LOGO VNBET
KINH TÁN ĐÀ NA
(Phật chỉ tính cách bất tịnh trong pháp tu khổ hạnh và mục đích mà Ngài thuyết pháp)


 
 
         Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ở tại động cây Thập Diệp, núi Tỳ-ha-la thuộc thành La duyệt kỳ (Vương xá = Rajagaha) cùng chung đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
         Lúc đó ở thành Vương xá có một cư sĩ tên Thân Đà Na (Sandhana), tính ưa đi dạo. Cứ ngày ngày ông ra khỏi thành, đến chỗ đức Thế Tôn. Một hôm ông xem bóng mặt trời rồi thầm nghĩ giờ này chưa phải lúc đến bái yết Phật, giờ này Phật còn nhập định tại tịnh thất, và các Tỷ-kheo cũng đang thuyền tịnh cả, tốt hơn ta đi đến rừng của nữ Phạm Chí Ô Tạm Bà Lỵ (Udumbarika) chờ đúng giờ sẽ đến Phật để lễ bái và gặp các Tỷ-kheo cung kính thăm viếng.
         Trong rừng nữ Phạm Chí lúc đó có ông Phạm Chí tên Ni Câu Đà (Nigrodha) cùng 500 đệ tử đang tu tập một chỗ, lớn tiếng bàn luận, nhưng suốt cả ngày họ chỉ bàn những lời ô trược, loạn động, làm trở ngại sự tiến đạo, khi họ bàn việc nước, bàn việc đao binh chiến tranh, bàn việc quốc gia hòa nghĩa, bàn việc đại thần, việc thứ dân, khi bàn việc xe ngựa đi qua vườn này, rừng nọ, việc chiếu giường, y           
 

* Trang 204 *
device

phục, ăn uống, phụ nữ, hoặc bàn việc núi biển, rùa trạnh, nghĩa là họ chỉ bàn những điều trở ngại sự tiến đạo như thế hết ngày.
          Khi ông Phạm Chí vừa xa thấy bóng Cư sĩ Tán Đà Na đi lại liền ra lệnh: “chúng ngươi hãy làm thinh, vì có đệ tử của Sa-môn Cù Đàm đang đi lại kia kìa, trong hàng đệ tử bạch y của Sa-môn Cù Đàm, ông đó vào hạng trưởng thượng, chắc là ông đi đến đây, các ngươi hãy im lặng”. Các đệ tử đều im lặng. Cư sĩ Tán Đà Na tiến đến chỗ ông Phạm Chí, chào hỏi xong ngồi một bên và nói với Phạm Chí: Đức Thế Tôn thầy ta, thường ưa tịnh mặc, chẳng ưa huyên náo, không như các ông và đệ tử các ông ưa ở giữa đám đông cao tiếng luận đàm, nhưng chỉ luận toàn những lời chướng đạo, vô ích”. Ông Phạm Chí nói lại: “ Ông Sa-môn Cù Đàm có từng cùng mọi người đàm luận không? Mọi người làm sao biết được ông Sa-môn có đại trí tuệ? Thầy ngươi thường ưa chỗ biên địa, khác nào con trâu đui ăn cỏ, ham đuổi theo chỗ sở kiến riêng mình. Thầy ngươi cũng thế, cứ ham điều độc kiến riêng nên mới ưa chỗ không người. Nuế thầy ngươi lại đay, chúng ta sẽ kêu là trâu đui. Sa-môn Cù Đàm thường xưng là bậc đại trí tuệ, nhưng ta sẽ cần một câu đủ làm cho cùng bí mà phải làm thinh, ví như con rùa thun hết đầu, đuôi, chân vào vỏ cho thế là yên ổn rồi, nhưng ta chỉ cần một mũi tên là làm cho không chỗ tránh”.
 
 

* Trang 205 *
device

Nhằm lúc đó, đức Thế Tôn đang ở lại tịnh thất, dùng thiên nhĩ nghe ông Phạm Chí buông những lời ngã mạn bất chính như thế, liền từ động Thất Diệp, đi đến rừng nữ Phạm Chí Ô Tạm Bà Lỵ.
          Khi ông Phạm Chí vừa thấy bóng Phật đi lại, vội bảo các đệ tử: “các ngươi im lặng, có Sa-môn Cù Đàm đang muốn đến đây kia, các ngươi chớ đứng dậy nghinh đón, lễ bái, cung kính hay mời ngồi gì cả, chỉ riêng một chỗ cho ông ta ngồi thôi. Khi ổng ngồi xong, các ngươi hãy hỏi: Sa-môn Cù Đàm từ đâu đến, ông đem giáo pháp gì dạy bảo đệ tử khiến họ được tịch tịnh an vui, tịnh tu, phạm hạnh”. Ông vừa dứt lời thì đức Thế Tôn cũng vừa đến. Nhưng các đệ tử bất giác đứng dậy, nghinh đón Thế Tôn mà nói rằng: “ Đức Cù Đàm đến đây, quý hóa quá! Đức Sa-môn đến đây thật lành thay! Từ lâu không được gặp, nay có việc gì Ngài đến đây! Xin mời ngồi tạm ở đàng trước”.
          Đức Thế Tôn ngồi xuống vui vẻ mỉm cười và thầm nghĩ: “Các người này không tự chủ được, trước đã đặt lệnh ước với nhau mà rốt không giữ toàn. Sở dĩ vậy, là vì thần lực của Phật khiến ác tâm của chúng tiêu tan”.
          Cư sĩ Tán Đà Na đảnh lễ Phật rồi ngồi một bên.
          Ông Phạm Chí Ni Câu Đà chào hỏi Phật xong cũng ngồi một bên và bạch Phật: Sa-môn Cù Đàm từ đâu đến? Ngài đem giáo pháp gì dạy bảo hàng
 
 
 
 
 

* Trang 206 *
device

đệ tử khiến họ được tịch định an vui, tịnh tu phạm hạnh?
          Phật dạy: “Thôi Phạm Chí! Pháp Ta sâu rộng, từ trước đến nay Ta dạy các đệ tử đều được an vui, tịnh tu phạm hạnh, ông không thể sánh kịp đâu. Này Phạm Chí! Dẫu đến cả đạo pháp của thầy ông, của đệ tử ông tu hành, tịnh hay bất tịnh, Ta cũng nói được cả”. Lúc đó 500 đệ tử Phạm Chí thì thầm với nhau: “Sa-môn Cù Đàm có oai thế lớn, có thần lực lớn thật, người ta hỏi nghĩa lý mình, mình lại trở hỏi nghĩa lý người ta!” Phạm Chí bạch Phật: Lành thay Cù Đàm! Xin Ngài phân biệt rõ ràng cho”.
          Phật dạy: “Này Phạm Chí! Những điều sở hành của ông toàn là thấp kém, như việc ông cởi hết áo chăn để lõa hình rồi lấy tay che, hoặc không nhận đồ ăn mặn trong cái mái, không nhận đồ ăn đựng cho bát, không nhận đồ ăn giữa hai tay đưa, không nhận đồ ăn giữa hai người đưa, không nhận đồ ăn giữa hai dao cắt, không nhận đồ ăn giữa hai bát đựng, không nhận đồ ăn nơi nhà đang cùng ăn, không nhận đồ ăn nơi nhà có người thai nghén, không nhận đồ ăn nơi nhà nếu thấy có chỗ ở trước cửa, không nhận đồ ăn nơi nhà nhiều ruồi, không nhận đồ ăn người ta đã cho biết trước, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không dùng 2 đồ đựng ăn, một lần nhai một lần nuốt đến 7 lần nhai nuốt là thôi, nhận đồ ăn
 

* Trang 207 *
device

đưa thêm không quá 7 lần, hoặc một ngày ăn hoặc chỉ ăn cỏ chó, hoặc chỉ uống nước cháo, hoặc chỉ ăn mè, hoặc ăn gạo lúa, hoặc ăn phân bò, hoặc an phân nai, hoặc ăn rễ, nhánh, lá, trái, hột cây, hoặc mặc áo cỏ ú, hoặc mặc vỏ cây, hoặc lấy cỏ quấn mình, hoặc mặc da nai, hoặc để trần đầu tóc, hoặc mang tấm lông, hoặc mặc áo vất ở gò mả, hoặc thường đưa tay lên, hoặc không ngồi giường chiếu, hoặc thường ngồi chồm hổm, hoặc cạo tóc chừa râu, hoặc nằm trên chông gai, hoặc nằm trên dưa trái, hoặc lõa mình nằm trên phân bò, hoặc 1 ngày tắm 3 lần, hoặc 1 đêm tắm 3 lần, tóm lại là lấy vô số chuyện khổ cực hành hạ xác thân. Ni Câu Đà nghĩ sao?
          Ni Câu Đà đáp: “ Đó là tịnh, chớ chẳng phải bất tịnh”.
          Phật dạy: “Ông bảo là tịnh, ta sẽ từ trong cái tịnh của ông đó chỉ ra điều cấu uế cho ông xem”.
          Ni Câu Đà nói: “Hay lắm Cù Đàm! Ngài cứ nói, tôi xin nghe”.
          Phật dạy: “những người kia trong khi tu khổ hạnh mà tâm thường tính nghĩ rằng: ta làm như thế này sẽ được mọi người cúng dường, cung kính, lế bái, thế là cấu uế đó, người tu khổ hạnh khi được cúng dường rồi thì say đắm giữ chặt, ưa luyến không rời, không biết xa lìa, không biết cách thoát ra, thế là cấu uế đó: người tu khổ hạnh mà vừa trông thấy bóng ai đi đến, thì chung nhau ngồi thuyền, đến khi trông thấy ai thì tự ý
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 208 *
device

nằm ngồi, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà nếu nghe chánh nghĩa người khác, không chịu nhìn nhận, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà nếu có ai hỏi đúng, xan lẫn không chịu đáp, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà hễ thấy người nào cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn thì ganh tị la đón, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà nếu tháy Sa-môn, Bà-la-môn ăn vật có cơ sinh lại được (1) liền đến chê trách, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh gặp món ăn bất tịnh không chịu thí cho người khác, gặp món ăn tịnh, tham giữ ăn một mình, không tự thấy lỗi, không biết cách thoát ly, thế là cấu uế đó; người tu hạnh mà cứ tự xưng mình hay, chê kẻ khác dở thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà sát, đạo, dâm, tật đố, tà kiến điên đảo, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà lười nhác hay quên không tập thuyền định, không có trí tuệ giống như cầm thú, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mag cống cao ngã mạn, mạn và tăng thượng mạn(2), thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà không có tín nghĩa, không có tâm báo bổ, không giữ tịnh giới, không siêng năng học hỏi, thường kết bạn với người độc ác, làm ác mãi không bỏ, thế là cấu uế đó; người tu khổ hạnh mà tâm chứa đầy sân hận, ưa làm xảo quyệt cậy mình hiểu biết, tìm tòi hay dở của
 
 
 
 
 
 
(1)Vật còn sinh lại được là vật có tình thức, vật còn sống.
(2)Mạn là mình bằng người, mà tự cho mình hơn, tăng thượng mạn là mình còn phàm phu mà tự xưng đã chứng thánh, chứng Phật.
 
 
 

* Trang 209 *
device

người, thường chấp tà kiến biên kiến(1) thế là cấu uế đó. Ni Câu Đà nghĩ thế nào? Lối tu khổ hạnh như trên, đáng gọi là thanh tịnh ư?
          Ni Câu Đà đáp: “ Đó là bất tịnh chứ không phải tịnh”.
          Phật dạy: “giờ ta sẽ từ trong pháp cấu uế ấy của ông mà chỉ ra phần thanh tịnh vô cấu cho ông hiểu. Này Ni Câu Đà! Những người tu khổ hạnh kia, nếu không tịnh nghĩ rằng ta tu như thế này sẽ được sự cúng dường cung kính, lế bái, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh, người tu khổ hạnh được cúng dường tâm không tham đắm, hiểu biết xa lìa, rõ cách thoát ly, thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh mà thay đổi, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh, nếu nghe ai nói chánh nghĩa thì hoan hỷ tín nhận, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh nếu gặp ai hỏi đúng thì hoan hỷ giải đáp, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh hễ thấy ai cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn thì hoan hỷ thay họ, chứ không ganh tị la đón, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh nếu thấy Sa-môn, Bà-la-môn ăn vật có cơ sanh lại, không tới quở trách, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh mà gặp món ăn bất tịnh, tâm không lẫn tiếc, gặp món ăn tịnh tâm không
 
 
 
 
 
 
(1)Tà kiến là chấp những lý lẽ tà vạy như chấp không có nhân quả … Biên kiến là con người chết rồi mất, hoặc còn linh hồn trường tồn bất biến.
 

* Trang 210 *
device

say đắm, xét thấy lỗi mình, biết cách thoát ly, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh không tự khen mình, không chê kẻ khác, thế là pháp khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh không sát, không đạo, không dâm, không hai lưỡi, không nói ác, không nói dối, không thêu dệt, không tham lam, không tật đố, không tà kiến, thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh mà tinh cần không quên, ưa tập thuyền định, tu nhiều trí tuệ, chẳng ngu như thú, thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó, người tu khổ hạnh mà không tự đại cống cao, kiêu mạn, thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh mà có lòng tín nghĩa, tập hạnh báo bổ, giữ gìn tịnh giới, siêng năng học hỏi, thường kết bạn với người lành, chứa điều lành mãi; thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó; người tu khổ hạnh mà không ôm lòng sân hận, không xảo ngụy, không cậy mình biết, không tìm dở người, không chấp chặc tà kiến biên kiến, thế là pháp tu khổ hạnh thanh tịnh đó; Phạm chí nghĩ thế nào? Pháp khổ hạnh như thế, đáng gọi là pháp thanh tịnh vô cấu không?
          Ni Câu Đà đáp: “quả như vậy, quả thật là pháp khổ hạnh thanh tịnh vô cấu. Bạch đức Thế Tôn! Ngang ở pháp khổ hạnh đó đã gọi là kiên cố bậc nhất chưa?”.
          Phật day: “Chưa! Đó mới là khổ hạnh ngoài da”.
          Ni Câu Đà đáp: “ Xin Phật cho biết xương tiết?”

* Trang 211 *
device

Phật dạy: “Ngươi hãy khéo nghe, Ta sẽ nói cho. Này Phạm Chí! người tu khổ hạnh mà tự mình không giết, không dạy người giết, tự mình không trộm cắp, không dạy người trộm cắp, tự mình không tà dâm, không dạy người tà dâm, tự mình không nói dối, không dạy người nói dối, lại còn đem từ tâm rải khắp một phương rồi các phương khác, từ tâm quảng đại, bình đẳng vô lượng, khắp cả thế giới không kiết oán hận, tiếp rải bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế. Chính đó mới là pháp khổ hạnh xương tiết”.
          Phạm Chí bạch Phật: Xin Ngài dạy cho cái nghĩa khổ hạnh kiên cố”.
          Phật dạy: “Này Phạm Chí! Người tu khổ hạnh mà tự mình không giết còn dạy người không giết, tự mình không trộm cắp còn dạy người không trộm cắp, tự mình không tà dâm còn dạy người không tà dâm, tự mình không nói dối còn dạy người không nói dối, hơn nữa còn đem tâm rải khắp một phương rồi các phương khác, từ tâm quảng đại, bình đẳng vô lượng, khắp cả thế gian không chút oán kiết, tiếp rải bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế. Người khổ hạnh kia lại có thể biết được việc xảy ra vô số kiếp trước, hoặc một đời, hai đời cho đến vô số đời, quốc độ thành hoại hay kiếp số trước sau, đều thấy đều biết cả. Lại còn biết được mình từng sanh vào chủng tộc nào, tên tuổi như sao, ăn uống như sao, sống lâu như sao, chịu khổ chịu vui như sao,
 
 

* Trang 212 *
device

từ kia sanh đây, từ đây sanh kia như sao. Tóm lại những việc từ vô số kiếp như thế đều nhớ cả, ấy gọi là pháp khổ hạnh kiên cố.
          Phạm Chí bạch Phật: “còn thế nào gọi lag khổ hạnh bậc nhất?”
          Phật dạy: “Này Phạm Chí, những người tu khổ hạnh mà tự mình không giết không dạy người giết, tự mình không trộm cắp còn dạy người không trộm cắp, tự mình không tà dâm còn dạy người không tà dâm, tự mình không nói dối còn dạy người không nói dối, hơn nữa lại đem tâm rải khắp một phương rồi các phương khác, từ tâm rộng lớn bình đẳng vô lượng khắp cả thế gian, không chút oán hận, rải bi tâm, hỷ tâm, xả tâm, xả tâm cũng như thế. Người khổ hạnh đó lại có thể biết được việc xảy ra trong vô số kiếp trước, hoặc một đời, hai đời, cho đến vô số đời, quốc độ thành hoại hay kiếp số thủy chung, đều thấy đều biết cả; lại còn thấy mình từng sanh vào chủng tộc nào, tên tuổi như sao, ăn uống sống lâu như sao, chịu sự khổ vui như sao, từ kia sinh đây, từ đây sinh kia như sao, tóm lại, những việc từ vô số kiếp như thế đều nhớ cả, rồi còn lấy Thiên nhãn thanh tịnh xem đến các loại chúng sinh, thấy họ chết đây sinh kia, nhan sắc tốt xấu, ở chỗ lành dữ, bất cứ họ sinh đến đâu, đều thấy biết cả; lại biết có chúng sinh và thân làm bất thiện, miệng nói bất thiện, ý nghĩ bất thiện, phỉ báng hiền thánh, tin theo tà đạo,
 
 

* Trang 213 *
device

khi thân hoại mệnh chung đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, hoặc có chúng sinh nhờ thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, không phỉ báng hiền thánh, tu hạnh chánh tín, khi thân hoại mệnh chung được sinh vào cõi trời cõi người. Dùng Thiên nhãn thanh tịnh xem thấy các chúng sinh có hành vi nào sinh tới chỗ nào, đều thấy biết hết. Đó gọi là khổ hạnh thù thắng bậc nhất.
          Này Phạm Chí! Lại còn có pháp thù thắng hơn nữa mà ta thường đem dạy cho hàng Thanh văn, họ nhờ pháp đó tu được phạm hạnh.
          Bấy giờ 500 đệ tử Phạm Chí lớn tiếng bảo nhau: “nay chúng ta mới thấy đức Thế Tôn là bậc tối thượng, thầy ta không bằng”.
          Cư sĩ Tán Đà Na xây nói với Phạm Chí: “lúc nãy ông nói hễ thấy Cù Đàm đến thì chúng ta kêu trâu đui, nay đức Thế Tôn đến sao ngươi không kêu. Lúc nãy ngươi nói chỉ cần một câu là đủ làm cho Cù Đàm cùng bí phải làm thinh, như con rùa thun cả vào vỏ cho thế là yên ổn, ta chỉ cần một mũi tên là không chỗ trốn, sao nay ngươi không đem một câu làm cùng bí Như Lai?”.
          Phật hỏi Phạm Chí: thật ngươi có nói lời đó chăng? Ngươi há không nghe các vị tiên túc Phạm Chí nói: chư Phật Như Lai ưa ở chỗ núi rừng nhàn tịnh, như ta ngày nay, chẳng phải như pháp của các
 

* Trang 214 *
device

ông chỉ ưa chỗ huyên não, nói chuyện vô ích suốt ngày ư?
          Phạm Chí thưa: có nghe.
          Phật dạy: “Ngươi há không nhớ Sa-môn Cù Đàm hay thuyết về đạo Bồ-đề rằng: Tự điều luyện mình và điều luyện cho kẻ khác, tự dứt phiền não mình và dứt phiền não cho kẻ khác, tự mình qua bờ kia (bờ giác) và độ người qua bờ kia, tự mình giải thoát và giải thoát kẻ khác, tự mình được diệt độ còn diệt độ kẻ khác chăng?”
          Phạm Chí liền đứng dậy đảnh lễ và lấy tay sờ chân Phật, tự xưng tên mình: “Tôi là Phạm Chí Ni Câu Đà, nay xin quy y Phật, đảnh lễ Thế Tôn”.
          Phật day: “Thôi Phạm Chí đứng dậy! chỉ cần tâm ngươi hiểu được lời Ta dạy là ngươi kính lễ Ta rồi”. Phạm Chí đảnh lễ lần nữa rồi ngồi một bên.
          Phật dạy: “Này Phạm Chí! Có lẽ ngươi nghĩ Như Lai vì lợi dưỡng mà thuyết pháp ư? Ngươi chớ nghĩ thế. Nếu có lợi dưỡng Ta thí cả cho ngươi. Ta thuyết ra pháp vi diệu đệ nhất, chỉ cốt để diệt trừ điều ác, tăng thêm điều lành cho chúng sinh thôi. Lại này Phạm Chí! Có lẽ ngươi nghĩ Như Lai vì muốn có danh vọng, có tiếng khen là người dẫn đầu quyến thuộc hay vì có đệ tử cho đông mà thuyết pháp ư? Ngươi chớ nghĩ thế. Nay quyến thuộc Ta ngươi đều để cả về ngươi, Ta thuyết pháp chỉ cốt vì diệt trừ điều ác, tăng trưởng điều lành cho chúng sinh thôi. Lại này Phạm

* Trang 215 *
device

Chí! Có lẽ ngươi nghĩ Như Lai muốn đưa ngươi vào chỗ bất thiện, vào nhóm người hắc ám ư? Ngươi chớ nghĩ thế! Ngươi hãy tự mình ở trong chỗ thiện pháp, chỗ thanh bạch, để lo siêng năng tu tập, còn Ta, Ta chỉ dạy cho pháp thiện tịnh để diệt trừ điều ác, tăng thêm điều lành thôi”.
          Nãy giờ 500 đệ tử Phạm Chí đều đoan tâm chánh ý nghe Phật thuyết pháp.
          Thấy vậy, ma Ba tuần nghĩ rằng: “500 đệ tử Phạm Chí đang đem tâm ý đoan chính nghe theo Phật pháp, có lẽ ta phải đến quấy phá tâm ý đó đi”, ác ma liền đem sức phá hoại thuện ý của 500 đệ tử ấy.
          Phật bảo với Cư sĩ Tán Đà Na: Ta muốn trở về, ngươi hãy cùng đi với Ta. Phật liền lấy tay mặt dẫn cư sĩ Tán Đà Na đặt trong lòng bàn tay, rồi nương hư không mà trở về.  
          Cư sĩ Tán Đà Na, Phạm Chí, Ni Câu Đà, và 500 đệ tử nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành
 
 
 
 
*
*             *

* Trang 216 *
device

 
Kinh Trường A Hàm