LOGO VNBET
KINH DU HÀNH
( Lược thuật giai đoạn Phật nhập Niết-bàn và những lời dạy cuối cùng của Ngài)
II


 
            Phật dạy: “ Này A Nan! Đời có 8 chúng: một là chúng Sát-lỵ; hai là chúng Bà-la-môn; ba là chúng Cư sĩ; bốn là chúng Sa-môn; năm là chúng Tứ thiên vương; sáu là chúng Đao lỵ thiên; bảy là chúng các ma; tám là chúng Phạm thiên.
            Ta nhớ xưa kia, Ta từng qua lại trong chúng Sát-lỵ, cùng họ nói năng, ngồi đứng, chẳng biết đã bao nhiêu lần. Nhờ sức thiền định tinh tấn mà nơi nào Ta hiện đến, hễ họ có sắc đẹp thì sắc Ta đẹp hơn, họ có tiếng hay thì tiếng Ta hay hơn, họ từ bỏ Ta đi, Ta không từ bỏ họ, điều họ nói được, Ta cũng nói được, điều họ không thể nói được,Ta cũng nói được. Ta thường thuyết pháp , dạy những điều lợi ích vui mừng cho họ xong thì liền ẩn mất, mà họ không biết Ta là trời hay là người. Như thế cho đến, Ta từng qua lại trong chúng Phạm thiên không biết là bao nhiêu lần để thuyết pháp cho họ, mà họ cũng đều không biết Ta là ai”.
            A Nan bạch Phật: “Đức Thế Tôn thật là kỳ diệu chưa từng có, mới làm được việc như thế”. Phật dạy: “đó là pháp vi diệu hy hữu, chỉ Như Lai

* Trang 87 *
device

mới thành tựu được, vì Như Lai đã thấu rõ tướng sanh khởi, ngưng trụ, tiêu diệt của họ, thấu rõ tướng sanh khởi, ngưng trụ, tiêu diệt của tưởng và quán (1). Đó thật là pháp kỳ diệu chưa từng có, ông nên thọ trì”.
            Bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo A Nan cùng đi đến Hương tháp (Katagara), rồi tới một gốc cây trải tọa ngồi và bảo ông A Nan nhóm hết các Tỷ-kheo hiện có mặt chung quanh Hương tháp lại giảng đường, Phật liền đến giảng đường an tọa, tiếp bảo các Tỷ-kheo rằng: “Các ông nên biết, Ta do những pháp sau đây để tự mình tu tập chứng ngộ thành bậc chánh giác, là 4 pháp niệm xứ, 4 pháp ý đoạn, 4 pháp thần túc, 4 pháp thiền, 5 căn 5 lực,7 giác ý và 8 thánh đạo (2).Các ông hãy nên cùng nhau tu tập ở trong pháp đó, cùng nhau hòa đồng kính thuận, chớ sinh tranh tụng, các ông đã đồng một thầy thụ học hãy cùng nhau hòa hợp như nước sữa. Đã được dự trong giáo pháp Ta, các ông nên tinh cần tu học, cùng nhau giác sát, cùng nhau vui vẻ!
            Lại nữa, các ông nên biết, Ta từ các pháp đó mà tự mình tu hành chứng ngộ rồi tuyên bố ra các ông gồm có Khế kinh, Kỳ dạ kinh, Thọ ký kinh, Kệ kinh, Pháp cú kinh, Tương ưng kinh, Vị tằng hữu
 
 
 
 
 
(1) Thọ là Thọ ấm, Tưởng là Tưởng ấm, Quán là gồm Hành và Thúc ấm.
(2)Đây là 37 phẩm trợ đạo, nhờ nó người tu hành chứng thành đạo quả, như nhiều nơi khác đã giải rõ.
 

* Trang 88 *
device

kinh, Thí dụ kinh, Đại giáo kinh (1) các ông nên khôn khéo thọ trì, so lường phân biệt, tùy sức tu hành. Vì sao vậy? Vì Như Lai không bao lâu nữa, sau 3 tháng nữa sẽ vào Niết-bàn.
            Các Tỷ-kheo nghe Phật dạy lời ấy, rất đổi kinh ngạc, sảng sốt hoang mang, vật mình xuống đất, cất tiếng kêu than: “Đức Thế Tôn diệt độ làm sao mau quá! Con mắt của thế gian diệt mất làm sao mau quá! Từ nay chúng tôi chắc phải suy tổn lâu dài!”. Họ thương cảm buồn khóc, vật vã kêu ca, không tự kiềm chế được, khác nào như rắn bị đứt làm hai khúc, lăn lóc run rẩy, ngẩn ngơ!
 

(1) Mười hai bộ kinh: là kinh tạng gồm 12 bộ loại được phân định theo thể tài và nội dung. Bởi vậy có thể chia ra nhiều bộ loại nằm ngay trong một cuốn hay một phẩm kinh nào, chứ không phải kinh Phật chỉ có 12 bộ, 12 bộ: 1. Tu-đa-la (Suttra); khế kinh, chỉ phần văn xuôi nói thẳng đến pháp nghĩa ở trong kinh, 2. Kỳ dạ*Geya): Trùng tụng, chỉ phần văn chỉnh cú lặp lại nghĩa lý đã nói trong phần văn xuôi. 3. Gìa-đà (Gathà): Cô khởi dụng, chỉ những câu kệ trực thuyết chứ không lặp nghĩa đã nói ở phần văn xuôi, như kinh Pháp cú v.v…4. Ni-đà-na (Nidana): nhân duyên, chỉ những đoạn nói về nhân duyên thấy Phật nghe pháp, hoặc nhân duyên Phật thuyết pháp, như những tựa phẩm trong các kinh. 5. Y-đế-mục-đàn (Itivuttaka): Bổn sự, chỉ những đoạn kinh văn nói về kiếp quá khứ của chư đệ tử, như phẩm Dược vương Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa. 6. Xà-đà-già: (Jataka): Bản sanh, chỉ đoạn kinh văn nói kiếp quá khứ của chính Phật.7. A-phù-đạt-na (Adbhuta – dharma) Vị-tằng-hữu, chỉ đoạn văn nói về thần lực kỳ diệu của Phật trong kinh. 8. A-ba-bà-na (Avadana): Thí dụ, chỉ những đoạn thí dụ trong kinh. 9. Ưu-bà-đề-xá (Upadesa): Luận nghị, chỉ đoạn văn vấn đáp trong kinh. 10. Ưu-đà-na (Udana) Tự thuyết, chỉ đoạn văn Phật tự nói chứ không do ai hỏi, trong kinh.11. Tỳ-Phật-lược (Vaipulya): Phương quảng, chỉ đoạn văn nói về chân lý quảng đại phương chính trong kinh.12. Hòa-già-la ( Vyakarana): Thụ ký, chỉ đoạn văn Phật thụ ký cho đệ tử thành Phật, trong kinh. Trong 12 thứ trên, Khế kinh, Trùng tụng, Cô khởi là phân định theo thể tài, còn 7 thứ kia phân theo nội dung.

* Trang 89 *
device

Phật bảo: “này các Tỷ-kheo! Các ông chớ ôm lòng ưu bi như vậy. Từ trời đất đến người vật, không ai sanh ra mà không chết. Muốn các pháp hữu vi không bị biến dịch, thì không thể nào được. Trước đây Ta thường dạy ân ái là vô thường, có hội hiệp tất có chia ly. Thân này không phải của mình, mạng này không ở lâu được”. Phật dạy tiếp bài kệ:
Ta nay tự tại
Đến chỗ an ổn.
Vì các đại chúng
Nói rõ nghĩa này:
Ta nay già rồi,
Sống chẳng lâu nữa.
Việc làm đã xong,
Nay nên xả thọ (1)
Tâm không phóng túng,
Tỷ-kheo hãy giữ giới
Thâu nhiếp định ý,
Thủ hộ tâm mình.
Ở trong giáo pháp,
Người không phóng túng,
Sẽ hết gốc khổ
Ra khỏi sanh già chết.
Phật lại bảo: Ta nay sỡ dĩ khuyên dạy các ông như thế, vì Thiên Ma Ba Tuần, trước đây đến thỉnh


(1) Xả bỏ tuổi thọ thế gian này.


 

* Trang 90 *
device

Ta, nói: “Phật sao chưa muốn vào Niết-bàn? Nay đã phải thời rồi, xin Ngài mau diệt độ…” (giống như trên, lược một đoạn) và Ta đã đên tháp Gía-bà-la, vào định ý Tam muội, xã bỏ tuổi thọ rồi ( như trước, lược). Phật phóng hào quang lớn chiếu soi khắp nơi, cho đến chỗ u minh đều mong nhờ ánh sáng đó, mà thấy được lẫn nhau. Khi đó Ta có dạy bài kệ rằng:
Trong 2 hành vi vô vi,
Ta nay xả bỏ hữu vi,
Chuyên tâm vào Tam muội,
Tự tại xả thân như chim ra khỏi trứng.
          Bấy giờ hiền giả A Nan đứng dậy, trạc vai áo, quỳ xuống, chấp tay bạch Phật:
          “Trông mong đức Thế Tôn thương xót chúng sinh, sống thêm một kiếp, để làm ích lợi cho trời, người, chớ vội lấy diệt độ”.
          Đức Thế Tôn yên lặng không đáp. A Nan thưa thỉnh đến 3 lần. Phật bảo: “ A Nan! Ông có tin đạo chánh giác của Như Lai không?” A Nan đáp: dạ có tin chắc thật. – Nếu ông có tin, sao còn 3 lần đến xúc nhiễu Ta? Ta cho rằng ông được gần gũi Ta nghe, gần gũi Ta lãnh thọ, Ta từng dạy rằng: những người thường tu tập luôn 4 pháp thần túc một cách chuyên nhất thì có thể tùy ý muốn kéo dài tuổi thọ trong một kiếp hoặc một kiếp hơn ( như trên, lược)…Tại sao lúc đó ông không thỉnh cầu Như Lai khoan diệt độ! Nghe lần thứ hai, đến lần thứ
 

* Trang 91 *
device

ba, ông cũng không khuyến thỉnh Như Lai sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ tối tăm cho đời, đem lại lợi ích an lạc cho hàng thiên nhân, nay ông mới nói, há chẳng muộn lắm ư? Ta 3 lần hiện tướng, ông ba lần làm thinh, sao lúc ấy ông không nói Ta biết! Nay Ta đã xả tuổi thọ, đã bỏ, đã nhổ rồi, thì không bao giờ Như Lai lại trái lời mình. Ví như một người hào quí đã nhổ đồ ăn uống xuống đất, A Nan đáp. – Nay Như Lai cũng vậy, đã bỏ, đã nhổ rồi đâu còn lấy lại nữa.
          Phật lại bảo A Nan cùng đi đến thôn Am-bà-la, có đại chúng thị tùng do theo đường Bạt-kỳ. Khi đến thôn Am-bà-la, tới một đồi cây, Phật dạy cho đại chúng về giới, định, tuệ. Do tu giới mà được định, được phúc quả lớn, do tu định mà được tuệ, được phúc quả lớn, do tu tuệ mà tâm thanh tịnh, cả tâm lẫn trí đều được giải thoát và sạch hết 3 lậu là Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu. Đã được giải thoát liền phát sanh trí giải thoát. Khi đó sanh tử dứt hết, phạm hạnh tròn đủ, việc làm xong xuôi, không còn phải chịu thân sau nữa.
          Từ thôn Am-bà-la, đức Thế Tôn lại bảo A Nan cùng đi, có đại chúng thì tùng, tuần tự đến các thôn Chiêm Bà, thôn Kiền Trà, thôn Ba-lê-ta (Pava) và thành Phụ Di theo con đường Bạt-kỳ, khi đến phía bắc thành Phụ Di, Phật dừng lại tại đám rừng Thi Xá
 
 

* Trang 92 *
device

Bà và bảo các Tỷ-kheo, Ta sẽ dạy cho các ông 4 giáo pháp lớn, các ông hãy lắng nghe, lắng nghe và khôn khéo suy nghĩ. Bốn pháp ấy là: Nếu có vị Tỷ-kheo nào đến nói với các ông rằng: “này chư hiền! Tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân theo Phật được nghe, được lãnh thọ giáo pháp này, giới luật này, điều tôi đã đích thân nghe Phật dạy, là điều đáng tin, không nên hủy báng”. Nếu có người nói như vậy thì các ông hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật, nương theo Phật, nương theo pháp mà cứu rõ gốc ngọn của lời nói ấy, nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, thì các ông hãy nói lại người kia rằng: “Phật không dạy lời như thế, ngươi đã lãnh thọ lầm chăng? Bởi vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp mà so nghiệm, thì lời người vừa nói trái với chánh pháp. Vậy này hiền sĩ! Hãy rời bỏ nó đi, chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác”. Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp, thì hãy nói người kia rằng: “lời người vừa nói, đúng là lời Phật nói, vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp mà so nghiệm, thấy lời người phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hãy cẩn thận thọ trì và  rộng nói cho người nghe, chớ rời bỏ”. Đó là đại pháp thứ nhất.
- Lại nữa, nếu có vị Tỷ-kheo nào đến nói với các ông như vầy: “Tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, ở trong một Chúng tăng hòa hợp toàn là

* Trang 93 *
device

bậc kỳ cựu đa văn, tôi đích thân được nghe, đích thân lãnh thọ pháp này, luật này, giáo này … (như trên, lược)… Đó là đại pháp thứ hai.
- Lại nữa, nếu có vị Tỷ-kheo nào đến nói với các ông rằng: “Tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia. Trong một chúng Tỷ-kheo đông đảo toàn là người trì pháp, trì luật, trì oai nghi mà tôi đích thân nghe, đích thân lãnh thọ pháp này, luật này, giáo này…(như trên, lược)…Đó là đại pháp thứ ba.
- Lại nữa, nếu có vị Tỷ-kheo nào đến nói với các ông rằng: Tôi từng ở lại thôn kia, thành kia, nước kia, tôi thân cận theo một vị Tỷ-kheo trì pháp, trì luật, trì oai nghi mà được nghe, được lãnh thọ pháp này, luật này, giáo này…” (như trên, lược)…Đó là đại giáo pháp thứ tư.
Bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo A Nan cùng đi, có đại chúng tùy tùng, do con đường Mạt La đi đến khu vườn Xà Đầu thuộc thành Ba Bà (Pava). Nơi đây có người thợ bạc tên là Châu Na (Thuần Đà- Cunda) nghe Phật đến thành này liền y phục chỉnh tề tìm đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi ngồi lại một bên. Phật lần lượt thuyết pháp, dạy cho Châu Na những điều ích lợi, vui mừng. Nghe xong ông phát tín tâm hoan hỷ, thỉnh Phật ngày mai đến nhà cúng dường, Phật làm thinh nhận lời. Ông Châu Na lễ Phật, lui về. Ngày mai ông trở lại thỉnh Phật, Phật cùng đại chúng đến nhà ông. Sau khi Phật và đại chúng đã an tọa, ông
 
 
 
 
 
 

* Trang 94 *
device

Châu Na đem món ăn dâng Phật và chúng tăng, ông lại nấu riêng một thứ nấm chiên đàn (1) (chiên đàn thọ nhĩ) là thức ăn trân quý kỳ lạ ít thấy, đem dâng riêng cho Phật, Phật dạy Châu Na chớ đem thứ nấm ấy cho Chúng tăng ăn Châu Na vâng lời.
          Sau khi Châu Na thấy chúng tăng thọ trai xong, rửa bình bát, rửa tay yên rồi, liền bạch Phật rằng:
Xin hỏi bậc Thánh trí,
Chánh giác đủ phúc trí:
Ở giữa thế gian này,
Có mấy hạng Sa-môn?
Phật đáp:
Theo như người vừa hỏi,
Có bốn hạng Sa-môn,
Chí hướng không đồng nhau,
Ngươi hãy nhận thức rõ:
Hạng hành đạo thù thắng,
Hạng khéo giảng đạo nghĩa,
Hạng nương đạo sinh sống,
Hạng làm ô uế đạo.
Hạng dứt bỏ ân ái,
Quyết chắc vào Niết-bàn,
Vượt khỏi đường Thiên nhân,
Là hành đạo thù thắng;
 

(1) Chiên đàn ở đây nên hiểu là quý báu. Thức ăn này theo chữ Pali là Sukara-maddavam, có nghĩa là một loại nấm hay rau mà loài heo ưa thích
 

* Trang 95 *
device

Hạng hiểu xấu lý mầu
Giảng đạo không vị lợi,
Giải quyết các nghi ngờ,
Là hạng khéo giảng đạo;
Khéo trình bày pháp cú (1)
Nương đạo để sinh hoạt,
Xa mong cảnh Niết-bàn,
Là hạng sống nhà đạo;
Trong ôm lòng gian tà,
Ngoài như tuồng thanh bạch,
Hư dối không thành thật,
Là hạng làm nhơ đạo,
Hạng này gồm thiện ác,
Tịnh, bất tịnh, xen lộn,
Mặt ngoài hiện tốt đẹp,
Như chất đồng mạ vàng,
Người tục thấy liền bảo:
“đó là thánh đệ tử,
Các vị khác không bằng,
Ta chớ bỏ lòng tin”.
Người lãnh đạo đại chúng
Trong nhỏ mà ngoài sạch,
Che dấu điều gian tà,
Kỳ thật lòng phoáng đãng.
Chớ trông dáng bề ngoài,
 
 
 
(1) Trình bày lưu loát về kinh văn pháp cú mà không đạt nghĩa lý như hạng trên.

* Trang 96 *
device

Đã vội đến thân kính,
Kẻ hiện dấu gian tà,
Mà trong lòng phóng đãng.
          Tiếp đó ông Châu Na đặt một ghế nhỏ ngồi hầu Phật để nghe thuyết pháp.
          Thuyết pháp xong, Phật cùng đại chúng lại đi lần trở về. Vừa đến giữa đường, Phật đứng lại dưới một gốc cây và bảo A Nan: “ Ta đau lưng, ông hãy sửa chỗ cho Ta nằm nghĩ”. A Nan sửa chỗ, Phật nằm nghỉ, A Nan ngồi hầu, Phật hỏi A Nan: “Vừa rồi ông thấy ông Châu Na có ý gì hối hận không? Nếu có hối hận là tự đâu?” A Nan đáp: “Ông Châu Na vừa cúng dường Phật như vậy không được ích lợi gì cả. tại vì sau khi đức Như Lai thọ trai ở nhà ông thì Ngài sắp vào Niết-bàn!” Phật dạy: “ A Nan chớ nói như vậy, chớ nói như vậy! Hiện nay Châu Na được nhiều lợi lớn, được sống lâu, được sắc đẹp, được sức lực, được tiếng tốt, được nhiều tài lợi, chết được lên trời cầu chi có nấy. Tại sao vậy? Vì người cúng dường cho Phật lúc mới thành đạo với người cúng dường cho Phật lúc sắp Niết-bàn, công đức 2 bên ngang nhau không khác. Ông hãy đên nơi nói với Châu Na rằng: “ A Nan tôi gần Phật, được nghe Phật dạy rằng ông Châu Na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn”. A Nan vâng lời, đi đến nói Châu Na những lời Phật vừa dạy.

Thọ trai nhà Châu Na,

* Trang 97 *
device

Có nghe Phật dạy rằng:
“Bịnh Như Lai thêm nặng,
Thọ mệnh đã sắp tàn,
Tuy ăn nấm chiên đàn
Mà bịnh vẫn càng tăng,
Dù bịnh, Ta nên đi
Lần đến thành Câu Thi (Kuosinara)”.
          Đức Như Lai lại đứng dậy đi tiếp, vừa đi được một quảng đường, Phật lại dừng dưới một gốc cây và dạy A Nan: “Ta đau lưng quá, hãy sửa chỗ cho Ta nghỉ”. A Nan sửa chỗ Phật nghỉ xong. A Nan ngồi hầu một bên. Lúc đó có người đệ tử của một vị A-la-hán tên là Phúc Qúi, đi từ thành Câu-thi-na-kiệt (Kusinara) nhắm đến thành Ba Bà, khi vừa đến giữa đường trông thấy Phật tại bên gốc cây, dung mạo đoan chính, các căn tịch định, tâm ý nhu thuận trong cảnh tịch diệt tuyệt đối, ví như con rồng lớn, như hồ nước đứng trong không chút cáu bợn, thấy rồi ông phát sinh thiện tâm hoan hỷ đi đến gần Phật đảnh lễ rồi ngồi lại một bên và bạch Phật rằng: “ Bạch đức Thế Tôn! Người xuất gia trong lúc ở tại chỗ thanh tịnh chuyên tu thì thật là kỳ lạ; dẫu cả một đoàn xe có những 500 chỗ đi ngang qua một bên mà họ vẫn không hay biết! Thầy tôi có lần ngồi tĩnh tọa dưới một gốc cây bên đường thuộc địa phận giữa 2 thành Câu thi và Ba bà, lúc đó có đoàn xe 500 cỗ đi ngang qua rần rần rộ rộ, mà thầy tôi tuy giác tĩnh
 

* Trang 98 *
device

nhưng không nghe thấy, sau đó có người đến hỏi thầy tôi có thấy đoàn xe vừa đi qua đây không? Thầy tôi trả lời là không thấy, người kia lại hỏi có nghe không? – trả lời là không nghe; lại hỏi nãy giờ ông ở đây hay ở chỗ khác? – trả lời là ở đây; lại hỏi nãy giờ ông tỉnh hay mê? – trả lời là tỉnh; lại hỏi nãy giờ ông thức hay ngủ? Trả lời là không ngủ. Người kia lặng lẽ cho là sự lạ! Người xuất gia chuyên chú tĩnh tâm đến như thế! Rồi nói với thầy tôi rằng: “ Vừa có 500 cỗ xe rần rộ đi qua mà còn không nghe thấy, có đâu lại nghe thấy chuyện khác!”, rồi người kia hoan hỷ từ tạ.
          Phật bảo: Này Phúc Quí! Ta hỏi ngươi như một người tĩnh tọa, có đoàn xe rần rộ đi qua mà tuy biết (1)nhưng không nghe với một người tĩnh tọa, khi có sấm sét vang động đất trời mà tuy biết nhưng không nghe, trong 2 điều đó bên nào khó hơn? Phúc Qúi thưa: “Tiếng động của ngàn chiếc xe đâu sánh bằng tiếng sấm sét, không tiếng xe còn dễ chứ không nghe tiếng sấm sét rất khó”, Phật bảo: - Này Phúc Qúi: Ta  có một lần ở tại một thảo lư trong thôn A việt, lúc đó có đám mây lạ vụt nổi lên, rồi tiếp sấm sét vang rầm dữ dội làm chết hết 4 con trâu và 2 anh em người đi cày, thiên hạ xúm tới chật ních,
 
 
 
 
 
 
 

(1)Tuy biết là tỏ ý không phải vô tri vô giác, hay nhập định vô tưởng, hay ngủ mê, hay cuồn loạn, nhưng chỉ là chuyên tâm mặc tưởng trong cảnh tâm ly cảnh mà thôi.

* Trang 99 *
device

nhưng Ta ra khỏi thảo lư đi kinh hành thong thả. Một người từ đám đông kia đi lại chỗ Ta, tác lễ rồi đi sau theo Ta. Dẫu biết nhưng Ta cố hỏi: người Ta tụ tập làm gì đông vậy? – người kia liền hỏi lại Ta rằng: nãy giờ Ngài ở đâu và thức hay ngủ? Ta trả lời: “ở đây, không ngủ”. Người kia tán thán cho là hy hữu, chưa có thấy ai đắc định được như Phật, tiếp kể chuyện xảy ra cho Ta nghe với một tâm hoan hỷ rồi vái chào mà đi.
          Lúc đó ông Phúc Qúi đang mang 2 tấm vải bông sắc vàng, trị giá cả trăm ngàn, lấy đem dâng Phật. Phật bảo đem cúng cho ông A Nan một tấm, Phúc Qúi vâng lời làm theo, rồi đảnh lễ Phật và ngồi lại một bên. Phật lần lượt thuyết dạy cho ông những pháp ích lợi vui mừng về bố thí, trì giới, phúc báo sanh thiên, đồng thời chỉ tính ái dục là đại hoạn ô uế, hoặc lậu là pháp chướng đạo, giải thoát là cao thượng hơn hết. Khi Phật biết tâm ý Phúc Qúi đã thuần thục như tấm vải trắng dễ nhuộm sắc màu, mới theo như thông lệ của chư Phật mà dạy tiếp cho ông về pháp Tứ đế, Phúc Qúi liền phát tín tâm thanh tịnh, xa lìa trần cấu, phát sinh pháp nhãn, thấy pháp, chứng pháp, quyết định ở trong chánh pháp, không còn bị sa đọa ác đạo, hoàn toàn không sợ hãi, nên bạch Phật: “ Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng và thọ trì ngũ giới, làm kẻ Ưu-bà-tắc ở trong giáo pháp của Phật”. Lại bạch Phật: “Lúc nào Phật đến giáo hóa tại thành Ba-bà, xin Ngài hạ cố

* Trang 100 *
device

đến khóm nhà nghèo của con, con muốn đem hết những vật thực, sàng tọa, y phục thuốc thang sẵn có trong nhà để dâng cúng Phật. Phật lãnh thọ cho thì nội gia con được an lạc”. Phật khen phải. Ông Phúc Qúi đảnh lễ Phật rồi lui về.
          A Nan liền đem tấm vải bông của mình dâng Phật, Phật nhận lãnh mang lên trên mình. Bấy giờ đức Thế Tôn hiện ra một dung mạo thung dung, oai quang hớn hở, các căn thanh tịnh, sắc diện tươi vui.
          A Nan trông thấy, âm thầm suy nghĩ: “Ta được hầu gần Phật 25 năm nay chưa khi nào thấy Phật có một sắc diện tươi sáng như ngày nay”, nên ông liền cung kính đến bạch Phật, hỏi về duyên cớ, Phật dạy có 2 duyên cớ mà sắc diện Như Lai tươi sáng khác lúc bình thường: một là lúc Phật mới thành ngôi chánh giác, hai là lúc Phật xả bỏ thọ mệnh sắp vào Niết-bàn.
          Phật bảo: “A Nan! Ta cần uống nước, ngươi hãy lấy nước đem đến đây”. A Nan thưa: “vừa rồi có 500 cỗ xe lội qua sông làm nước đục cả, chỉ có thể dùng rửa chân, không thể dùng uống được”. Phật dạy đến 3 lần như thế. Ông A Nan thưa: “Hiện chỉ có sông Câu Tôn cách đây không xa, là có nước trong mát uống hay tắm rửa đều được”, lúc đó có một vị thần ở tại núi Tuyết, vốn dốc lòng tin đạo, lấy bát đựng nước quí tịnh đủ 8 công đức đem đến dâng Phật.
 

* Trang 101 *
device

Phật thương xót lãnh thọ, rồi Ngài tiếp đi thong thả đến sông Câu Tôn, lấy nước uống và rửa xong rồi, cùng đại chúng đi lần nữa.Đi được một đoạn đường, Phật dừng lại tại dưới một gốc cây và bảo ông Châu Na (Cunda): “ngươi lấy y tăng già lê 4 lớp trải cho Ta nằm Ta đau lưng quá, muốn tạm nghỉ tại đây”. Châu Na trải chỗ cho Phật nghỉ xong, ông lễ Phật rồi ngồi lại một bên mà thưa rằng: “ Con muốn vào Niết-bàn, con muốn vào Niết-bàn”. Phật dạy: “Nên biết phải thời”. Châu Na liền vào Niết-bàn trước Phật.
          Ông A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật: “Sau khi Phật diệt độ, phép tẩn táng nên làm thế nào?” Phật dạy: “ Ông hãy yên tâm lo nghĩ tới đạo nghiệp của mình, việc ấy đã có hàng cư sĩ vui lo”. A Nan hỏi đến 3 lần, Phật dạy; muốn biết phép tẩn táng Thế Tôn thì nên làm theo cách tẩn táng chuyển luân thánh vương là trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể, rồi lấy bông mới quấn lại, tiếp lấy vải trắng quấn 500 lần rồi đặt vào kim quan đã tẩm dầu, lại đặt kim quan trong một cái quách lớn bằng sắt, sau hết đặt quách sắt vào một cái quách gỗ hương chiên đàn. Xong, chất đầy củi thơm lên trên mà trà-tỳ (đốt). Trà-tỳ xong lượm lấy xá -lợi  (thí phần đốt rồi còn lại) dựng tháp treo phan thờ tại ngả tư đường để dân chúng đi ngang trông thấy tháp vua mà tưởng nhớ loại chánh hóa của vua, hầu tăng nhiều ích lợi. Đối với Như Lai cũng làm như
 
 
 
 

* Trang 102 *
device

thế, để mọi người đi ngang trông thấy tháp Phật, mà tưởng lại đạo hóa của Như Lai pháp vương, hầu sống được phúc lợi và chết được sinh lên cõi trời.
          Này A Nan: “Trong thiên hạ có 4 hạng người nên dựng tháp thờ tự cúng dường là Như Lai, Bích Chi Phật, Thanh Văn và Chuyển Luân vương.
          Tiếp Phật cùng A Nan đi đến thành Câu Thi (Kosin) tới giữa đám cây sa la song thọ, có đại chúng đi theo. Có một người Phạm Chí từ thành Câu Thi đi đến thành Ba Bà, giữa đường gặp Phật, ông đang còn ở đàng xa đã được trông thấy Phật dung mạo đoan chính, nên phát lòng hoan hỷ đi đến hỏi han rồi đứng lại một bên, bạch Phật rằng: “ Thôn tôi ở cách đây không xa, kính mong đức Cù Đàm đến đó nghỉ đêm, sáng mai thọ thực xong hãy đi”. Phật dạy: “ Thôi, thôi! Ngươi đã cúng dường Ta rồi đó”. Phạm Chí ân cần thưa thỉnh tới 3 lần, Phật vẫn đáp như trước, lại bảo: “ông A Nan đàng sau kia, ngươi đến đó tỏ ý”. Phạm Chí nghe Phật bảo, đến ông A Nan thỉnh mời. A Nan đáp: “ Thôi, thôi, Phạm Chí! Ngươi đã cúng dường rồi đó”. Phạm Chí ân cần thưa thỉnh đến 3 lần, A Nan đáp: “Trời đã nóng bức, thôn kia lại xa, mà đức Thế Tôn thì quá nhọc, không thể đến được đâu”. Phật dạy kệ rằng:
Quái thay pháp hữu vi này,
 
 

* Trang 103 *
device

Đổi dời mãi không thôi,
Nay giữa cây song thọ,
Dứt Ta thân vô lậu (1)
Phật, Bích Chi, Thanh Văn,
Hết thảy đều quy diệt,
Vô thường không chọn lựa,
Như lửa đốt núi rừng.
          Phật đã vào thành Câu Thi, Ngài tới chỗ bản sinh(2)giữa cây sa la song thọ cho Ta nằm đầu xây hướng Bắc mặt xây hướng Tây, vì giáo pháp của Ta sẽ lưu truyền lâu dài ở phương Bắc”. A Nan sửa chỗ xong, Phật tự lấy y Tăng già lê 4 lớp đắp lên mình, nằm nghiêng hông tay mặt như sư tử chúa, hai chân chồng lên nhau. Lúc đó giữa đám cây song thọ có các quỉ thần vốn dốc lòng tin Phật, lấy các thứ hoa sái mùa rải khắp mặt đất. Phật bảo A Nan rằng: “ Các thọ thần ấy lấy hoa sái mùa cúng dường cho Ta như thế, chưa phải cúng dường Như Lai”. A Nan thưa: “Sao mới là cúng dường Như Lai?” Phật dạy: “Người nào biết lãnh thọ và thật hành đúng chánh pháp, mới là người cúng dường Như Lai”.
 
 
 
(1)Thân vô lậu: Thân chúng sinh do phiền não sinh, thân Phật do trí tuệ sinh, nên gọi là thân Phật là thân vô lậu, nhưng còn bị diệt vì thuộc hữu vi pháp(hữu vi vô lậu).
(2)Bản sinh là chỗ ngài đã sinh ra làm chuyển luân Thánh vương trong các kiếp trước. Xem đoạn kinh sau sẽ rõ.
 

* Trang 104 *
device

Lúc đó ông Phạm-ma-na cầm quạt đứng hầu trước Phật, Phật bảo: “Ngươi chớ đứng ở trước Ta”. A Nan nghe vậy thầm lặng suy nghĩ: “Ông Phạm-ma-na thường hầu hạ Phật, cung cấp mọi sự cần thiết, tôn kính Như Lai không hề chán nản, nay vào ngày cuối cùng, lẽ để cho ông săn sóc, chớ sao Phật lại đuổi đi, là có ý gì?” A Nan liền đến bạch Phật hỏi duyên cớ. Phật dạy: “Tứ phía ngoài thành Câu Thi này 12 do tuần, có các vị thiên thần chật ních, họ đến hiềm trách vị Tỷ-kheo đó rằng: sao đứng choán trước Phật, trong giờ phút cuối cùng Phật sắp vào Niết-bàn, chúng ta muốn đến chiêm bái một lần, mà vị Tỷ-kheo đó có oai đức lớn lao, ánh sáng chói che không cho chúng ta được gần Phật để lễ bái cúng dường. Này A Nan! Vì thế mà Ta đuổi ông ấy đi”. A Nan bạch Phật: “ Chẳng hay vị Tỷ-kheo đó xưa kia chứa phúc đức gì, tu hạnh nghiệp gì mà nay có oai đức như thế?” Phật dạy: “ Vào kiếp thứ 91 trong thời quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi. Vị Tỷ-kheo đó, lúc ấy đem tâm hoan hỷ cầm cây đuốc cỏ soi sáng vào ngôi tháp của Phật, nhờ đó nay ông được có oai quang chiếu suốt cả 28 tầng trời, ánh sáng của chư thiên thần không thể sánh kịp”.
          A Nan cung kính bạch Phật: “Xin Phật chớ diệt độ chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu này. Hiện có các nước lớn như Chiêm Bà, Tỳ-xá-ly, thành Vương-xá, nước Bạt-kỳ, nước Xá-vệ, thành Ca-tỳ-la-vệ, thành Ba-la-nại, ở đó nhân dân đông đúc,

* Trang 105 *
device

nhiều người tín mộ Phật pháp. Phật diệt độ tại các chỗ đó, ắt nhiều người cung kính, cúng dường Xá-lợi. Phật dạy: “ Đừng,đừng! Chớ có tưởng như thế! Chớ cho nơi này là bỉ lậu! Vì sao thế? Vì khi xưa tại nước này, có vị vua tên Đại-thiện-kiến và thành này lúc đó tên là Câu-xá-bà-đề. Đô thành của vua dài 480 dặm rộng 280 dặm. Bấy giờ được mùa lúa rẻ, nhân dân sung sướng, vua có thành 7 lớp, bao quanh 7 lớp lan can, chạm chỗ văn vẻ, linh báu treo xen. Móng thành bề sâu 3 nhẫn, lên cao 12 nhẫn, lâu dài trên thành cao 12 nhẫn, mỗi trụ chu vi 3 nhẫn. Thành vàng thì cửa bạc, thành bạc thì cửa vàng, thành lưu ly thì cửa thủy tinh, thành thủy tinh thì cửa lưu ly. Quanh thành trang nghiêm bằng tứ bảo, lan can bằng tứ bảo. Lầu vàng thì treo linh bạc,lầu bạc thì treo linh vàng. Có hào 7 lớp, mọc đầy hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, đáy hào toàn lát bằng cát vàng. Hai bên bờ nào có cây Đa lân, hễ cây vàng thì lá hoa trái bạc, cây bạc thì hoa trái vàng…
          Vua Đại Thiện Kiến có đủ 7 báu và 4 đức. Bảy báu là: Xe vàng, voi trắng, ngựa xanh, thần châu, ngọc nữ, cư sĩ (cận thần) và quân lính. Bốn đức là sống lâu, cường tráng, dung mạo đoan chính và kho báu phủ phê.
          Lâu lâu vua bảo đánh xe đi thong thả dạo khắp quốc độ để xem xét tình hình nhân dân có được an lạc, hoạn nạn xảy ra chăng. Hễ nhân dân gặp vua
 
 
 
 
 

* Trang 106 *
device

giữa đường liền nói với kẻ đánh xe đi chậm lại để được xem kỹ long nhan. Vua vỗ về trìu mến nhân dân như cha yêu con, quốc dân kính mộ vua như con kính cha. Có gì quí báu họ đem dâng vua, tùy ý sử dụng, vua bảo đừng, ta có đủ tài bảo cần dùng rồi.
          Vào lúc khắc vua muốn lập cung quán, thì quốc dân đến xin vua làm thầy, vua bảo ta cho như vậy là đã được các ngươi cúng dường rồi, ta sẵn có tài bảo để lo liệu. Quốc dân lại năn nỉ xin vua để tạo lập, vua bảo: “ tùy ý các ngươi muốn”. Quốc dân được lệnh, liền dem 84.000 chiếc xe chở vàng bạc đến thành Câu-xá-bà để tạo lập pháp điện…

 
*
*         *
 

* Trang 107 *
device

 
Kinh Trường A Hàm