LOGO VNBET
Vài lời sau kinh


Khi dịch xong kinh tôi cảm thấy có một vài thắc mắc tuy thông thường nhưng sẽ không tránh khỏi xuất hiện một cách mau lẹ đến ít nhiều quý vị đọc kinh này. Để giải thích phần nào những thắc mắc đó hầu tránh khỏi cái nạn vì nghẹn bỏ ăn, ở đây xin nêu lên vài ý kiến theo trường hợp này :
1. Sẽ không khỏi có vị nghĩ rằng : thuyết pháp độ sanh là bản hoài của Phật, vậy tại sao khi Thành đạo rồi Ngài lại không muốn thuyết pháp, đợi đến khi Phạm vương thưa thỉnh Ngài mới thuyết ?- Xin thưa : như kinh có nói đến, không phải Phật nhất định không muốn thuyết pháp, song Ngài có ngần ngại giữa một bên giáo lý giác ngộ quá cao siêu, một bên căn tính chúng sinh quá thấp kém, sợ đem giáo pháp ấy nói cho chúng sinh ấy có hại hơn có lợi. Trong lúc Phật đang quán xét phải thuyết pháp cách nào mới đưa đến nhiều lợi ích, thì Phạm vương đến thưa thỉnh này chỉ đáng xem là một việc làm đúng lúc chớ không phải một quyết định tối hậu mở đầu cuộc thuyết pháp của Phật (muốn hiểu rộng thêm xin xem lại luận Đại Trí Độ quyển 7).
2. A Nan thỉnh Phật ở đời lâu thêm, Phật không khứng nhận lại khứng nhận lời Ma vương mà nhập
 
 

* Trang 328 *
device

Niết-bàn, như thế phải chăng Phật thiên vị Ma vương là kẻ bất lợi cho chúng sinh hơn A Nan là người đệ tử trung thành của Phật ? – Xin thưa : phàm ở đời việc nào đến nó phải đến. Khi cơ duyên hóa độ đã tất nhiên Phật vào Niết-bàn, dù khi đó không có Ma vương thưa thỉnh, trái lại lúc Ngài ở bên sông Ni-liên-thuyền, lúc Ngài vừa thành đạo, dù Ma vương có đến thỉnh, Phật vẫn không vào Niết-bàn. Vậy việc Phật nói với Ma vương sau 3 tháng sẽ vào Niết-bàn, chỉ là một dịp Phật thổ lộ ý định của mình mà thôi.
3. Phật là bậc tự tại tự chủ, sao Ngài không duy trì xác thân ở đời mãi mãi để làm lợi lạc chúng sinh ? Nuế Phật cũng còn phải chịu sự sống chết như mọi người, thì sao gọi Phật là tự tại tự chủ ? – Xin thưa : chân lý muôn đời của vũ trụ thì hễ có sinh thì có diệt, có hiệp thì có ly, không một ai có thể làm cho khác đi được. Nhưng chúng sinh vì vô minh thường có tham vọng đi ngược lại chân lý nên phải đau khổ đời đời, trái lại chư Phật Bồ-tát giác ngộ, thể nhập chân lý, một sự tự tại siêu tuyệt, ở nơi sinh mà bất sinh, ở nơi diệt mà bất diệt, bất sinh bất diệt tức giải thoát tự tại ngoài vòng chi phối của bất cứ điều gì, dù là sinh và tử, cho nên cùng một hình thức sanh tử ta thấy về xác thân mà ở nơi chúng sinh thì luân hồi đau khổ, ở nơi Phật thì lại tự tại giải thoát.

* Trang 329 *
device

Còn sự lợi và sự hại theo Phật và chúng sinh lắm lúc không đồng nhau. Cùng một chuyện chúng sinh thấy lợi, Phật thấy không lợi, chúng sinh thấy hại, Phật thấy không hại. Do đó dù Phật diệt độ mà Ngài vẫn thấy chúng sinh còn được nhờ giáo pháp Phật để lại để nổ lực tu hành mà không sanh tâm ỷ lại vào sự tế độ của Phật. Mỗi người phải lo tự giác ngộ mình chớ không ai giác ngộ thế cho được, dù Phật còn ở đời, mà chúng sinh không chịu tự lo giác ngộ theo phương pháp Phật chỉ dạy cũng không ích gì.
          Một câu chyện tương tợ dưới đây, tuy đơn giản nhưng có thể làm một tiêu chuẩn cho ta suy nghiệm đến đường lối cứu thế của Phật khác xa thường tình nghĩ tưởng : « Lúc Phật còn tại thế, có một người đàn bà không may phải làm dâu trong một gia đình ác độc, bà ta bị hất hủi, bạc đãi đủ điều, nên chỉ còn biết đặt hy vọng vào đứa con độc nhất của mình. Nhưng cũng rủi luôn cho bà, đứa con ấy vừa lên ba thì mệnh yểu. Bà đau khổ điên cuồng ôm thây con đến mấy vị y sĩ nhờ cứu chữa, y sĩ nào cũng lắc đầu bó tay, cuối cùng có người vẽ cho bà tìm đến đức Thế Tôn, may ra Ngài có thể cứu cho được, một tia hy vọng cuối cùng lại bật dậy giữa lúc tâm thần đang bối rối sầu khổ, bà ôm xác con chạy ngay đến chỗ Phật, sau khi vái chào, bà liền cầu xin Phật cứu cho đứa con bà sống lại, Phật dạy : « Được, ngươi hãy
 
 

* Trang 330 *
device

đi kiếm cho ta một nắm hạt cải ở nhà nào từ xưa nay không người chết, đem về đây Ta sẽ cứu cho ». Bà mừng rỡ lật đật chạy đi kiếm. Đến nhà thứ nhất, được người ta đem cho nắm hạt cải. Bà liền hỏi chủ nhà : Nhà này xưa nay có ai chết không ? Chủ nhà trả lời : đã có mấy người chết. Bà ta nói đức Thế Tôn dặn kiếm hạt cải ở nhà nào xưa nay không ai chết, nên bà không nhận. Tiếp đến xin nhà thứ hai, cũng được người ta đem cho nắm hạt cải, Bà ta cũng hỏi và cũng không nhận như ở nhà trước. Cứ như thế Bà đi từ nhà nọ đến nhà kia khắp vùng mà vẫn không kiếm ra một nắm hạt cải đúng như lời Phật dặn. Bổng nhiên một giây phút tỉnh ngộ bật sáng trong tâm bà phá tan bao điều sầu khổ, u ám, bà lặng lẽ đem con đi chôn rồi trở lại tinh xá đảnh lễ Phật xin quy y làm đệ tử ».
          Khi đọc chuyện này, không khéo lại có người đặt lời phê phán : « Thế Phật có hơn gì mấy ông y sĩ ? Phật còn không bằng các ông đạo sĩ, giáo chủ khác dùng phép lạ cứu người chết rồi sống lại ? Tình thương của Phật như thế tỏ ra một tình thương quá lạt lẽo đến phủ phàng ? Một tình thương không thực tế ? » Nhưng không, nếu cứ bình tâm suy nghĩ chắc người ta sẽ không phê phán một cách quá nông nổi và sai lầm đối với lòng từ bi quá thâm thúy và thiết thực như trên của Phật. Đối với Phật, Ngài đã thấy rõ sở dĩ chúng sinh đau khổ chỉ vì không giác ngộ

* Trang 331 *
device

được chân lý thực tại vô thường, lại chỉ muốn bám  chặt vào những mảnh vô thường và nhận chắc đó là ta của ta, vì vậy tình thương của Ngài là cốt làm thế nào phá trừ vô minh đưa chúng sinh đến nơi giác ngộ tức hết đau khổ, nếu không như vậy, dù có làm cách nà, cũng chỉ là cách cứu chữa tạm thời, đôi khi còn vì đó gây thêm đậm nét khổ đau là khác. Ví như những ông thầy thuốc không chịu tìm chữa từ bịnh căn, chỉ nghe con bịnh nói đau mắt dè đau mắt mà chữa, đau đầu dè đầu mà chữa thì không bao giờ hết bịnh, vì bệnh căn là mầm mống chưa trừ. Như vậy đến đây, tại sao Phật không dùng phép lạ cứu sống đứa con người đàn bà kia, chúng ta cũng biết rõ rằng dù Phật có cứu sống đứa nhỏ bằng phép lạ đi nữa rồi một ngày kia nó cũng vẫn già, vẫn bịnh, vẫn chết và người đàn bà mẹ nó cũng vẫn khổ như từ bao giờ không hơn không kém, nếu bà không một lần tỉnh ngộ như trong khi đi xin hạt cải : Chết sống không phải khổ mà khổ vì không giác ngộ lẽ chết sống.
4.Chúng sinh đau khổ nhưng kém hèn không tự cứu lấy mình được mới chạy đến Phật cầu cứu. Thay vì phải soi sáng, cứu độ cho họ, Phật lại dạy : « Các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi ». Như thế là nghĩa làm sao ? Nếu chúng sinh tự thắp đuốc lên mà đi được thì phỏng có lợi ích gì mà họ phải chạy đến Phật ? – Xin thưa : Phật dạy mỗi người hãy tự giác
 
 
 
 
 

* Trang 332 *
device

ngộ lấy mình chớ không ai giác ngộ thế cho được, đó là lời dạy chí lý hiển nhiên đúng thật không chối cãi được, và câu « các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi » đã nằm trong ý nghĩa tự giác tự ngộ đó. Tuy nhiên, nếu suốt một đời giáo hóa của Phật, thỉ chung Ngài chỉ dạy có một câu bất cứ đối với ai và bất cứ lúc nào, thì cũng đáng cho ta có sự thắc mắc trên, bởi vì nếu như vậy, chúng ta sẽ không hiểu gì là cái đuốc, tại sao phải tự thắp, làm thế nào để thắp và đi về đâu, nhưng đàng này khác hẳn, sao bao nhiêu giáo pháp Phật đã giảng dạy, giáo pháp đó không ích lợi gì cả nếu chúng sinh không chịu kinh nghiệm thực hành, nương giáo pháp để tự tạo lấy sự giác ngộ chính trong lòng mình, cho nên Phật lại phải đinh ninh nhắc nhở chúng sinh lo thực hành với lời dạy trên. Giáo pháp ví như ngón tay chỉ, chân lý ví như mặt trăng, Phật truyền dạy giáo pháp khác nào như Phật đã đưa tay chỉ mặt trăng (đây là Phật khai hóa cứu độ cho chúng sinh), người muốn thấy mặt trăng, tất phải định thần mở mắt nhìn theo hướng tay chỉ, không phải chờ ai nhìn thế cho mà mình thấy được. Nếu Phật có nhìn thấy hay người khác có nhìn thấy, cũng chỉ là Phật thấy, mấy người kia thấy, chớ không phải mình thấy. Giáo pháp lại có thể ví như những điều kiện bên ngoài để tạo ra hạnh phúc chân thật bên trong ; khi một người có đủ các điều kiện ấy mà vẫn thấy mình chưa được hạnh phúc thì họ phải
 
 

* Trang 333 *
device

lo tự tạo lấy hạnh phúc cho họ, chớ không ai bên ngoài xen vào hay mang lại một hạnh phúc chân thật trong lòng họ được.
          Để hiểu rõ hơn, ta cần xác nhận thời gian tính của lời dạy trên trong quá trình thuyết giáo của Phật. Theo như trong kinh này thì câu « các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi » đã được Phật dạy vào lúc sắp nhập Niết-bàn và lúc nhiều giáo pháp đã được Phật nói ra. Như thế có theo Phật ta mới hiểu rõ đường lối tu hành, mới thoát khỏi các ý nghĩ ỷ lại sai lầm rằng ta có thể nhờ người khác đem lại giác ngộ và hạnh phúc chân thật cho ta, và mới hiểu tại sao phải tự thắp đuốc lên mà đi và thắp bằng cách nào để khỏi bị ở mãi trong chốn tối tăm đau khổ.
5.Đạo Phật chủ trương lý trí, chú trọng thực tiễn, tại sao trong kinh còn có những chỗ nói đến các vị thần, lâm thần, thọ thần…, như thế Phật giáo cũng tin có quỉ thần, mơ hồ ? Cũng là một đa thần giáo ? Xin thưa : Phật giáo không hề lấy việc tin quỉ thần, cầu khẩn quỉ thần làm phương châm giải khổ, nhưng Phật giáo quan niệm giữa vũ trụ có vô lượng thế giới và vô số chúng sinh xuất hiện dưới vô số hình thức sai khác, lớn có, bé có ở trên không có, ở dưới biển có, hữu hình có, vô hình có, tùy theo căn thức và nghiệp cảm. Mỗi chúng
 
 

* Trang 334 *
device

sinh cũng chỉ là mỗi chúng sinh, không chúng sinh nào có thể sáng tạo và cai quản chúng sinh nào, ngoại trừ tánh cách tương quan hỗ thành theo luật nhân duyên nhân quả. Do đó Phật không bao giờ khuyên dạy người ta cầu xin phúc họa nơi quỉ thần, mà dạy người ta lo cầu xin phúc họa nơi mình. Khác với đa số người thế gian và đa thần giáo xem quỉ thần như những vị sáng tạo và quyền phép ban phước giáng họa và người ta cần đến đó cầu xin hoặc sợ sệt kính lễ, trong khi Phật giáo dù nói đến thần này thần kia chỉ có nghĩa chỉ đến những chúng sinh khác hơn người nương ở tại chỗ kia chỗ nọ mà thôi, có với không có nó là việc bận rộn đến tinh thần của những Phật tử chân chánh.
6.Người ta nói « quốc gia hưng vong thất phu hữu trách », một thường dân còn có bổn phận đối với quốc gia xứ sở, huống những người cầm quyền trị vì, thế nhưng trong kinh có đoạn kể chuyện vua tôi nước nọ đều xuất gia cả. Xuất gia như thế có hại cho quốc gia không ? Có là tiêu cực yếm thế, trốn trách nhiệm không ? – Xin thưa : giá trị sự xuất gia ở chỗ khác đã có nói nhiều, ở đây chỉ xin tóm tắt rằng sự xuất gia chân chánh bao gồm một ý nghĩa từ bỏ dục vọng, tham lam, ngã chấp, để khuôn mình trong lối sống đạo đức với chí hướng cầu chân thiện mỹ và ban phát chân thiện mỹ. Xuất gia như thế đâu phải
 
 

* Trang 335 *
device

là một hành vi hư hỏng, yếm thế, hại đời ? Và đâu dễ có mấy người xuất gia, khiến đến nổi quốc gia phải suy yếu vì họ ? Vả chăng việc nước là việc chung, không người này còn người khác, một số rất nhỏ người xuất gia có thấm vào đâu với đại đa số dân chúng. Một điều mà thiết tưởng ai cũng thấy rõ, nước mạnh không nhất thiết phải dân đông nhưng cốt phải muôn dân nhất trí, và muốn cho muôn dân nhất trí là phải có đạo đức, hy sinh, công chính. Mọi người dân trong khi cố công kiến thiết họ cũng phải cố công gây ở họ, ở người khác một sức mạnh đạo đức, hy sinh, không ích kỷ, không cố vị tham quyền mới duy trì được nền an lạc chung. Như thế suy đến chuyện xuất gia của vua tôi nước nọ, thay vì nói đến là yếm thế, trốn trách nhiệm, ta hãy nói đó là một cử chỉ cao thượng hiếm có, đã nêu một gương sáng không tham cố quyền lợi, không cố thủ địa vị là điều xưa nay thật khó tìm thấy ở trong bao nhiêu người có địa vị trong tay. Tuy vậy, thật ra việc xuất gia như trên rất hiếm có trên lịch sử và giả có ta cũng thấy rõ đâu có làm hại cho quốc gia xã hội bằng những con người bất nhân vô đạo, cố vị tham quyền kết tụ lại trong quốc gia hay thế giới, mà xưa nay hay đâu đâu cũng có. Cứ xem nhân loại ngày nay ta cũng đủ thấy là hiện đang đau khổ vì dục vọng hay vì những lời dạy ly dục và sự xuất gia như trên ?
 
 

* Trang 336 *
device

Tóm lại, trong khi xem kinh nên có con mắt trạch pháp để nhận định những lời nào Phật quyền thuyết, những lời nào Phật thật thuyết, những lời nào là chính yếu những lời nào là phụ yếu, và suy nghiệm lối thuyết pháp tất đàn của Phật mới mong học được những chỗ đáng học, nắm được chỗ chính yếu của giáo pháp lý khỏi kẹt vào những thắc mắc không trọng hệ nhưng lắm lúc làm trở ngại những giáo lý trọng hệ cầu được chú tâm suy tầm tu niệm nhiều hơn.
 
 
*
*                           *
 

* Trang 337 *
device

 
Kinh Trường A Hàm