’
14 Bản Hán: trừ tưởng bất tịnh, quán tịnh.

* Trang 382 *
device

Nay, Tỳ-kheo, dục của ngươi từ đâu sanh? Nay ngươi khéo tu phạm hạnh, Chánh pháp của Như Lai, tất sẽ hết khổ. Mạng người rất ngắn, không lâu ở đời. Tuy có rất thọ, không qua trăm tuổi.
“Tỳ-kheo nên biết, Như Lai xuất thế, rất là khó. Được gặp, nghe pháp cũng khó. Thọ nhận thân hình tứ đại cũng lại việc khó được. Các căn đầy đủ cũng lại khó được. Được sanh vào chốn trung ương, cũng lại khó gặp. Gặp gỡ thiện tri thức, cũng lại khó được. Nghe pháp cũng khó, phân biệt nghĩa lý cũng lại khó được. Thành tựu pháp tùy pháp, việc này cũng khó. Nay, Tỳ-kheo, ngươi nếu [701a01] thân cận thiện tri thức, thì có thể phân biệt các pháp, cũng có thể giảng rộng nghĩa này cho người khác. Nếu đã nghe pháp thì có thể phân biệt. Đã phân biệt pháp rồi thì có thể giảng nói nghĩa của nó. Không có tưởng dục, tưởng sân nhuế, tưởng ngu si; đã lìa ba độc nên thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Nay ta đã nói sơ nghĩa ấy.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia nhận lãnh lời dạy từ Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Thế Tôn rồi lui ra.
Tỳ-kheo kia ở nơi vắng vẻ, tư duy về pháp này, sở dĩ mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, là muốn tu phạm hạnh vô thượng, cho đến, như thật biết rằng, Sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa, biết như thật. Tỳ-kheo kia thành A-la-hán.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 9
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở tại Ca-lan-đà, trong vườn Trúc,

* Trang 383 *
device

thành La-duyệt, cùng với đại chúng năm trăm tỳ kheo. Bấy giờ, A-nan và Đa-kỳ-xa,15đúng giờ, đắp y, cầm bát, vào thành khất thực.Lúc ấy, Đa-kỳ-xa ở trong một ngõ hẻm, thấy một người nữ hếtsức xinh đẹp hiếm có kỳ đặc ở đời. Thấy rồi, tâm ý tán lọan, không còn bình thường.16
Lúc ấy, Đa-kỳ-xa liền dùng kệ này nói cho A-nan:
Bị lửa dục thiêu đốt,
Tâm ý thật cháy bừng.
Xin nói nghĩa diệt nó,
Để được nhiều lợi ích.
A-nan liền nói kệ này đáp:
Biết dục, pháp điên đảo;
Tâm ý thật cháy bừng.
Hãy trừ niệm hình tướng,
Ý dục liền tự dừng.
Đa-kỳ-xa lại nói kệ đáp:
Tâm là gốc của thân;
Mắt là nguồn thấy đẹp.
Nằm ngủ thấy đỡ nâng,
Thân như cỏ rối úa.
Tôn giả A-nan liền tiến đến, dùng tay phải xoa đầu Đa-kỳ-xamà nói kệ này:
Niệm Phật, không tham dục.
Nan-đà vượt dục kia
Thấy trời, hiện địa ngục.17
________________________
15 Xem kinh 5 phẩm 32.
16 Cf. S. 8. 1 (R.i. 185). Tạp (Việt), kinh 1115.
17 Xem kinh 7 phẩm 18.

* Trang 384 *
device

Ngăn ý, lìa năm đường.
[701b01] Đa-kỳ-xa sau khi nghe Tôn giả A-nan nói, liền tự nói:
“Thôi, thôi, A-nan! Hãy cùng khất thực xong trở về chỗ Thế Tôn.”
Khi ấy, người nữ kia từ xa trông thấy Đa-kỳ-xa, cô liền cười. Đa-kỳ-xa khi từ xa thấy người nữ cười, liền phát sanh niệm tưởng này: ‘Cô nay, với hình thể được dựng đứng bởi xương, được quấn chặt bởi da, cũng như cái bình vẽ, bên trong đựng đồ bất tịnh, lừa dối người đời, khiến sinh loạn tưởng.’
Bấy giờ, Tôn giả Đa-kỳ-xa quán sát người nữ kia từ đầu đến chân, trong thân thể này không cái gì đáng ham, ba mươi sáu vật thảy đều bất tịnh. Nay những vật này là từ đâu sinh? Rồi Tôn giả Đa-kỳ-xa lại nghĩ: ‘Nay ta quán sát thân khác, không bằng tự quán sát trong thân mình. Dục này từ đâu sanh? Từ đất sanh chăng? Từ nước, lửa, gió sanh chăng? Nếu từ đất sanh; đất cứng chắc, không thể bị hư hoại. Nếu từ nước sinh, nước rất mềm, không thể bắt giữ. Nếu từ lửa sanh; lửa18 cũng không thể bị nắm bắt. Nếu từ gió sanh; gió không có hình, không thể nắm bắt.’ Tôn giả lại nghĩ: ‘Tham dục này chỉ có từ tư tưởng sanh.’
Rồi Tôn giả nói kệ này:
Dục, ta biết gốc ngươi:
Ngươi từ tư tưởng sinh.
Nếu ta không tưởng ngươi,
_________________________
18 Chú thích trong để bản: đây có thể còn thiếu hai chữ, nhưng chưa rõ.

* Trang 385 *
device

Ngươi sẽ không hiện hữu.
Khi Tôn giả Đa-kỳ-xa nói bài kệ này, như tư duy về tưởng bất tịnh, ngay tại chỗ, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu.
Lúc ấy, A-nan và Đa-kỳ-xa ra khỏi thành La-duyệt, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Đa-kỳ-xa bạch Thế Tôn:
“Nay con đã được lợi thiện, vì có chỗ giác ngộ.”
Thế Tôn hỏi:
“Nay ngươi tự giác thế nào?”
Đa-kỳ-xa bạch Phật:
“Sắc không bền vững, cũng không chắc chắn, không thể trông thấy, huyễn ngụy, không thật; thọ19 không bền vững, cũng không lõi chắc, cũng như đám bọt trên mặt nước, huyễn ngụy, không thật. Tưởng không bền vững, cũng không lõi chắc, huyễn ngụy, không thật, cũng như quáng nắng. Hành không bền vững, cũng không lõi chắc, giống như thân cây chuối, không có thật. Thức không bền vững, cũng không lõi chắc, huyễn ngụy, không thật.”
Tôn giả lại bạch Phật thêm:
Năm thủ uẩn này không bền vững, cũng không lõi chắc, huyễn ngụy không thật.”
Bấy giờ Tôn giả Đa-kỳ-xa liền nói kệ này:
[701c01] Sắc như chùm bọt nổi;
Thọ như bong bóng nước;
Tưởng giống như quáng nắng;
Hành như thân cây chuối;
______________________
19 Nguyên bản: Thống

* Trang 386 *
device

Thức là pháp huyễn hóa:
Đấng Tối Thắng nói vậy.
 
Tư duy điều này xong,
Quán sát hết các hành,
Thảy trống không, vắng lặng;
Không có gì chân chánh,
Đều là do thân này:
Đức Thiện Thệ dạy vây.20
 
Cần phải diệt ba pháp.
Thấy sắc là bất tịnh,
Thân này là như vậy,
Huyễn ngụy không chân thật,
Đó là pháp hư hại.
Năm uẩn không bền chắc,
Đã biết là không thật,
Trở về đạo tối thượng.
“Như vậy, Thế Tôn, đó là những gì mà con đã tỏ ngộ.”
Thế Tôn bảo:
“Lành thay, Đa-kỳ-xa! Ông khéo hay quán sát gốc năm thủ uẩnnày. Nay ngươi nên biết, phàm là hành giả thì phải quán sátgốc năm uẩn này đều không chắc thật. Vì sao vậy? Khi Tađang quán sát năm thủ uẩn này ở dưới bóng cây Bồ-đề màthành Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, cũng như những gì hôm nay ngươi quán.”
Khi Thế Tôn nói bài pháp này, sáu mươi Tỳ-kheo ngay trênchỗ ngồi mà được lậu tận, tâm giải thoát.
Tôn giả Đa-kỳ-xa sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
__________________
20 Xem Tạp 10 (Hán) kinh số 265. Như sách, S.22.95 (R.iii.142)

* Trang 387 *
device

KINH SỐ 10
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tăng-ca-ma,21 con một gia chủ, đến chỗ Thế Tônđảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Rồi con gia chủ bạchPhật:
“Cúi xin Thế Tôn cho phép con được hành đạo.”
Bấy giờ, con gia chủ liền được hành đạo, ở nơi vắng vẻ, nỗlực tu hành thành tựu quả pháp. Sở dĩ thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, là như thật biết rằng, Sinh tử đã dứt,phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn táisanh đời sau. Bấy giờ, Tăng-ca-ma thành A-la-hán.
Khi Tôn giả ở nơi nhàn tịnh, suy nghĩ như vầy: ‘Như Lai xuấthiện ở đời, rất là khó gặp. Đa-tát-a-kiệt thật lâu mới xuất hiện,cũng như hoa ưu-đàm thật lâu mới xuất hiện. Ở đây cũng vậy,Như Lai xuất hiện ở đời, thật lâu mới có. Tất cả hành diệt, cũngkhó gặp. Xuất yếu cũng khó. Ái tận, vô dục, Niết-bàn, điều nàymới là vi diệu22 .
Bấy giờ, mẹ vợ Tăng-ca-ma nghe con rễ mình làm đạo nhân,không còn đắm dục, bỏ phiền lụy gia đình, lại bỏ con gái bànhư vất bỏ đám nước dãi. Lúc ấy, người mẹ này đến chỗ co ngái, nói với cô:
“Có thật chồng con hành đạo sao?”
[702a01] Con gái bà đáp:
__________________________
21 Tăng-ca-ma 僧迦摩. Có thể đồng nhất với Saṅgāmaji, Udāna 8.
22 Để bản: vi yếu 為要. TNM: vi diệu.

* Trang 388 *
device

“Con cũng không rõ là có hành đạo hay không.”
Người mẹ bảo:
“Nay con hãy tự trang điểm, mặc quần áo đẹp, ẩm con trai, congái này, đi đến chỗ Tăng-ca-ma.”
Khi ấy Tôn giả Tăng-ca-ma đang ngồi kiết già dưới bóng mộtgốc cây, vợ và mẹ vợ, hai người đến đứng im trước mặt.
Trong lúc đó, người mẹ và cô con gái quan sát Tăng-ca-ma từđầu đến chân, rồi nói với Tăng-ca-ma:
“Vì sao hôm nay anh không nói chuyện với con gái tôi? Đâycon cái này do anh sanh. Việc anh đang làm thật là phi lý,không ai chấp nhận.”
Tôn giả Tăng-ca-ma liền nói kệ này:
Đây không gì tốt hơn;
Đây không gì đẹp hơn;
Đây không gì đúng hơn;
Thiện niệm không hơn đây.
Khi ấy, mẹ vợ bảo Tăng-ca-ma:
“Nay con gái tôi có tội gì? Có điều gì phi pháp? Tại sao nay bỏnó xuất gia học đạo?”
Lúc ấy, Tăng-ca-ma nói kệ này:
Ô uế, bất tịnh hạnh;
Sân hận, thích vọng ngữ;
Tâm ghanh ghét, bất chánh;
Như Lai đã nói vậy.
Lúc ấy, người mẹ nói với Tăng-ca-ma:
“Chẳng phải một mình con gái ta có chuyện này, mà hết thảyngười nữ đều như vậy. Nhân dân trong thành Xá-vệ,

* Trang 389 *
device

ai thấy con gái ta thảy đều trở nên loạn tâm ý, muốn cùng giao hội,như khát muốn uống, nhìn không biết chán, thảy đều khởi tưởng đắm đuối. Vì sao nay anh lại bỏ nó học đạo, rồi lại còn chê bai? Nếu ngày hôm nay anh không cần con gái tôi thì thôi, nhưng những đứa con này do anh đã sinh ra nay trả lại anh.Hãy tự mà lo lấy.”
Lúc ấy, Tăng-ca-ma lại nói kệ này:
Tôi không con trai, gái,
Ruộng vườn và của báu;
Cũng không có nô tỳ,
Quyến thuộc và tùy tùng.
 
Một mình, không bè bạn
Thích ở nơi vắng vẻ,
Thực hành pháp Sa-môn,
Cầu Phật đạo chân chánh.
 
Ai có con trai, gái,
Là sở hành người ngu
Ta, thân thường vô ngã,
Há có con cái sao?
Lúc ấy, người vợ, mẹ vợ, con cái nghe bài kệ ấy xong, mọi người đều nghĩ: ‘Như ta quán sát hôm nay, theo ý này thì chắc chắn không trở về nhà.’ Họ lại quan sát từ đầu đến chân, ta thán thở dài, rồi quỳ xuống trước Tôn giả mà nói: ‘Nếu thân miệng ý chúng tôi có gây điều gì phi pháp, xin tha thứ tất cả cho.’ Rồi họ nhiễu quanh ba vòng, và ra khỏi chỗ đó.
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nan, đến giờ, đắp y, cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Từ xa trông thấy người mẹ và cô con gái, bè nhỏi:
“Lúc nãy đã gặp Tăng-ca-ma chưa?”

* Trang 390 *
device

Lão mẫu kia đáp:
“Tuy gặp, nhưng cũng như không gặp.”
A-nan hỏi:
“Có cùng nói chuyện không?”
Lão mẫu đáp:
“Tuy cùng nói chuyện, nhưng không vừa ý tôi.”
Lúc ấy, Tôn giả A-nan liền nói kệ này:
Muốn cho lửa sanh nước;
Lại khiến nước sanh lửa;
Pháp không, muốn thành có;
Vô dục, muốn cho dục.
Sau khi khất thực xong, Tôn giả A-nan trở về vườn Cấp CôĐộc, rừng cây Kỳ-đà, đến chỗ Tăng-ca-ma, ngồi qua một bên,nói với Tăng-ca-ma:
“Ngài đã biết pháp như thật rồi phải không?”
Tăng-ca-ma đáp:
“Tôi đã hiểu biết pháp chân thật”
A-nan hỏi:
“Hiểu biết pháp chân thật như thế nào?”
Tăng-ca-ma đáp:
“Sắc là vô thường, nghĩa vô thường này tức là khổ. Khổ tức là vô ngã, vô ngã tức là không. Thọ, tưởng, hành, thức thảy đều vô thường. Nghĩa vô thường này tức khổ. Khổ tức vô ngã, vô ngã tức không. Năm thủ uẩn này là nghĩa vô thường. Nghĩa vô thường tức là khổ. Ta không phải của cái đó. Cái đó không phải của ta.”

* Trang 391 *
device

Rồi Tăng-ca-ma nói kệ này:
Khổ khổ lại sanh nhau,
Vượt khổ cũng như vậy.
Đạo Hiền thánh tám phẩm,
Dẫn đến nơi diệt khổ.
Không tái sinh sanh nơi này;23
Qua lại các cõi trời,
18 Không tái sinh Dục giới.
Dứt sạch nguồn gốc khổ.24
Tịch tĩnh, không di động;
Tôi thấy đạo tích không,25
Như điều Phật đã dạy;
Nay đắc A-la-hán,
Không còn thọ bào thai.
[702c01] Khi ấy Tôn giả A-nan khen ngợi:
“Lành thay, pháp như thật đã được khéo léo quyết trạch.”
Rồi A-nan liền nói kệ này:
Khéo giữ lối phạm hạnh;
Cũng hay khéo tu đạo;
Đoạn trừ các kết sử;
Là chân đệ tử Phật.
A-nan nói kệ này xong, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, đến chỗThế Tôn, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên. Lúc ấy, A-nanđem nhân duyên này bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Bấy giờ, ThếTôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nói về dục bình đẳng trong các A-la-hán, phải nói
 
_________________________
23 Không tái sinh Dục giới.
24 A-na-hàm nhập niết-bàn trên Tịnh cư thiên.
25 Không tích 空跡; con đường dẫn đến Không (Pāli: suññatā) tức Niết-bàn. Cf. M. 121 Mahāsuññatasutta (R. iii. 111).

* Trang 392 *
device

chính Tỳ-kheo Tăng-ca-ma. Hay hàng phục Ma, quyến thuộc Ma, cũnglà Tỳ-kheo Tăng-ca-ma. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo Tăng-ca-ma đã bảy lần hàng phục ma,26 nay mới thành đạo. Từ nay về saucho phép được ra vào đạo bảy lần, quá hạn này thì là phi pháp.”
Lúc ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng đệ tử Thanh văn của ta, Tỳ-kheo đứng đầu trongviệc hàng phục ma, nay mới thành đạo chính là Tỳ-kheo Tăng-ca-ma.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụnghành.27
________________________
26 Chỉ bảy lần thọ giới cụ túc.
27 Bản Hán, hết quyển 27.

* Trang 393 *
device

 
Tăng Nhất A- Hàm Tập 2