LOGO VNBET
KINH DU HÀNH
(Lược thuật tiếp giai đoạn Phật nhập Niết-bàn cho tới khi phân chia Xá-lợi dựng tháp tôn thờ)

          III


 
…Vua Đại Thiện Kiến thầm nghĩ: Ta sẵn chứa công đức gì, tu được nhiều điều lành mà nay được quả báu nguy nga như thế? Vua lại nhớ rằng nhờ 3 nhân duyên mà gây được phúc báu đó: một là bố thí, hai là trì giới, ba là thiền tư. Vua lại suy nghĩ: “ Nay ta lại được thọ hưởng phúc báo nhân gian, ta hãy tiến tu thêm về phúc nghiệp thiên thượng, tự hãy hạn chế, lánh chỗ ồn ào ở chỗ yên tĩnh để tu luyện”. Vua liền bảo cho ngọc nữ biết ý, ngọc nữ vâng lời, ra lệnh cho cả trong ngoài từ nay miễn sự chầu hầu. Vua liền lên pháp điện, ngồi kiết già tư duy về tội ác bất thiện của tham dục. Trong lúc tư duy với tâm niệm còn có giác có quán thì được ly sinh hỷ lạc(1) chứng được thiền thứ nhứt. Tiếp trừ diệt giác quán,trong lòng vui vẻ, nhiếp tâm chuyên nhất không giác quán thì được định sanh hỷ lạc, chứng bậc thiền thứ hai. Tiếp xả bỏ tướng mừng, nhiếp tâm chuyên nhất, tự cảm thấy có cái vui nhẹ nhàng theo như chỗ hiền thánh mong cầu, rồi cứ giữ gìn một niệm vui đó mà chứng được bậc thiền thứ ba. Tiếp dứt bỏ niệm
 
 

(1)Tâm ly tham dục mà phát sinh vui mừng.

* Trang 108 *
device

mừng, lo, vui, khổ, chuyên giữ một niệm thanh tịnh dửng dưng không vui không khổ ( xả niệm) mà chứng bậc thiền thứ tư.
          Vua từ giường ngự đứng dậy, ra khỏi lầu vàng, đi đến lầu Đại chánh, tu tập về từ tâm, rải lòng từ đầy khắp một phương này rồi đến một phương khác, bình đẳng vô lượng, để giải trừ sân hận cho chúng sinh. Tâm vua không còn chút ganh ghét, mà trái lại vui điều tĩnh mặc từ nhu, rồi tiếp tu về bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế.
          Khi vua sắp mệnh chung, ngọc nữ đến tâu: “ Phàm bao nhiêu thứ quý báu đều thuộc của vua, mong Ngài tạm lưu ý, cùng hưởng vui thú, chớ vội qua đời, bỏ vạn dân cô quạnh”. Vua đáp: “ Từ trước đến nay, ngươi cung phụng ta một cách từ hòa kính thuận, chưa bao giờ có lời nói thô lậu, sao nay ngươi lại có lời ấy?” Ngọc Nữ tâu: chẳng hay lời ấy có gì trái ý vua?” Vua nói: “Ngươi vừa nói các thứ voi, ngựa, xe cộ, đền đài, y phục, hào soạn quý báu kia đều vô thường, không giữ gìn lâu được, mà khuyên ta lưu lại hưởng thụ, như thế có hợp chăng?” Ngọc Nữ tâu: “ Chẳng hay phải nói thế nào mới hợp”. Vua bảo: “ Gía ngươi nói các thứ voi, ngựa xe cộ, đền đài, y phục, hào soạn đều vô thường, không giữ gìn lâu được mà khuyên ta đừng mê luyến đến làm chi cho lao thần tổn tứ. Vì mạng vua chẳng còn bao lâu sẽ qua đời khác. Hễ có sanh tất có chết, có
 
 

* Trang 109 *
device

hợp tất có ly, đâu phải sống đời ở đây được. Vậy xin khuyên vua nên gấp cắt đứt ân ái để chuyên tâm vào đạo lý. Nếu ngươi nói như thế tức thuận hợp”. Ngọc nữ buồn khóc nhắc lại lời vua. Một lát sau, bỗng nhiên vua mệnh chung không chút đau khổ, như kẻ tráng sĩ trong một bữa ăn ngon, và liền được sanh lên cõi trời phạm thiên thứ bảy(1).
          Sau khi vua băng 7 ngày, các thứ xe báu, thần châu biến mất,voi báu, ngựa báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, quân binh báu cũng một ngày chết hết, thành ao đền đài, cây vàng là ngọc đều biến thành cây, đất.
          Phật bảo: “này A Nan! Các pháp hữu vi đều biến dịch vô thường, chung qui mà diệt, những kẻ phàm phu cứ tham muốn mãi không chán làm cho tiêu tán nhân tâm, mê say ân ái không hề biết đủ, chỉ người nào có thánh trí thấy rõ đạo lý, mới biết đủ mà thôi”.
          Này A Nan! Ta nhớ đã từng 6 lần Ta làm Chuyển luân thánh vương và bỏ xác tại chỗ này, nay Ta thành ngôi chánh giác, lại cũng muốn bỏ xác tại đây, từ nay về sau, Ta đã dứt tuyệt sanh tử, không còn có chỗ nào là nơi Ta bỏ xác Ta nữa. Đây là kiếp cuối cùng. Ta không còn thọ sinh trở lại nữa”.
 

(1)Cõi Phạm thiên tức là một từng trời thấp chót ở Sắc giới. Lên khỏi 6 cõi trời Dục giới là đến Phạm thiên

* Trang 110 *
device

Này A Nan! Ông hãy vào thành Câu Thi Na Kiệt, báo tin cho dân chúng dòng Mạt-la  (Malla = lực sĩ) rằng: “chư hiền nên biết, Như Lai định đến nửa đêm nay sẽ vào Niết-bàn tại giữa cây song thọ trong rừng Sa-la. Các ngươi nên kịp thời đến thưa hỏi các điều nghi ngờ và trực tiếp nghe Phật chỉ dạy, để sau khỏi hối hận ăn năn”. A Nan vâng lời, buồn khóc ra đi dắt theo một Tỷ-kheo khác.
          Khi vào thành gặp 500 Mạt la nhân có chuyện đang họp cả một chỗ. Họ thấy A Nan đến, đều đứng dậy chào hỏi rồi đứng về một bên, và bạch rằng: “Không hiểu Tôn giả có việc gì mà phải vào thành lúc trời sắp tối thế này?” A Nan rơi lệ vừa nói: “ Ta vì lợi ích có ngươi, đến tin các ngươi hay đức Như Lai đến nửa đêm nay sẽ Vào Niết-bàn. Các ngươi nên kịp thời đến thưa hỏi những điều hoài nghi để sau khỏi ăn năn”. Vừa nghe xong, dân chúng Mạc-la cất tiếng kêu than, vật vã xuống đất, có người ngất đi tỉnh lại, ví như cây lớn khi trúc gốc thì các nhánh nhấp đều đổ gãy. Họ đồng than: “ Phật diệt độ làm sao mau quá! Phật diệt độ làm sao mau quá! Con mắt của thế gian mà diệt mất, thì chúng sinh bị suy bại lâu dài”. A Nan an ủi họ: “Thôi các ngươi chớ buồn! Trời đất muôn vật hễ có sanh đều có chết, muốn cho pháp hữu vi tồn tại mãi là điều không thể có được, Phật há chẳng dạy: “Có hợp tất có ly, có sanh tất có diệt” đó sao!
 
 
 

* Trang 111 *
device

Các Mạt-la bảo nhau về nhà, đem cả quyến thuộc và 500 khổ vải trắng, chiều hôm đó ra khỏi thành cùng đi đến rừng Sa-la tới chỗ A Nan. A Nan vừa trông thấy bóng họ, thầm nghĩ: “ Nếu để cho mỗi từng người vào yết kiến Phật, chắc không sắp được. Đức Như Lai sắp diệt độ rồi! A Nan nên bảo họ trước đêm nay đồng lượt đến bái yết Phật”. A Nan liền dắt 500 Mạt-la và quyến thuộc đồng đến trước Phật đảnh lễ và bạch rằng: “ Nay có các Mạt-la tên …và quyến thuộc, xin thăm hỏi đức Thế Tôn nằm ngồi có tăng giảm gì không?” Phật dạy: “ Phiền các ngươi đến thăm, Ta chúc cho các ngươi sống lâu, vô bịnh”. Tiếp Phật dạy cho họ đạo lý vô thường, và các điều lợi ích vui mừng. Nghe pháp xong các Mạt-la ai nấy vui mừng liền đem 500 khổ vải trắng dâng Phật, Phật thụ lãnh. Các Mạt-la đảnh lễ Phật rồi lui ra.
          Lúc đó, trong thành Câu Thi có một vị Phạm chí tên Tu Bạt (Subhadda là bực kỳ cựu đa trí, đã 120 tuổi, nhân nghe đức Sa-môn Cù Đàm đêm nay sẽ diệt độ tại giữa cây song thọ. Ông tự nghĩ: “ Ta có điều hoài nghi về giáo pháp, chỉ có đức Cù Đàm mới thấu ý ta, ta nên kịp thời gắng đi đến Phật”. Ngay đêm ấy ông gắng ra khỏi thành đi đến song thọ. Khi đến nơi, ông đến chào A Nan và thưa: “ Tôi nghe đức Cù Đàm sắp vào Niết-bàn đêm nay, nên đến đây mong được bái yết một lần. Tôi có điều hoài nghi về giáo pháp, mong được đức Cù Đàm
 

* Trang 112 *
device

giải quyết cho. Vậy Ngài có được khỏe cho tôi vào bài yết không?”.
          A Nan bảo: “ Thôi đừng Tu-bạt! Phật đang có bịnh, không chịu nhọc nổi đâu”. Tu Bạt có nài xin đến 3 lần rằng: Tôi nghe đức Như Lai  ra đời như hoa Ưu Đàm rất lâu mới xuất hiện, nên đến đây mong được bái yết. A Nan cũng vẫn trả lời như trước.
          Phật nghe được, bảo A Nan: “ông chớ ngăn đón, để cho ông ấy vào, ông muốn giải nghi thì không phiền nhọc gì. Nếu nghe được pháp của Ta, ắt được giải thoát”. A Nan liền bảo cho Tu Bạt vào, ông Tu Bạt được vào, chào hỏi Phật xong  ngồi một bên và bạch Phật: “ Tôi có điều hoài nghi về giáo pháp, chừng Ngài có khỏe giải quyết cho không?” Phật dạy: “ Ngươi được phép hỏi tùy ý”.
          Tu Bạt hỏi: “Có những giáo phái khác, họ tự xưng bậc thầy, như các ông Phú-lan-ca-diếp, Mac-giá-lê-kiều-xá-lê, A-tỳ-đa-si-xá-khâm-bà-la, Ba-phù-ca-chiên-diên, Tán-nhã-tỳ-gia-lê-tử, Ni-kiền-tử (Nigantha) v.v…Những thầy đó đều có giáo pháp riêng, đức Sa-môn Cù Đàm có biết hết hay không?”.
          Phật đáp: “Thôi thôi khỏi nói, những giáo pháp ấy Ta đều rõ cả. Nay Ta sẽ vì ngươi nói đến pháp thâm diệu, ngươi hãy lắng nghe và khôn khéo suy nghiệm. Này Tu Bạt! Trong giáo pháp nào nếu không có pháp Bát chánh đạo thời không có quả vị Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ
 

* Trang 113 *
device

(1). Nay trong giáo pháp Ta có pháp Bát chánh đạo nên có 4 quả vị Sa-môn ấy, trái lại trong pháp ngoại đạo không có”. Phật dạy tiếp bài kệ:
Ta hai mươi chín tuổi
Xuất gia tìm chánh đạo,
Từ khi Ta thành Phật,
Đến nay năm mươi năm
Các hạnh giới, định, tuệ,
Tự Ta suy nghĩ lấy.
Nay Ta giảng pháp yếu:
Ngoại đạo không Sa-môn.
          Này Tu Bạt! Nếu các Tỷ-kheo lo nhiếp tâm tu hành thời cõi thế gian này, quả vị A-la-hán không tuyệt mất.
          Sau đó, Tu Bạt (Subhadha) thưa với A Nan: “Những người đã tu hành, và hiện đang tu hành theo đức Sa-môn Cù Đàm đều có lợi ích ư?”.
          A Nan đáp: “Nay ông muốn tu hành theo đức Như Lai cũng được lợi ích”.        
          Tu Bạt nói: “ Tôi vừa được diện kiến đức Như Lai để hỏi các điều nghi ngờ, cũng được ích lợi lắm. Đức Như Lai vừa dùng lối thụ ký(2) đệ tử mà thụ ký cho tôi”.
 

(1)Bốn quả Sa-môn tức là 4 quả vị Thanh văn: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán.
(2)Thụ ký: một cách ấn chứng cho đệ tử tương lai sẽ Thành đạo như thế nào.
 
 

* Trang 114 *
device

Tu Bạt liền trở lại bạch Phật: “Tôi nay có được phép dự vào giáo pháp Như Lai xuất gia thọ giới Cụ túc không?” – Phật dạy: “Này Tu Bạt! Nếu có kẻ dị học Phạm chí (1) muốn dự vào giáo pháp của Ta để tu hành, phải được thử qua 4 tháng để xét coi hành vi họ, chí nguyện, tánh nết họ, nếu thấy đủ các oai nghi không điều gì thiếu sót, mới cho phép thọ Cụ túc giới ở trong giáo pháp Ta. Tuy vậy, còn tùy tại hành vi của mỗi người”.
          Ông Tu Bạt lại bạch Phật: “Nay tôi có thể phục dịch 4 năm ở trong Phật pháp, khi đủ các oai nghi mới xin thọ Cụ giới”. Phật dạy: “Như trước Ta đã nói, cốt yếu là tại hành vi của mỗi người”.
          Ngay trong đêm đó ông Tu Bạt (Subhadha) được xuất gia thọ giới, thanh tịnh tu hành, tự mình chứng ngộ ngay trong hiện tại, dứt hết sanh tử, thành tựu Phạm hạnh , viên mãn việc làm, phát sinh trí tuệ như thật, không còn bị tái sinh. Lúc gần nữa đêm, ông đã chứng quả A-la-hán và diệt độ trước Phật. Ông là đệ tử cuối cùng của Phật.
          Nãy giờ A Nan đứng hầu sau Phật, không tự ngăn nổi bi cảm nên vỗ giường than khóc, rằng: đức Như Lai diệt độ mau quá! Đại pháp chìm lặng làm sao mau quá! Con mắt thế gian diệt mất thì chúng sinh suy đọa lâu dài! Ta nhờ ơn Phật xuất gia
 
 
 
(1)Dị học Phạm Chí là người tu học theo giáo phái khác.
 
 
 

* Trang 115 *
device

nay chỉ mới được lên bậc học địa (1), tu nghiệp chưa thành mà Như Lai đã diệt độ!” Khi ấy đức Thế Tôn dù đã biết mà cố hỏi: “ A Nan Tỷ-kheo đâu rồi?” Các Tỷ-kheo bạch Phật: “A Nan đang ngồi buồn khóc ở sau lưng Ngài”. Phật dạy: “Thôi thôi A Nan! Chớ có buồn phiền than khóc! Từ trước đến nay ngươi hầu hạ Ta với cử chỉ từ hòa, ngôn ngữ kinh ái và tâm niệm hoan hỷ thỉ chung như một, không sao xiết kể, ấy là ngươi đã cúng dường Ta, công đức ngươi rất lớn, nếu có sự cúng dường nào của chư thiên, ma phạm, Sa-môn và Bà-la-môn cũng không sao sánh bằng được. Ngươi hãy siêng năng lên, ngày thành đạo của người không lâu nữa!
          Này các Tỷ-kheo! Đệ tử hầu hạ chư Phật quá khứ cũng chỉ như A Nan, đệ tử hầu hạ chư Phật vị lai cũng chỉ như A Nan. Nhưng đệ tử hầu hạ của chư Phật quá khứ, Phật có dạy mới biết, còn A Nan thì Phật vừa đưa mắt đã biết Phật cần muốn gì. Đó là điều hy hữu của A Nan, các ông nhớ lấy.
          Chuyển luân Thánh vương có 4 điều lạ ít có, và khi Thánh vương ngồi và khi Thánh vương nằm, quốc dân đều đến bái yết, được thấy vua họ vui mừng, được nghe vua họ vui mừng, họ trông ngắm dung nhan vua không biết chán. A Nan cũng có 4 điều kỳ
 
 
 
(1)Học địa là địa vị hữu học kể tử Tam quả sắp xuống. Có chỗ nói A Nan chứng được quả A-na-hàm thứ ba.
 
 

* Trang 116 *
device

lạ là khi A Nan lặng lẽ đi vào chúng Tỷ-kheo, khi A Nan vào chúng Tỷ-kheo-ni, khi A Nan vào chúng Ưu-bà-tắc, khi A Nan vào chúng Ưư-bà-di, nơi nào được trông thấy A Nan cũng vui mừng, được nghe A Nan thuyết pháp cũng vui mừng, họ trông nhìn nghi dung và lời A Nan thuyết pháp không biết chán.
          A Nan cung kính bạch Phật: “Các Sa-môn khắp nơi, gồm những vị kỳ cựu đa văn, thấu hiểu kinh luật, đức hạnh thanh cao, thường đến bái yết Phật, nhân đó tôi được lễ kính và gần gũi hỏi han, nhưng sau khi Phật diệt độ rồi, họ không đến nữa, tôi không còn biết hỏi ai nữa, làm sao?” Phật dạy: “ngươi chớ lo, các đệ tử có 4 chỗ tưởng nhớ: 1. Tưởng tới chỗ Phật sanh, rồi sanh lòng luyến mộ, trông mong muốn thấy, nhớ mãi không quên; 2. Tưởng tới chỗ Phật Thành đạo; 3. Tưởng tới chỗ Phật chuyển pháp luân đầu tiên; 4. Tưởng tơi chỗ Phật vào Niết-bàn, rồi sanh lòng luyến mộ, trông mong muốn thấy, nhớ mãi không quên”.
          Này A Nan! Sau khi Ta diệt độ, các đệ tử dù nam hay nữ hãy nhớ tới khi Phật Giáng sinh có những công đức như thế nào, khi Phật chuyển pháp luân có những sự hóa độ như thế nào, khi Phật diệt độ có những lời di huấn như thế nào, rồi mỗi người cúng dường, thì khi chết đều được sanh lên cõi trời, chỉ trừ người Đắc đạo.

* Trang 117 *
device

Này A Nan! Sau khi Ta diệt độ, có các người dòng họ Thích đến cầu đạo, hãy nhận cho họ xuất gia thọ giới Cụ túc chớ để lâu, những người Phạm chí dị học đến cầu đạo cũng nhận cho xuất gia thọ giới Cụ túc, chớ có để thử qua 1 tháng, vì những người kia vốn có hoặc sẵn các luận thuyết khác, nếu để lâu thì các kiến giải sai lầm trước của họ phát sanh lại.
          A Nan lại bạch Phật: “Sau khi Phật diệt độ, có những Tỷ-kheo xiểng nô tự chuyên ương ngạnh, phải đối xử với họ cách thế nào?” Phật dạy: “Sau khi Ta diệt độ, nếu có hạng Tỷ-kheo xiểng nô (Channa) không tuân oai nghi, không chịu giáo huấn, các ông hãy chung nhau xử trị theo pháp Phạm đàn (Brahmadanda: mặc tẩn) là truyền hết các Tỷ-kheo không ai được cùng nói chuyện. cùng tới lui chỉ vẽ giúp đỡ ông Tỷ-kheo xiểng nô ấy”.
          A Nan bạch phật: “Sau khi Phật diệt độ, có kẻ đàn bà con gái đến thụ giáo thì làm sao?” Phật dạy: “Chớ cho gặp” – “Gỉa sử phải cùng nói chuyện thì làm sao?” – “Hãy lo thu nhiếp tâm ý”.
          Này A Nan! Ngươi chớ nghĩ sau khi Ta diệt độ, các ngươi mất chỗ nương tựa, không ai che chở. Nên biết những giáo pháp mà Ta đã dạy từ khi Thành đạo đến nay là chỗ nương tựa che chở các người đó!
 
 
 
 
 

* Trang 118 *
device

Này A Nan! từ nay trở đi, cho phép các Tỷ-kheo tùy nghi bỏ các giới cấm nhỏ nhặt. Hãy lễ độ và hòa thuận trên dưới với nhau, đó là pháp kính thuận của người xuất gia đó!
          Này các Tỷ-kheo! Đối với Phật, Pháp và Chúng tăng, đối với chánh đạo, các ông có điều gì hoài nghi nữa không, nên kịp thời hỏi han để sau khỏi hối hận ăn năn. – Các Tỷ-kheo đều lặng thinh. Phật dạy câu ấy lần thứ hai, các Tỷ-kheo cũng vẫn lặng thinh. Phật lại dạy: “nếu các ngươi e thẹn không dám hỏi, hãy nhờ các vị hiểu biết hỏi giúp cho”. Các Tỷ-kheo cũng vẫn lặng thinh. Ông A Nan bạch Phật: “Con tin trong đại chúng, ai nấy đều đã có lòng tin thanh tịnh, không một ai còn hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng và chánh đạo nữa”. Phật dạy: “ A Nan! Cũng biết trong chúng này dù một vị Tỷ-kheo nhỏ cũng thấy được dấu đạo, không còn đọa vào đường ác, chỉ trải qua 7 lần sanh lại cõi Dục này để tu hành là dứt hết thống khổ (1). Đức Thế Tôn liền thụ ký cho 1.250 đệ tử hiện chứng và sẽ chứng được đạo quả.
          Đức Thế Tôn lại trạc vai áo Uất-đa-la-tăng (đại y) để lộ cánh tay kim sắc, bảo với các Tỷ-kheo: “các ông nên biết Như Lai mỗi khi xuất thế như hoa Ưu-đàm-bát lâu lắm mới hiện một lần, thế nên các Tỷ-kheo chớ có buông lung. Ta chính nhờ không
 
                                                
(1)Thấy dấu đạo là kiến đạo, lên bậc sơ quả Tu-đà-hoàn.
 

* Trang 119 *
device

 buông lung mà được thành chánh giác. Vô lượng điều lành toàn nhờ không buông lung mà có được”.
          Hết thảy vạn vật đều vô thường, đó là lời dạy cuối cùng của Như Lai, các ông nên nhớ.
          Phật liền vào định sơ thuyền, rồi từ định sơ thuyền ra, vào định Nhị thuyền; từ định Tam thuyền ra, vào định Tứ thuyền; từ định Tứ thuyền ra, vào định Không xứ; từ định Không xứ ra, vào định Thức xứ; từ định Thức xứ ra, vào định Vô sở hữu xứ; từ định Vô sở hữu xứ ra, vào định Phi phi tưởng xứ; từ định Phi phi tưởng xứ ra, vào định Diệt thọ tưởng.
          Thấy vậy Tôn giả A Nan hỏi Tôn giả A-na-luật (Anuraddha) đức Thế Tôn đã vào Niết-bàn chăng? A-na-luật nói: chưa, đức Thế Tôn hiện đang ở trong định Diệt thọ tưởng. Tôi lúc trước được gần Phật nghe rằng, khi Phật từ định Tứ thuyền ra mới vào Niết-bàn.
          Lúc ấy đức Thế Tôn lại từ định Diệt thọ tưởng ra, vào định Phi phi tưởng ra; từ định Phi phi tưởng ra, vào định Vô sở hữu; từ định Vô sở hữu ra, vào định Thức Xứ; Từ định Thức xứ ra , vào định Không xứ; từ định Không xứ ra, vào định Tứ thuyền; từ định Tứ thuyền ra, vào định Tam thuyền; từ định Tam thuyền ra, vào định Nhị thuyền ; từ định Nhị thuyền ra, vào định Sơ thuyền, rồi lại từ định Sơ thuyền ra lần lượt đến định Tứ thuyền, rồi từ định Tứ thuyền ra, Phật
 
 
 
 
 

* Trang 120 *
device

vào Niết-bàn. Ngay lúc đó, cõi đất rung động, trời người kinh hoàng, những chúng sinh ở chỗ tối tăm không có ánh mặt trăng mặt trời đều được chói sáng mà trông thấy lẫn nhau, và bảo nhau: “Người kia sinh đến đây, người kia sinh đến đây mới có ánh sáng chiếu khắp như thế, hơn cả ánh sáng của chư thiên”.
          Bấy giờ trời Đao lợi ở giữa hư không dùng hoa Mạn-đà-la, hoa Ưu bát, hoa Bát đầu, hoa Câu vật, hoa Phân-đà-lỵ và bột hương Chiên đàn tản rải trên thân Phật và chúng hội.
          Trời Phạm vương dâng lời tán Phật:
Hết thảy loài sinh linh,
Đều phải bỏ thân mạng,
Phật là đấng vô thượng,
Thế gian không ai bằng,
Như lai đại thánh hùng,
Có thần lực vô úy,
Đáng lẽ ở đời lâu,
Nhưng nay diệt độ rồi!
          Trời Thích đề hoàn nhơn (Shaka-devanam-inda) dâng lời tán Phật:
Thân mạng đều vô thường
Chỉ là pháp hưng suy,
Có sanh đều có chết,
Phật tịch diệt là vui.

* Trang 121 *
device

Trời Tỳ Sa Môn Vương dâng lời tán Phật:
Đại tòng lâm cây phúc
Cây Sa-la thượng phước
Phật là ruộng tốt cho chúng sinh,
Nay giữa rừng cây Ngài diệt độ.
          Tỷ-kheo A Na Luật (Anurudha) dâng lời tán Phật:
Phật an trú vô vi,
Không cần có ra vào,
Ngài đến từ Tịch diệt,
Và ẩn mất nơi đây.
          Tỷ-kheo Phạm Ma Na dâng lời tán Phật:
Đấng vô thượng xa lìa ái dục,
Lòng không chấp trước nhiễm ô,
Tu tập hạnh trí tuệ,
Không sanh tâm giải mạn (1).
          Tỷ-kheo A Nan dâng lời tán Phật:
Việc giáo hóa thành tựu,
Thế Tôn vào Niết-bàn,
Trời người lòng kính sợ,
Toàn thân lông dững lên.
          Thân Kim Tỳ Sa dâng lời tán Phật:
Thế gian mất che chở,
Chúng sanh trọn mù lòa
 
                                         
(1)Giải mạn là giải đãi và kiêu mạn.                                  
 

* Trang 122 *
device

Không còn thấy được Phật,
Bậc sư tử giữa người.
Mật Tích lực sĩ dâng lời tán Phật:
Các thiên, nhân, ma phạm,
Đời nay và đời sau,
Không còn thấy được Phật,
Bậc sư tử giữa người.
Phật mẫu Ma-ha-Ma-gia dâng lời tán Phật:
Phật sanh tại vườn hoa,
Đạo ngài lưu bố rộng,
Trở lại chỗ bản sinh,
Ngài xả thân huyễn mộng.
Thần song thọ dâng lời tán Phật:
Đủ công đức trí lực
Như Lai vào Niết-bàn
Lúc nào tôi lại lấy
Hoa sái mùa cúng dâng.
          Sa-la viên lâm thần dâng lời tán Phật:
Chỗ này vui thượng diệu,
Phật ở tại đây sanh.
Ở đây chuyển xe pháp,
Lại ở đây Niết-bàn.
          Tứ Thiên Vương dâng lời tán Phật:
Như Lai vô thượng trí,
Diễn nói pháp cao thâm,
Trừ khổ độ chúng sinh,

* Trang 123 *
device

Nay trọn vào Niết-bàn.
Đạo lỵ Thiên Vương dâng lời tán Phật:
Trải ức thiên vạn kiếp,
Ngài mới thành chánh quả,
Trừ khổ độ chúng sinh,
Nay trọn vào Niết-bàn.
          Diệm Thiên vương dâng lời tán Phật:
Đây cái y tối hậu,
Dùng quán thân Như Lai,
Nay Phật diệt độ rồi,
Y này để cúng ai.
Đâu-suất-đà Thiên vương dâng lời tán Phật:
Đây là thân cuối cùng,
Phật diệt trừ ấm giới(1)
Không tâm tưởng lo mừng,
Không già chết: Thảnh thơi.
Hóa-tự-tại Thiên vương dâng lời tán Phật:
Đúng vào giữa đêm nay,
Phật nằm nghiêng bên hữu
Ở tại rừng Sa-la
Mà an nhiên diệt độ.
Tha-hóa-tự-tại Thiên vương dâng lời tán thán Phật:
Thế gian trọn tối tăm,
Trăng sao đều sa rớt,
 
 

(1)Ấm giới là ngũ ấm và thập bát giới, là những thứ kết hợp thành thân.

* Trang 124 *
device

Mây vô thường che kín,
Đại trí nhựt khuất mờ.
          Các Tỷ-kheo dâng lời tán Phật:
Thân này như bèo bọt,
Mong manh có gì vui,
Phật không Kim cang thân,
Còn bị vô thường hoại,
Thân Kim cang chư Phật,
Cũng đều quỉ vô thường.
Tiêu tan như băng tuyết,
Huống những người thế gian.
          Các Tỷ-kheo thấy Phật diệt độ rồi, buỗn bã khóc vô kể, Trưởng     lão A Na Luật khuyên: Thôi các Tỷ-kheo, các ngài chớ buồn khóc, kẻo các hàng chư thiên nhìn xuống ngó thấy họ chê trách kia. Các Tỷ-kheo nghe lời cùng nhau đàm luận Phật pháp suốt đêm.        
          Trưởng lão A Na Luật bảo A Nan đi vào thànhtin đại chúng dòng Mạt La (Malla: lực sĩ) biết Phật đã diệt độ, như họ có muốn cúng dường thế nào thì mau đến kịp thời. A Nan vâng lời dắt thêm một Tỷ-kheo, buồn khóc ra đi. Lúc đến nơi, A Nan đi thẳng đến chúng Mạt La đang hội họp đông đảo một nơi. Trông thấy A Nan, họ đều đứng dậy nghinh tiếp, đảnh lễ và hỏi: “ Tôn giả có việc gì đến đây sớm vậy?” A Nan đáp: Vì lợi ích các ngài, tôi đến
 

* Trang 125 *
device

báo tin cho các ngài hay đức Thế Tôn đã diệt độ đêm rồi…”
          Chúng Mạt La vừa nghe tin, ai nấy bi cảm buồn rầu than kể: “ Phật vào Niết-bàn làm sao mau quá! Con mắt của thế gian diệt mất làm sao mau quá” A Nan khuyên: “ thôi thôi các ngài! Chớ có buồn khóc! Muốn cho pháp hữu vi không bị biến hoại, không thể nào được. Đức Như Lai đã dạy hễ có sanh tức có chết, có hội hiệp tức có chia ly, hết thảy ân ái đều vô thường cả”. Chúng Mạt La mới bàn nhau trở về nhà mang hương hoa, kỹ nhạc, đi mau đến rừng cây Song thọ để cúng dường kim thân Phật đặt lên án kiệu cho tất cả thanh niên Mạt La khiêng đi, có tràng phan, lọng tàn, hương hoa, âm nhạc cúng dường, đưa vào thành cửa đông khắp các nẻo cho dân chúng cúng dường, rồi đưa ra thành cửa tây, đến một đồi cao rộng mà Trà-tỳ (Jhapeti = đốt).
          Sau khi cúng dường kim thân suốt một ngày, họ thỉnh kim thân lên án kiệu và tất cả thanh niên Mạt La đến khiêng, nhưng lạ thay không làm sao dở nổi? Trưởng lão A Na Luật mới bảo: “này các ngài chớ nhọc công khiêng! Hiện nay có các chư thiên muốn đến thỉnh án Phật. Theo ý chư thiên thì muốn lưu kim thân lại trong 7 ngày để kính lễ cúng dường bằng các thứ hoa hương, kỹ nhạc, sau mới thỉnh lên giường án, cho các thanh niên Mạt La rước vào
 
 
 
 
 

* Trang 126 *
device

thành cửa đông. Đi khắp các nẻo để cho dân chúng cúng dường, rồi đưa ra thành cửa bắc, qua sông Ni-liên-thuyền (Hirananavati) đến chùa Thiên Quan (Makita-Bandhana) mà Trà-tỳ (đốt). Vì lẽ đó lên án Phật không khiêng nổi”. Các Mạt La nói: “Hay lắm! Xin tùy ý chư thiên!” Chúng Mạt La bảo nhau vào thành sửa soạn, quét tước, rải hương khắp các nẻo đường, rồi sau trở lại đây cúng dường kim thân trong 7 ngày.
          Sau khi thọ cúng dường trọn 7 ngày xong, cuối ngày thứ 7 vào lúc trời chiều, họ thỉnh kim thân Phật đặt lên bàn án cho các thanh niên Mạt La khiêng đi thong thả giữa đám đông người hộ tống, có tràng phan, hương hoa, âm nhạc cúng dường. Từ không trung các vị trời Đao lợi  dùng các Thiên hoa tán trên kim thân và rải đầy đường, cùng nhạc trời trổi khắp tiễn đưa.
          Vào thành, đến mỗi ngã đường thì dừng lại để cho dân chúng đốt hương, tán hoa, trỗi nhạc cúng dường. Đặc biệt có nàng Lộ Di dòng Mạt La vốn dốc lòng tin Phật, cầm một đóa hoa vàng lớn cúng dường kim thân, và một bà già lão cất tiếng tán thán rằng: “Hạnh phúc thay cho dân chúng Mạt La, may được phúc lợi lớn Như Lai cuối cùng diệt độ tại đây, khắp nước nhân dân mong ước cúng dường”.    
          Họ cúng dường xong, đưa kim thân ra thành cửa bắc, qua sông Ni-liên-thuyền (Hirannavati) đến chùa
 

* Trang 127 *
device

Thiên Quan (Makuta-Bandhana), rồi thưa với A Nan: chúng tôi bây giờ nên cúng dường cách nào nữa! A Nan bảo: Ta được gần Phật nghe, thụ lãnh lời Phật dạy rằng: muốn tẩn táng Xá-lợi hãy làm như phép tẩn táng Chuyển luân thánh vương.
          Chúng Mạt La mới dùng nước hương tắm rửa thân Phật, rồi lấy bông mới bọc quanh, tiếp quấn 500 lớp vải trắng, rồi đặt vào trong kim quan đã tẩm dầu thơm, lại đặt kim quan vào một cái quách bằng sắt rồi một cái quách gỗ chiên đàn bọc ngoài. Xong, lấy củi thơm chất đầy lên trên mà hỏa táng.
          Tiếp đó, vị đại thần dòng Mạt La tên Lộ Di, cầm cây đuốc lớn châm lửa vào dàn hỏa, song lạ thay lửa không cháy! Các người Mạt La trưởng lão cũng cầm lửa châm theo, song lửa vẫn không cháy? Trưởng lão A Na Luật bảo chúng Mạt La: “ thôi các ngài, chẳng phải sức các ngài đốt được đâu. Lửa không cháy là vì ý chư thiên vậy”. Chúng MạtLa hỏi: “ Tại sao chư thiên lại khiến cho lửa không cháy?” A Na Luật đáp: “ Chư thiên nhân thấy Trưởng lão Đại ca diếp (Maha-kassapa) đang dẫn 500 đệ tử từ nước Ba Bà (Pava) đi về cho kịp được thấy Phật khi chưa Trà-tỳ, hiện Ngài ấy đang đi giữa đường Chư thiên biết ý nên làm cho lửa không cháy”. Chúng Mạt La nói: “ Xin để toại ý ấy”.
          Lúc Ngài Đại Ca Diếp dắt 500 đệ tử , từ nước Ba Bà đi về ngang giữa đường, thì gặp một hiền giả
 
 
 

* Trang 128 *
device

dòng Ni kiền tử (Nigantha) trong tay cầm một đóa hoa Mạn đà la, Ngài Đại Ca Diếp đến gần hỏi: “Này bạn! Bạn từ đâu lại?” Ni-kiền-tử đáp: “ Tôi từ thành Câu-thi lại”. Ca Diếp lại hỏi: “ Bạn có biết thầy Ta không?” – “Có biết” – Lại hỏi: “Thầy ta hiện nay thế nào?” – Đáp “ Đã diệt độ cách đây 7 ngày. Tôi từ đó lại, nên lượm được đóa Thiên hoa này”. Ca Diếp nghe xong lòng rất buồn bã! Năm trăm  Tỷ-kheo nghe Phật diệt độ, đều buồn khóc, quay cuồng kêu than không tự kiềm chế nổi, rằng: Như Lai diệt độ làm sao mau quá! Đại pháp chìm lặng làm sao mau quá! Con mắt của thế gian đã diệt, chúng sinh suy đọa lâu dài! Ví như cây lớn bị nhổ gốc, thì cành lá phải tan tành! Ai nấy như rắn bị cụt đuôi, quay cuồng lăn lóc, ngẩn ngơ! Nhưng trong chúng ấy có một vị Tỷ-kheo tên Bạt-nan-đà (Upanada) dòng họ Thích, ngăn các Tỷ-kheo rằng: “các ngươi chớ dại lo buồn , Thế Tôn diệt độ thì chúng ta được tự do. Ông già ấy trước đây thường hay bảo chúng ta nên làm thế này, không nên làm thế này, nhưng từ nay về sau thì tùy ý chúng ta ưa làm gì thì làm”. Ca Diếp nghe nói, lòng càng buồn, mới bảo các Tỷ-kheo chỉnh y đi mau đến song thọ để kịp dự lễ trước khi Trà-tỳ, có thể trông thấy Phật. Các Tỷ-kheo đều đứng dậy tùy tùng Ca Diếp đến thành Câu-thi, qua sông Ni-liên-thuyền (Hiran-navati) đến chùa Thiên Quan (Makuta-Bandhana) đi ngay đến gặp A Nan hỏi han xong, nói với A Nan:

* Trang 129 *
device

“Chúng tôi muốn được thấy Phật một lần chót khi chưa Trà-tỳ, có thể được không?” A Nan đáp: “Tuy chưa Trà-tỳ nhưng khó mà thấy được, vì thân Phật đã được tắm nước hương, quấn một lớp kiếp ba(bông trắng) ngoài bọc 500 lớp vải trắng, đặt trong một kim quan, kim quan lại đặt trong một cái quách bằng sắt, ngoài hết có bọc một cái quách bằng gỗ chiên đàn, nên khó thấy được”. Ca Diếp năn nỉ xin tới 3 lần, A Nan vẫn trả lời một câu như cũ, là khó mà thấy Phật được nữa! Chẳng biết làm sao được, Ngài Đại Ca Diếp (Maha-kassapa) mới hướng mặt về hỏa đàn để chiêm bái thì ngay khi ấy bỗng nhiên từ trong 3 lớp quan quách, Phật đưa 2 bàn chân ra ngoài cho Ca Diếpthấy. Thấy ở chân Phật có màu sắc khác lạ ,Ca Diếp ngạc nhiên hỏi A Nan: “ Thân Phật kim sắc sao chân Ngài lại có sắc khác?” A Nan đáp: “Trước đây có một bà già, tiếc thương đức Như Lai, tiến tới lấy tay vỗ vào chân Phật, để rơi nước mắt trên chân Ngài cho nên có màu sắc khác như thế”. Nghe xong, Ca Diếp lại không vui, lền hướng tới hỏa đàn đảnh lễ kim thân Phật. Bốn bộ chúng và chư thiên trên hư không trung cũng đồng thời tác lễ. Chân Phật bỗng không hiện nữa. Ngài Đại Ca Diếp vừa đi quanh hỏa đàn 3 vòng vừa tán dương rằng:

Con nay cúi đầu lễ,
Đức đạo sư vô thượng,
Thánh trí không nghĩ lường,
Thánh trí cao tột bực,
 

* Trang 130 *
device

Bậc Sa-môn tối cao
Tuyệt đối không tỳ uế,
Thanh tịnh không nhiễm ái,
Tôn quí giữa nhân thiên
Con nay cúi đầu lễ,
Đấng đại hùng bậc nhất,
Khổ hạnh chẳng ai bằng,
Từ bỏ để dạy người
Kính lễ đấng Thế Tôn,
Không nhiễm không trần cấu,
Tham, sân, si dứt sạch,
Vui trong hạnh không tịch.
Kính lễ đấng Thập lực,
Độc nhất không ai bằng,
Khéo giải thoát thế gian,
Phú trí cao tột bậc.
Kính lễ đấng Thế Tôn,
Bậc giác ngộ Tứ đế,
Vô thượng giữa Sa-môn,
Khiến bỏ tà về chánh.
Kính lễ đấng Thế Tôn,
Bậc lặng lẽ tịch diệt,
Không nhiệt não tì uế.
Thân tâm thường vắng lặng.
Kính lễ đấng Thế Tôn,
Bậc trừ hế trần cấu,

* Trang 131 *
device

Tuệ nhãn (1) không hạn lượng,
Cam lộ tiếng oai vang.
Kính lễ đấng Thế Tôn,
Bậc Hy hữu khó nghĩ bàn,
Tiếng nói như sư tử,
Ở rừng không khiếp sợ,
Ngài là Hàng ma, vượt 4 tánh
Cho nên con kính lễ (2)
          Đại Ca Diếp oai đức lớn lao và đủ 4 biện tài, vừa đọc xong bài kệ trên, thì hỏa đàn tự nhiên bừng cháy. Chúng Mạt La bảo nhau: “ Ngọn lửa cháy mạnh quá khó ngăn, e cháy tiêu hết Xá-lợi! Hãy tìm đâu lấy nước đem tưới” Liền có vị thọ thần Sa-la đang hầu một bên, vốn dốc lòng tin Phật, dùng thần lực làm tắt ngọn lửa, chúng  Mạt La lại bảo nhau đi hái hoa thơm ở chung quanh thành Câu Thi cách 12 do tuần, đem về dâng cúng Xá-lợi.
          Lúc đó vua Mạt La (Mala) nước Ba Bà (Pava) nghe Phật diệt độ tại Song thọ, tự nghĩ: “ Ta nên đến đó cầu lấy Xá-lợi về chia ra dựng tháp cúng dường binh, mã binh, xa binh, bộ binh, đi đến thành Câu Thi và cử sứ giả đến nói với vua Mạt La ở đây rằng” Chúng tôi nghe đức Phật đã diệt độ tại đây, Phật cũng là thầy chúng tôi, vì lòng kính mộ Ngài, chúng
 
 
 
 
(1)Tuệ nhãn là thứ mắt soi rõ lý nhân duyên vô thường của các pháp.
(2)Tứ tánh là 4 giai cấp ở Ấn Độ.

* Trang 132 *
device

tôi đến xin Xá-lợi về nước dựng tháp cúng dường”. Vua nước Câu Thi đáp: “Thật vậy, đúng như Ngài nói, nhưng vì Thế Tôn đã giáng lâm và diệt độ tại đây, nhân dân trong nước tôi tự lo cúng dường, phiền các Ngài từ xa đến cầu Xá-lợi, nhưng điều đó hẳn là không được!  
          Đồng thời dân chúng dòng Bạt-ly (Bulayo) nước Gia-la-phả (Alhakappa), dân chúng dòng Câu-lỵ (Kaliya) nước La-ma-già (Ramagama), dân chúng dòng Thích-chủng nước Ca-duy-la-vệ, dân chúng dòng Lê-xa (Licchavi) nước Tỳ-xá-ly, và vua A-xà-thế (Ajatasattu) nước Ma-kiệt (Magadha), nghe được Như Lai diệt độ tại cây Song thọ ở thành Câu Thi (Kussinara), đều tự nghĩ nên qua đó cầu lấy Xá-lợi. Các quốc vương ấy mới hạ lệnh trong nước đem 4 thứ binh mã tiến qua sông Hằng. Vua A-xà-thế cử quốc sư Hương Tánh (Dona): “ngươi mang danh ta vào thành Câu Thi hỏi thăm vua Mạt La và nói với quí quốc xưa nay vốn tôn kính nhau, láng giềng hòa nghĩa, chưa có xảy ra điều chi tranh tụng, nay ta nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc, đối với đức Thế Tôn, lòng ta thật hết sức tôn kính, nên chẳng quản xa xôi, đến cầu xin Xá-lợi Ngài, đem về tnước dựng tháp cúng dường. Nếu nhận lời, ta sẽ chia bớt tài bảo trong nước ta cho”. Ông Hương Tánh vâng lệnh, đến thành Câu Thi nói với vua Mạt La, vua Mạt La trả lời: “Qủa như vậy! Qủa như lời ông nói! Nhưng đức Thế Tôn đã giáng lâm và diệt độ tại đây, thì nhân dân trong nước tôi tự lo cúng
 

* Trang 133 *
device

dường, phiền các ngài từ xa đến khi Xá-lợi, nhưng điều đó hẳn không thể được”.
          Các quốc vương liền triệu tập quần thần lập nghị rằng:
Chúng ta hòa nghị,
Xa đến cúi đầu,
Khiêm tốn yêu cầu,
Như không chấp nhận
Tứ binh đã sẵn
Không tiếc thân mạng,
Dùng nghĩa không được,
Tất phải dùng lực,
          Vua Câu Thi cũng triệu tập quần thần lập nghị trả lời:
Các người xa nhọc
Khuất phục cầu xin
Như Lai di thể,
Nhưng không cho được,
Kia muốn dùng binh,
Ta đây cũng sẵn,
Chống trả đến cùng,
Chưa từng biết sợ.
          Thấy vậy, ông Hương Tánh đứng dậy ra hiểu dụ mọi người: “chư hiền suốt đời lãnh thụ giáo huấn của Phật, miệng tụng pháp môn, tâm địa hiền hòa, ý chí nhân từ, thương mong cho chúng sinh thảy được an lành, nay há lẽ vì dành Xá-lợi của Phật mà trở tàn hại nhau sao? Di

* Trang 134 *
device

thể Như Lai nếu muốn có lợi ích rộng rãi, thì Xá-lợi hiện tại nên chia ra nhiều phần”, chúng đều khen phải. Họ lại bàn nghị nên nhờ ai đủ sức chia giúp. Xét ông Hương Tánh là người nhân trí quân bình, có thể chia được, nên họ đồng thanh cử ông đứng chia. Các quốc vương cũng bảo ông Hương Tánh : “ Ngươi hãy vì chúng ta chia đều Xá-lợi làm 8 phần”. Được lệnh, ông Hương Tánh đến ngay chỗ Xá-lợi, cúi đầu đảnh lễ, xong, từ từ trước nhặt hết nhặt lấy Xá-lợi “Răng” để riêng một nơi, và bảo sử giả mang về cho vua A-xà-thế một Xá-lợi “Răng” và tâu: “ Đại vương có được thường không? Xá-lợi chưa đến chắc Đại vương trông lắm? Nay tôi giao sứ giả này thỉnh về một Xá-lợi “Răng” của Như Lai để kịp cúng dường cho thỏa lòng Đại vương mong đợi. Sáng mai Xá lợi chia xong, tôi sẽ đích thân dâng đến”. Sứ giả vâng lời, về tâu cho A-xà-thế hay.
          Tiếp đó ông Hương Tánh lấy một cái bát bằng đá chia đều Xá lợi ra làm 8 phần, xong, ông xin với mọi người cái bát đó để dựng tháp thờ tại nhà riêng. Mọi người đều bằng lòng và cho ông là người khôn ngoan.
          Lúc đó, dân chúng ở thôn Tất-bát cũng đến xin phần tro còn lại để dựng tháp cúng dường. Mọi người cũng bằng lòng.
          Sau khi nước Câu Thi được Xá -lợi liền dựng tháp cúng dường. Các nước Ba Bà, La-ma-già, Tỳ-

* Trang 135 *
device

lưu- đề, Ca-duy-la-vệ, Tỳ-xá-ly, Ma-kiệt sau khi được Xá-lợi đều đem về nước dựng tháp cúng dường. Ông Hương Tánh Bà-la-môn đem cái bát dùng chia Xá lợi về nhà dựng tháp cúng dường. Dân chúng thôn Tất-bát đem phần tro còn lại về dựng tháp cúng dường.
          Như vậy, Xá lợi Phật được chia thờ ở 8 tháp, tháp thứ 9 là cái bát, tháp thứ 10 là tháp tro và tháp thứ 11 là tháp tóc, thờ tóc Phật khi còn tại thế (1)
Vườn Sa la hoa nở,
Đủ màu ánh chói nhau,
Tại chỗ bản sanh ấy,
Như Lai nhập Niết-bàn,
Đức Đại từ Niết-bàn,
Nhiều người xưng tán lễ,
Không mảy may hãi sợ.
Ngài quyết định Niết-bàn.
*
 
 
 
(1) Sau khi thành đạo, Phật tĩnh tọa suốt 28 ngày ( 4 tuần)  để hưởng pháp lạc đạo quả Niết-bàn, không hề ăn uống. Qua ngày 29 Ngài định đi truyền giáo thì vừa có đoàn buôn xứ Ukala do 2 người Da-lê-phú-ba (Tapussa) và Bấc-lê-ca (Bhallika), cầm đầu, 2 thương gia này đã cúng dường Phật bữa ăn đầu tiên khi Ngài vừa thành đạo. Phật lãnh thọ và dạy cho họ một bài kệ hộ thân, trao pháp quy y và cho ít sợi tóc và móng tay để kỷ niệm. Bảo vật này họ đem theo chiêm bái nhiều ngày, sau dựng tháp thờ tại Ngưỡng Quang (Rangoon) Miến Điện, đến nay đã biến thành một kỳ quan vô giá, ấy là tháp Shwedagon, nhờ đó vua Miến và các vua kế cận lúc ấy mới biết đến Ấn Độ ra mắt đức Phật.

* Trang 136 *
device

 
Kinh Trường A Hàm