LOGO VNBET
KINH PHẠM VÕNG
(Phật nêu chỉ 62 kiến chấp sai lầm của ngoại đạo và dạy cho biết tán thán Phật theo cách cao thượng)



         Tôi nghe như vầy : Một thời đức Phật đến nước Ma-kiệt (Magadha) cùng chúng đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
         Sau khi du hóa nhân gian, Phật đến xóm Trúc nghỉ tại Vương đường. Lúc đó có vị Phạm Chí tên là Thiện Niệm (Suppiya) và đệ tử là Phạm Ma Đạt (Brahdmadatta). Hai  thầy trò thường cùng đi theo sau Phật, mà Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và chúng tăng, trái lại, ông đệ tử thì dùng vô số phương tiện xưng tán Phật, Phap và Chúng tăng. Hai thầy trò hai tâm trạng trái nghịch nhau như thế là do chỗ học tập, trí kiến và thân cận theo dị giáo vậy.
         Nhiều vị Tỷ-kheo sau khi khất thực về nhóm tại giảng đường bàn tán :  « kỳ lạ quá ! Đức Thế Tôn có đại thần lực, đầy đủ oai đức, biết hết mọi chí ý của chúng sinh, nhưng nay có hai thầy trò ông Thiện Niệm cùng đi theo sau Phật và chúng tăng mà vì tâm trạng, trí kiến, học tập, thân cận khác nhau nên thầy thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Chúng tăng, còn trò thì dùng
 
 
 
 

* Trang 244 *
device

vô số phương tiện xưng tán Phật, Pháp và Chúng tăng, sao thế ? (1)
         Đức Thế Tôn đang ở trong tịnh thất, dùng Thiên nhĩ thanh tịnh có sức nghe xa hơn người thường, Ngài nghe các Tỷ-kheo bàn tán như thế, liền rời khỏi tịnh thất đi đến giảng đường, ngồi trước đại chúng, dẫu đã biết Ngài vẫn cố hỏi : «Này các Tỷ-kheo ! Các thầy đang bàn việc gì đó ? » Các Tỷ-kheo liền thưa lại Phật rõ các việc trên.
         Phật dạy : « Này các Tỷ-kheo ! Nếu gặp người dùng cách này cách nọ hủy báng Như Lai, hủy báng chánh pháp và chúng tăng, các ông không nên vội sinh lòng oán hận, hay có ác ý với người ta, vì nếu các ông sinh lòng oán giận hay có ác ý thì tự các ông  đã phải bị hãm nịch rồi ! Này các Tỷ-kheo ! Còn nếu gặp người dùng đủ cách khen ngợi Phật, Pháp và Chúng tăng, các ông cũng chớ vội lấy đó làm điều vui mừng kiêu hãnh, vì nếu các ông sinh tâm vui mừng kiêu hãnh thì tự các ông đã phải bị hãm nịch rồi : Tại sao thế ? Vì đó chỉ là vài duyên cớ nhỏ về oai nghi giới hạnh mà hàng phàm phu quả văn không thấu rõ thâm nghĩa mới dựa vào chỗ thấy biết đó để tán thán thôi. Chẳng hạn như họ thán tán rằng : « Sa-môn Cù Đàm đã dứt trừ nghiệp sát, rời bỏ đao gậy, sinh tâm tàm quí,
 
 
 
 
 
 
 
 
(1)Ý nói Phật đã hoàn toàn như vậy sao còn có người chê.
 

* Trang 245 *
device

thương xót chúng sinh » ; thì đó chỉ là duyên cớ nhỏ về oai nghi giới hạnh mà hàng phàm phu quả văn dựa lấy để tán thán Như Lai.
       Hoặc họ tán thán rằng :  « Sa-môn Cù Đàm đã dứt bỏ nghiệp trộm cắp, không tâm trộm cắp ; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ dâm dục, tịnh tu phạm hạnh, giữ giới hoàn toàn, sở hành thanh khiết ; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ ngiệp nói dối, mà nói lời chí thành, chân thật, không dối gạt người ; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ nghiệp nói hai lưỡi, không đem lời người này đến phá rối người kia, đem lời người kia đến phá rối người này, gặp kẻ tranh tụng làm cho hòa hiệp, kẻ đã hòa hiệp làm cho vui thêm, nói ra lời gì cũng cốt đem sự hòa hợp, thành thật đưa vào lòng người và nói phải lúc ; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ nghiệp nói ác, không bao giờ nói lời thô ác thương tổn đến ai, không gây thêm oán hận, ghen tức, mà nói lời hay lành vui đẹp lòng người, ai cũng ưa nghe không chán ; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ nghiệp nói thêu dệt thêm bớt, chỉ nói phải lúc, nói thành thật, nói có lợi nói đúng pháp đúng luật, nói để ngăn ngừa sai quấy; Sa-môn Cù Đàm đã xa bỏ nghiệp uống rượu, không trang sức hương hoa, không xem ca múa, không ngồi giường cao, không ăn phi thời, không cầm vàng bạc, không chứa vợ con, tớ trai, tớ gái, không nuôi voi ngựa, heo dê, gà chó, điểu thú, không chứa tượng hình, mã binh, xa binh, bộ binh, không chứa rộng nhà, không gieo
 
 
 
 

* Trang 246 *
device

trồng ngũ cốc, không nắm tay đánh đáp, không dùng câu đấu lường gạt, không mua bán, khoan ước, đoán đường, không nhận chịu nợ nần, sinh sự vô ích, cũng không âm mưu trước mặt khác sau lưng, phí thời không đi, vì nuôi thân mạng lường sức mà ăn, đi đến chỗ nào thì y bát mang theo như chim bay không rời hai cánh”. Nhưng đó cũng là duyên cớ nhỏ về sự trì giới mà hàng phàm phu quả văn nương lấy để tán thán Như Lai.
         Hoặc họ tán thán theo sự so sánh như vầy: Các Bà-la-môn khác ăn của tín thí rồi òn kính đinh sinh kế, gieo trồng cây cối, còn Sa-môn Cù Đàm không làm việc đó; các Bà-la-môn khác thì tìm phương tiện mong cầu lợi dưỡng, chứa ngà voi tạp bảo, ghế giường cao rộng , mền nệm, mùng màn, chăn chiếu thêu dệt văn vẻ, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì tìm đủ phương tiện để trang sức, dùng dầu mỡ xoa mình, nước thơm chải đầu, hoặc mang tràng hoa đẹp, nhuộm sắc xanh, sửa mặt mày, xâu bông tai, soi gương trau tría, mang dép da quý, mặc áo trắng mịn, che dù, cầm phất lông, cầm cờ hiệu, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì chuyện trò du hý, chơi cờ đánh bạc, 8 lối 10 lối cho đến trăm ngàn lối, đủ các trò chơi, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì chỉ nói lời vô ích chướng đạo, hoặc bàn việc vua chúa, quân mã,
 

* Trang 247 *
device

chiến đấu, việc quần liêu đại thần, xe ngựa ra vào dạo chơi quanh quán, việc nữ nhân nằm ngồi đi dứng, việc y phục, ăn uống, thân thích, việc vào biển tìm châu báu, còn Sa-môn Cù Đàm không có việc đó; các Bà-la-môn khác thì dùng đủ phương tiện làm điều tà mạng, chuốt lời dua nịnh, xem tướng, chê bai, lấy lợi cầu lợi, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì ăn của tín thí rồi xúm nhau tranh tụng, hoặc ngồi ở viên quán, ao tắm, trong nhà, thị phi lẫn nhau rằng ta biết kính luật người không biết, ta đi đường chánh người đi đường tà, đem trước để sau, lấy sau để trước, ta nhẫn ngươi được, ngươi không nhẫ ta, ngươi nói điều gì đều không chánh đáng, nếu có nghi ngờ hãy đến hỏi ta, đáp cho cả, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó ; các Bà-la-môn khác thì tìm đủ phương tiện làm thông sứ cho vua, đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ , đi từ đây đến kia, từ kia đến đây, đem tin qua lại, hoặc tự làm, hoặc dạy người làm, còn Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì lo luyện tập chiến đấu tranh, đao gậy cung tên, chọi gà, chó, heo, dê, voi, ngựa, trâu, lạc đà, hoặc đấu tài trai gái, hoặc luyện các thứ tiếng, tiếng thổi, tiếng trống, tiếng ca, tiếng múa, luyện các trò kỹ thuật, leo có lộn nhào, còm Sa-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì ăn của tín thí rồi làm việc chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như xem tướng
 
 
 
 

* Trang 248 *
device

trai gái tốt xấu lành dữ, xem tướng súc sinh để cầu lợi dưỡng, còn Bà-la-môn Cù Đàm không có các việc đó; các Bà-la-môn khác thì ăn của tín thí rồi làm việc chướng đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy như kêu gọi sai khiến, ếm đảo quỷ thần, dùng vô số cách làm người ta khiếp sợ, làm tụ lại làm tan ra, làm cho khỏ, làm cho vui, làm an thai sản sinh, hoặc phù chú người ta hóa làm lựa ngựa, hóa điếc đui câm ngọng, hoặc vòng tay đứng ngó mặt trăng mặt trời, làm đủ trò khổ hạnh để cầu lợi dưỡng, hoặc chú đảo, bệnh tật, đọc ác thuật, tụng thiện chú, làm thuôc thang, châm chíc trị liệu bệnh tật, hoặc tụng chú nước lửa, chú quỷ, chú Sát lỵ, chú chim, chú chi tiết, chú an trạnh, chú giải trừ lứa đốt, chuột cắn, hoặc tụng các thứ sách đoán biết chết sống, tụng sách đoán mộng, xem tướng tay tướng mặt, hoặc tụng sách thiên văn, tụng sách âm nhạc, hoặc xem thời tiết đoán có mưa không mưa, được mùa mất mùa, nhiều bịnh ít bịnh, khủng khiếp hay yên ổn, hoặc nói động đất, sao chổi, nguyệt thực, nhật thực, tinh thực hay không, rồi tùy chỗ xuất hiện mà đoán trước việc xảy ra, hoặc nói nước này sẽ thắng nước kia sẽ thua, xem tướng cát hung mà đoán việc suy thạnh, còn Sa-môn Cù Đàm không làm các việc như vậy”.
         Này các Tỷ-kheo! Đó là những nhân duyên nhỏ nhặt về giới luật mà hàng phàm phu quả văn thường nương lấy để tán thán Như Lai.
 
 

* Trang 249 *
device

       Này các Tỷ-kheo! Còn có pháp sâu xa vi diệu, chánh đại quang minh hơn, mà chỉ hàng đệ tử Hiền thánh mới lấy đó để tán thán Như Lai thôi, pháp ấy là: các đạo sĩ và Bà-la-môn tùy sở thích, kiến thức mà xướng lên vô số luận chấp sai lầm, nhưng qui kết lại, không ra ngoài, không nhiều hơn 62 luận chấp (lục nhập nhị kiến) hoặc thuộc về loại bổn kiếp bổn kiến hoặc thuộc về loại mạt kiếp mạt kiến (1).
         Về Bổn kiếp Bổn kiến, các đạo sĩ và Bà-la-môn cứ theo sở kiến của mình mà xướng lên vô số luận chấp, nhưng qui kết không ra ngoài, không nhiều hơn 18 luận chấp sau đây:
         Trước hết, có người chủ trương “thường chú luận” cho rằng: bản ngã và thế gian là thường trú bất biến. Loại này có 4 thứ:
       1. Có những đạo sĩ hay Bà-la-môn, dùng nhiều phương thức để nhập định, rồi nhờ định tâm nhớ được trong vòng thời gian 20 thành kiếp, hoại kiếp mà xướng lên rằng: bản ngã và thế gian là thường trú bất biến, vì chính ta nhờ định tâm nhớ lại trong vòng 20 thành kiếp, hoại kiếp (2) thấy
 
 
 
 
 
(1)Bổn kiếp là kiếp quá khứ, những kiến chấp hướng về quá khứ, gọi là bổn kiếp bổn kiến. Mạt kiếp là kiếp vị lai, những kiến chấp hướng về vị lai thì gọi là mạt kiếp mạt kiến.
(2)Thành kiếp, hoại kiếp, trụ kiếp, không kiếp là 4 khoảng thời gian lâu dài của thế giới khi thành lập, khi tồn tại, khi hư hoại và khi trống không. Thành, trụ, hoại, không là 4 trung kiếp, gồm 4 trung kiếp thành một đại kiếp. Mỗi trung

* Trang 250 *
device

chúng sinh trong đó không thêm không bớt, thường tụ không tán, đó là thật ngoài ra là hư dối.
          1. Có những đạo sĩ hoặc Bà-la-môn nhờ định tâm nhớ được trong thời gian 40 thành kiếp, hoaị kiếp, rồi xướng lên rằng: bản ngã và thế gian là thường trú bất biến…(như trên – lược…), đó là thật, ngoài ra là hư dối.
          2. Có những đạo sĩ hoặc Bà-la-môn nhờ định tâm nhớ được trong vòng thời gian 80 thành kiếp, hoại kiếp, rồi xướng lên rằng: bản ngã và thế gian là thường trú bất biến… (như trên – lược…), đó là thật, ngoài ra là hư dối.
          3. Hoặc có kẻ đạo sĩ và Bà-la-môn không nhờ định tâm mà lại nhờ trí biết pháp tướng lanh lợi, giỏi quan sát, tự cho biết đúng, rồi đem sở kiến của mình, biện tài của mình, mà xướng lên rằng: bản ngã và thế gian là thường trú bất biến.
       Này các Tỷ-kheo! Đó là 4 luận chấp sai lầm thuộc loại bổn kiếp bổn kiến mà hàng đạo sĩ và Bà-la-môn đã đề xướng. Những luận chấp ấy Như Lai đều biết rõ, và biết nhiều hơn chỗ họ đã tin như vậy, nhưng Như
 
 
 
 
 
 
kiếp gồm 20 tiểu kiếp, mỗi tiểu kiếp gồm 1 lần tăng, 1 lần giảm của tuổi thọ con người. Con người sống từ 84.000 năm, cứ 100 năm giảm 1 tuổi, đến khi chỉ sống 10 tuổi gọi là 1 lần giảm, ngược lại từ 10 tuổi lên đến 84.000 tuổi, gọi là 1 lần tăng. Vậy tiểu kiếp có một số năm là 84.000 x 100 x 2: 16.800.000; Trung kiếp có 16.800.00 x 20: 336.000.000; Đại kiếp có: 336.000.000 x 4: 1.334.000.000 năm (theo luận Đại trí độ).

* Trang 251 *
device

Lai không hề để ý chấp trước, vì không chấp trước nên Như Lai giải thoát tịch diệt. Như Lai biết sự sanh khởi và tiêu diệt của các thọ, biết sự ái nhiễm và tội lỗi của các thọ, biết sự thoát ly các thọ, và nhờ trí tuệ quán sát bình đẳng mà chứng được Vô dư giải thoát (giải thoát hoàn toàn), nên gọi là Như Lai. Đó đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu, khiến hàng đệ tử Phật đem tâm chân thành bình đẳng tán thán Như Lai.
          Lại có người chủ trương “bán thường bán vô thường luận” cho rằng bản ngã và thế gian một nữa thường mọt nữa vô thường. Loại này có 4 thứ:
          1. Đến lúc nọ, nhằm buổi sơ thủy của cõi thế gian này, có hạng chúng sinh ở cõi trời Quang âm (1) vì hết phước, hết tuổi thọ, hết nghiệp báo ở cõi trời mả phải sanh xuống một cõi trời thấp một cõi thấp chót ở Sắc giới là cõi Phạm thiên. Được sinh vào đó một mình trước tiên, mới sinh tâm ái trước mà ước mong rằng: “mong cho nhiều chúng sinh khác sinh ở cõi Quang âm vì hết phước , hết tuổi thọ, hết nghiệp báo cõi trời nên cũng phải sinh xuống cõi Phạm thiên. Thấy vậy, vị trời sinh tới trước tiên kia mới sinh tâm nghĩ rằng: “ở đây chính là Đại Phạm Thiên, ta tự nhiên có, không do ai sinh, ta biết khắp mọi điều,
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1) Quang âm là tầng trời thứ ba ở Sắc giới, kể từ dưới lên.

* Trang 252 *
device

cai quản ngàn thế giới, ta tự tại tôn quí, biến hóa bậc nhất, ta là cha chúng sinh, riêng ta có trước còn các chúng sinh kia có sau toàn do ước muốn của ta mà hóa thành cả”. Trong khi đó có những chúng sinh tới sau cũng lầm tưởng rằng: “kia là Đại Phạm thiên, tự sinh, không do ai sinh, ngài biết khắp mọi điều, cai quản ngàn thế giới, ngài tự tại biến hóa nhiệm mầu bậc nhất, ngài là cha chúng ta, riêng ngài có trước, sau mới có chúng ta, chúng ta đều do sự ước muốn của ngài mà hóa thành”. Lâu xa về sau trong số chư thiên đó có kẻ hết phước báo phải sinh xuống nhân gian và được xuất gia hành đạo, chuyên tâm nhập định, rồi nhờ định tâm biết lại tiền kiếp từng làm chư thiên, mới xướng lên rằng: “ Vị trời Đại Phạm kia, ngài tự sinh, không do ai sinh, ngài biết đủ mọi điều, cai quản ngàn thế giới, rất tự tại tôn quí và biến hóa nhiệm mầu bậc nhất, ngài là cha chúng sinh, ngàithường trú bất biến, còn chúng ta do ngài tạo hóa, chúng ta vô thường bất dịch”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ nhất mà các hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để cho rằng bản ngã và thế giới một nửa thường một nửa vô thường (1).
 
 
 
 
 
 
 
 
(1) Thường vô thường ở đây nên hiểu là thường kiến đoạn kiến tức chấp vạn vật thường tồn hay đoạn diệt, Phật cũng dạy “hết thảy vô thường” nhưng không phải theo lối đoạn diệt này, nên không mắc lỗi.
 
 
 

* Trang 253 *
device

       2. Cùng ở cõi Phạm thiên, nhưng có chúng sinh vì thường say mê trong những cuộc vui chơi cười cợt hóa ra thân thể bì quyện và tâm lý phải bị lu mờ hư hỏng. Đến khi mệnh chung họ phải sinh xuống cõi nhân gian làm người và được xuất gia tu đạo, lo chuyên tâm nhập định. Nhờ định tâm họ biết lại được tiền kiếp lúc ở cõi trời, rồi xướng lên rằng: “các chúng sinh kia nhờ không say mê cười cợt một cách khờ dại nên được thường trú bất biến ở cõi trời, còn chúng ta vì hay say mê cười cợt nên phải bị vô thường biến dịch như thế này”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ hai mà các hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để cho rằng bản ngã và thế gian một nữa thường và một nữa vô thường.
          3. Cùng ở cõi Phạm thiên nhưng có chúng sinh vì say mê ngó liếc ghen tỵ nhau nên tâm ý phải bị lu mờ hư hỏng. Đến khi mệnh chung, họ phải sinh xuống cõi nhân gian làm người và được xuất gia hành đạo, lo chuyên tâm nhập định. Nhờ định tâm họ biết lại được tiền kiếp lúc ở cõi trời , rồi xướng lên rằng: “các chúng sinh kia nhờ không say mê ngó liếc ghen tỵ nên tâm ý không bị lu mờ hư hỏng mà được thường trú bất biến ở cõi trời, còn chúng ta vì hay say mê ngó liếc ghen tỵ nên tâm ý bị lu mờ hư hỏng đến phải làm thân vô thường biến dịch như thế này”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ
 
 
 
 

* Trang 254 *
device

ba mà các hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để cho bản ngã và thế gian một nửa thường một nữa vô thường.
          4. Có đạo sĩ và Ba-la-môn không do định tâm mà do trí lanh lợi, giỏi quan sát, rồi xem tài xảo biện của mình xướng lên rằng: “bản ngã và thế gian một nửa thường một nửa vô thường”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ tư mà các đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để cho rằng bản ngã về thế gian một nửa thường một nửa vô thường. Này các Tỷ-kheo! Đó là 4 luận chấp sai lầm thuộc loại bổn kiếp bổn kiến mà hàng đạo sĩ hoặc Bà-la-môn đã đề xướng. Chỉ có Như Lai biết rõ luận chấp đó, và biết nhiều hơn nữa, họ đã tin như thế nào, nhưng Như Lai không hề để ý chấp trước nên Như Lai được giải thoát diệt độ. Như Lai biết sự sanh khởi và diệt tận của các thọ, biết sự nhiễm ái và tội lỗi của các thọ, biết sự thoát ly các thọ và nhờ trí tuệ quán sát bình đẳng mà được giải thoát hoàn toàn, nên gọi là Như Lai. Đó là đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu, khiến các đệ tử Phật đem lòng chân thành bình đẳng mà tán thán Như Lai.
          Thứ lại có người chủ trương “ Hữu biên vô biên luận” cho rằng bản ngã và thế gian là hứu biên hoặc vô biên. Loại này có 4 thứ:
 
 

* Trang 255 *
device

1. Có những đạo sĩ và Bà-la-môn dùng nhiều phương thức để nhập định rồi nhờ định tâm quan sát thế cõi thế gian này có giới hạn, liền xướng lên rằng: bản ngã và thế gian là hữu biên.
          2. Có những đạo sĩ và Bà-la-môn nhờ định tâm quan sát thấy cõi thế gian này khong có giới hạn, liền xướng lên rằng: bản ngã và thế gian vô biên.
          3. Có những đạo sĩ và Bà-la-môn nhờ định tâm quan sát thấy cõi thế gian này , ở thượng phương có giới hạn, còn 4 phương kia thì không giới hạn, liền xướng lên rằng: bản ngã và thế gian vừa hữu biên vừa vô biên.
          4. Có những đạo sĩ và Bà-la-môn chỉ nhờ có trí lanh lợi về các hiện tượng và giỏi quan sát, rồi đem tài quan sát xảo biện của mình xướng lên rằng: bản ngã và thế gian chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Này các Tỷ-kheo! Đó là 4 lý lẽ sai lầm thuộc loại bổn kiếp bổn kiến mà hạng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo đểcho rằng: bản ngã và thế gian là hữu biên vô biên. Chỉ Như Lai mới biết rõ tà chấp đó, và biết nhiều hơn nữa. Họ đã tin như thế nào, chấp như thế nào, có báo ứng như thế nào, nhưng Như Lai không hề để ý chấp trước, nên Như Lai được giải thoát tịch diệt. Như Lai biết sự sinh khởi và diệt tận của các thọ, biết sự ái nhiễm và tội lỗi của các thọ, biết sự thoát ly các thọ và đem trí

* Trang 256 *
device

tuệ quan sát bình đẳng mà được giải thoát hoàn toàn. Đó là đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu khiến hàng đệ tử Phật đem lòng chân thành bình đẳng tán thán Như Lai.
          Lại có các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương: “Hỏi một đường đáp một ngã”. Loại này cũng có 4 thứ:      
          1. Có các đạo sĩ và Bà-la-môn lý luận rằng: ta nay không biết rõ làm điều thiện ác có quả báo hay không có quả báo. Nếu có kẻ học rộng nghe nhiều, trí tuệ thông minh, thường ưa ở chỗ thanh vắng suy ngẫm, có cơ trí biện luận tinh vi, phân biệt rành rẽ mọi điều, được ai nấy tôn trọng, họ đến hỏi ta các nghĩa lý thâm áo mà ta không đáp được thì sẽ thẹn với họ, tất phải sợ họ, chi bằng ta hãy dùng câu đáp sau này làm chỗ dựa, làm hòn đảo, làm cửa nhà, làm đạo lý cứu kính cho mình. Nếu có ai hỏi “làm điều thiện ác có quả báo hay không”, ta sẽ đáp ngay “việc đó như thế, việc đó có thật, việc đó khác, việc đó không khác, việc đó chẳng phải khác chẳng phải không khác”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ nhất mà các đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để chủ trương: “Hỏi một đường đáp một ngã”.
          2. Có những đạo sĩ và Bà-la-môn lý luận rằng: mấy người có Thiên nhãn (mắt thấy xa như mắt trời) và Tha tâm trí – (trí biết mấy tâm người khác), họ
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 257 *
device

thấy rõ các việc xa xôi , họ gần kẻ khác mà kẻ khác chẳng thấy họ, mấy người ấy mới biết rõ ngoài đời này còn có đời khác hay không có đời khác, còn ta không biết được có đời khác, còn ta không biết được có đời khác mà cứ nói có thì thành vọng ngữ. Nhưng ta ghét sợ nghiệp vọng ngữ lắm, nên hễ ai hỏi: “có đời khác hay không?”, ta sẽ đáp ngay: “việc đó như thế, việc đó có thật, việc đó khác, việc đó chẳng khác , việc đó chẳng phải khác chẳng phải không khác”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ hai mà các đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để chủ trương: “Hỏi một đường đáp một ngã”.
          3. Có các đạo sĩ và Bà-la-môn lý luận rằng: ta không biết rõ thế nào là thiện, thế nào là bất thiện. Đã không biết rõ cứ nói như vầy là thiện, như kia là bất thiện, thành ra ta còn có ưa thích, dã có ưa thì có ghét, có ưa có ghét thì có sự lãnh thọ, nhưng ta muốn diệt trừ lãnh thọ, vì lãnh thọ là khổ, nên mới xuất gia hành đạo. Vì lẽ ta ghét sợ sự lãnh thọ đó, nên hễ ai hỏi: “thế nào là thiện? Thế nào là ác? Ta sẽ đáp ngay: “việc đó như thế, việc đó có thật, việc đó khác, việc đó chẳng khác, việc đó chẳng phải khác chẳng phải không khác”. Này các Tỷ-kheo! Đó là lý lẽ sai lầm thứ ba mà các hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo chủ trương: “Hỏi đàng đáp ngã”
          4. Có các đạo sĩ và Bà-la-môn vì ngu si ám độn không biết phân biệt phải quấy ra sao, nên bất cứ ai
 
 
 
 
 

* Trang 258 *
device

hỏi điều gì cũng chỉ đáp bằng một câu: “việc đó như thế, việc đó có thật, việc đó không thật, việc đó khác, việc đó chẳng khác, việc đó chẳng phải khác chẳng phải không khác”. Này các Tỷ-kheo! Đó là điều sai lầm thứ tư mà các đạo sĩ và Bà-la-môn vì ngu si nên chủ trương: “hỏi đàng đáp ngã”.
          Này các Tỷ-kheo! Trên đó là 4 luận chấp thuộc loại bổn kiếp bổn kiến mà hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường đề xướng. Chỉ Như Lai biết rõ chỗ lầm chấp đó và biết nhiều hơn nữa họ đã tin như thế nào, chấp như thế nào, có báo ứng như thế nào, nhưng Như Lai không hề để ý chấp trước, nên được giải thoát tịch diệt. Như Lai biết rõ sự sanh khởi và tận diệt của họ, biết sự ái nhiễm và tội lỗi của thọ, biết sự thoát ly các thọ và đem trí tuệ quan sát bình đẳng mà được giải thoát hoàn toàn. Ấy là đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu khiến hàng đệ tử Phật đem lòng chân thành tán thán Như Lai.
          Thứ lại có người chủ trương “vô nhân luận” cho rằng bản ngã và thế gian tự nhiên có ra, không nguyên nhân nào cả. Loại này có 2 thứ:
          1. Hoặc có những chúng sinh ở vào một thế giới không tâm tưởng tri giác, nếu bỗng nhiên họ khởi sinh tư tưởng, tức thì họ chết và sinh xuống nhân gian làm người và được xuất gai hành đạo, chuyên tâm nhập định. Nhờ định tâm họ biết được tiền kiếp
 

* Trang 259 *
device

của mình ở cõi Vô tưởng, mới xướng lên rằng: “ta trước vốn không nay bỗng nhiên có, thế gian trước vốn không nay bỗng nhiên có”.
          2. Các bậc đạo sĩ và Bà-la-môn nhờ có tài lanh lợi về các hiện tượng và giỏi quan sát, mới đem tài xảo biến quan sát của mình xướng lên rằng: “Ta trước vốn không nay bỗng nhiên có, thế gian này trước vốn không nay bỗng nhiên có’. Này các Tỷ-kheo! Đó là 2 luận chấp sai lầm thuộc loại bổn kiếp bổn kiến mà hàng đạo sĩ và Bà-la-môn thường dựa theo để cho rằng: “Bản ngã và thế gian vô nhân tự có”, Chỉ Như Lai mới biết rõ các điều lầm chấp ấy, và biết nhiều hơn nữa, họ đã tin như thế nào, chấp như thế nào, có báo ứng như thế nào, nhưng Như Lai không hề để ý chấp trước, nên được giải thoát tịch diệt. Như Lai biết rõ sự sanh khởi và diệt tận của các thọ, biết sự nhiễm ái và tội lỗi của các thọ, biết sự thoát ly các thọ, và đem trí tuệ quán sát bình đẳng mà được giải thoát hoàn toàn. Đó là đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu, khiến hàng đệ tử Phật đem lòng chân thành tán thán Như Lai.     
Còn về loại Mạt kiếp Mạt kiến, như các đạo sĩ và Bà-la-môn cứ theo sở kiến của mình, xướng lên vô số luận thuyết khác nhau, nhưng qui kết không ra ngoài, không nhiều hơn 44 thứ dưới đây:
 
 
 
 

* Trang 260 *
device

Trước hết có các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương “hữu tưởng luận” cho rằng cõi thế gian có tư tưởng. Loại này gồm chỉ 16 thứ: có người cho rằng sau khi ta chết ở đây sẽ sinh vào cõi có sắc chất và có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây , sẽ sinh vào cõi không sắc chất chỉ có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi vừa có sắc vừa không sắc chất nhưng có tư tưởng; có người cho rằng sau khi chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chẳng phải có sắc chẳng phải không sắc chất nhưng có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây sẽ sinh vào cõi có biên giới và có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây sẽ sinh vào cõi chẳng phải có chẳng phải không bien giới nhưng có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi thuần một mặt hưởng vui và có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi thuần mọt mặt chịu khổ và có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi có vui có khổ và có tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chúng sinh chỉ có cùng một tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chúng sinh có bao nhiêu tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ

* Trang 261 *
device

sinh vào cõi chúng sinh chỉ một tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chúng sinh có vô lượng tư tưởng. Đó là 16 luận chấp sai lầm thuộc loại Mạt kiếp, Mạt kiến, chỉ có Như Lai thấu hiểu rõ ràng, nhưng không chấp trước…
          Thứ lại có các đạo sĩ và Bà-la-Môn chủ trương: “Vô tưởng luận” cho rằng cõi thế gian không có tư tưởng. Loại này gồm chỉ 8 thứ: có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi có sắc chất mà không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi không sắc chất và không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi vừa có vừa không sắc chất và không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chẳng phải có chẳng phải không sắc chất và không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi biên giới mà không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi không biên giới và không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi vừa có vừa không biên giới và không tư tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chẳng phải có chẳng phải không biên giới và không tư tưởng. Đó là 8 luận chấp sai lầm thuộc loại Mạt kiếp, Mạt kiến, chỉ có Như Lai thấu hiểu rõ ràng, nhưng không chấp trước…
 
 
 
 

* Trang 262 *
device

Thứ lại có các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương “Phi tưởng phi phi tưởng luận” cho rằng cõi thế gian chẳng phải chẳng phải không tưởng. Loại này gồm chỉ 8 thứ: Có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi có sắc chất mà phi hữu tưởng phi vô tưởng; có người cho rằng sau khi chết ở đây, sẽ sinh vào cõi không sắc chất mà phi hữu tưởng phi vô tưởng ; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi vừa không sắc chất mà phi hữu tưởng phi vô tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ớ đây, sẽ sinh vào cõi có biên giới mà phi hữu tưởng phi vô tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây , sẽ sinh vào cõi vừa có vừa không biên giới mà Phi hữu tưởng, phi vô tưởng; có người cho rằng sau khi ta chết ở đây, sẽ sinh vào cõi chẳng phải có chẳng phải không biên giới mà Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Đó là 8 luận chấp sai lầm thuộc loại Mạt kiếp Mạt kiến, chỉ Như Lai thấu hiểu rõ ràng, nhưng không chấp trước…
          Thứ lại các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương: “Đoạn diệt luận” cho rằng chúng sinh chết rồi mất hẳn. Loại này gồm chỉ 7 thứ: Có người cho rằng xác thân gồm 4 đại là đất, nước, gió, lửa và 6 giác quan này, do cha mẹ sinh ra và nhờ sự bú mớm, nuôi nấng, áo, cơm, vuốt ve, vệ hộ mới được khôn lớn, nó
 
 
 
 
 

* Trang 263 *
device

là vô thường, biến đổi, tất phải diệt tận; có người cho rằng cái thân ta ở đây không thể bảo là diệt tận, cái thân ta ở cõi trời Dục giới mới diệt tận; có người cho rằng chỉ có cái thân hóa sinh gồm đủ giác quan của ta ở cõi Sắc giới, mới bị diệt tận; có người cho rằng chỉ có cái thân ở cõi trời Vô sắc không không xứ mới bị diệt tận; có người cho rằng có cái thân ta ở cõi Vô sắc Thức xứ mới bị diệt tận; có người cho rằng chỉ có cái thân ta ở cõi Vô sắc bất dụng xứ mới bị diệt tận; có người cho rằng chỉ có cái thân ở cõi Vô sắc Phi phi tưởng xứ mới bị diệt tận. Này các Tỷ-kheo! Đó là 7 luận chấp sai lầm thuộc loại Mạt kiếp Mạt kiến, chỉ có Như Lai thấu biết rõ ràng, nhưng không chấp trước…
          Thứ lại có các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương: “Hiện tại Niết-bàn luận” cho rằng chúng sinh hiện tại vẫn được Niết-bàn. Loại này gồm chỉ 5 thứ: 1.Có người cho rằng ta hiện đang vui hưởng cảnh ngũ dục, thế là ta được Niết-bàn hiện tại. 2. Có người bảo đó vẫn là Niết-bàn hiện tại thật, nhưng còn có Niết-bàn vi diệu hơn mà chỉ riêng ta biết, chứ người không biết, như khi ta nhờ xa lìa dục lạc, tội ác, nhưng tâm còn có giác có quán (là còn dụng công suy tư), được rời hẳn dục lạc sinh niệm vui mừng cao thượng, vào cõi sơ thuyền, ấy mới là Niết-bàn hiện tại. 3. Có người lại bảo còn có cảnh Niết-bàn cao hơn mà chỉ riêng ta biết chứ người không biết được,
 
 
 
 

* Trang 264 *
device

như khi ta nhờ diệt trừ giác quan, chỉ thủ một niệm mừng, không giác không quán rồi phát sinh niệm vui mừng cao thượng , vào cõi nhị thuyền, ấy mới là cõi Niết-bàn cao hơn, mà chỉ riêng ta biết chứ chứ ngươi không biết được, như khi ta nhờ đuổi hết các nổi vui buồn thô động, chỉ giữ lại niềm vui nhẹ nhàng, rồi vệ hộ niềm vui đó như hiền thánh ước mong tán thán, được vào cõi tam thuyền, ấy mới gọi là cõi Niết-bàn hiện tại 5. Có người bảo có cõi Niết-bàn cao hơn, mà chỉ riêng ta biết chứ ngươi không biết được, như khi ta nhờ đuổi hết mọi niềm vui khổ sau khi đã diệt trừ hết niệm lo mừng, chỉ giữ lại một niệm thanh tịnh không vui không khổ, được vào tứ thuyền, ấy là cõi Niết-bàn cao nhất. Này các Tỷ-kheo! Đó là 5 luận chấp sai lầm thuộc loại Mạt kiếp Mạt kiế, chỉ có Như Lai thấu hiểu rõ ràng, nhưng không chấp trước… Các ông nên biết đó đại pháp quang minh thậm thâm vi diệu, khiến hàng đệ tử Phật đem lòng chân thành tán thán Như Lai.
                   Và lại, các đạo sĩ và Bà-la-môn chủ trương: “bản ngã và thế gian thường trú” cho đến chủ trương “chúng sinh hiện tại Niết-bàn” thì trí họ chỉ có chừng ấy, họ chỉ có lòng tin dị đoan, mong muốn dị đoan, nghe học dị đoan, trợ duyên dị đoan, cảnh giác dị đoan, kiến giả dị đoan, nhập định dị đoan, nhẫn nại dị đoan, rồi dựa theo tri kiến dị đoan đó họ tuyên
 
 
 

* Trang 265 *
device

bố ra cho mọi người. Các chủ trương như thế đều do thọ phát sanh, nghĩa là các đạo sĩ và Bà-la-môn, sở dĩ chủ trương thế gian thường trú cho đến chủ trương chúng sinh hiện tại Niết-bàn, bởi họ dựa vào cái mà họ đã cảm xúc lãnh thọ được rồi cứ sinh lòng ưa thích theo, không chịu giác tỉnh. Hễ càn nhiễm đắm theo chỗ ưa thích chừng nào lalij càng bị chôn lấp đè bẹp chừng ấy.
         Và lại, các đạo sĩ và Bà-la-môn sở dĩ chủ trương thế gian thường trú cho đến chủ trương chúng sinh hiện tại Niết-bàn, cũng bởi họ dựa vào sự xúc đối phân biệt của 6 giác quan, nếu không xúc đối thời cũng không thể có các chủ trương.
         Này các Tỷ-kheo! Đó là 62 luận chấp sai lầm hoặc thuộc loại Bổn kiếp Bổn kiến, hoặc loại thuộc Mạt kiếp Mạt kiến mà các đạo sĩ và Bà-la-môn đã đè xướng tùy theo sở kiến của mình. Ta chỉ nói nội 62 luận chấp đó là đã bao gồm tất cả, ví như người đánh cá dùng cái lưới nhỏ mặt bủa trùm vào một cái ao nhỏ, thì bao nhiêu loài vật trong ao đều lọt cả vào lưới chứ không thể trốn tránh ngã nào. Tuy vậy, nếu vị Tỷ-kheo nào đối với 6 xúc đối của 6 giác quan biết được một cách đúng đắn như thật về sự phát khởi, sự diệt tận, sự nhiễm ái, sự tội lỗi, và sự thoát ly nó, thì sẽ vượt ra ngoài vòng các kiến chấp sai lầm trên đó.
 
 
 
 
 

* Trang 266 *
device

         Như Lai tự biết rõ đã dứt hết sanh tử, song sở dĩ Như Lai còn có thân là vì muốn gây phước lợi để cứu độ hàng chư thiên và nhân loại, nếu Như Lai không thân thời hàng chư thiên và nhân loại không biết đâu nương tựa, ví như giống cây đà la (như cây cao, dừa) hễ đã cắt ngang thì không mọc lại, Như Lai cũng thế, đã dứt hết sinh tử luân hồi, vĩnh viễn không tái sinh lại nữa.
         Đương lúc Phật thuyết pháp môn này, cả thế giới đại thiên 3 phen rung động theo 6 cách. Tôn giả A Nan đang cầm quạt đứng hầu sau Phật, liền trạch vai áo quì gối, chấp tay bạch Phật rằng: “Pháp môn này rất thâm diệu, hãy gọi bằng tên gì? Làm sao phụng hành?” Phật dạy nên gọi là kinh Nghĩa động, Pháp động, Kiến động, Ma động, Phạm động.
         Tôn giả A Nan nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
 
 
 
*
 
*               *
 
 
                                                         
 

* Trang 267 *
device

 
Kinh Trường A Hàm