LOGO VNBET
KINH DU HÀNH
( Lược thuật cuộc hành hóa của Phật, theo đó Phật đã tùy cơ ban dạy những lời thâm trầm, thi thiết cho hàng đệ tử, từ việc xử thế, tu hành đến việc an quốc).
I


 
        Tôi nghe như vầy: Một thời đức Phật ở tại núi Kỳ Xà Quật (Gijjhakuta) thuộc thành La Duyệt ( Rajagaha) cùng với chúng đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
        Lúc đó vua A Xà Thế ( Ajatusattu) nước Ma Kiệt Đà (Vajji) mới tự nghĩ: Nước kia tuy mạnh, dân chúng cường hào, nhưng lấy sức ta để thắng họ không phải là khó. Liền sai vị đại thần Võ Xá (Vassakara): “ ông hãy đến núi Kỳ Xà Quật chỗ đức Thế Tôn, nhân danh ta đảnh lễ và thưa hỏi đức Thế Tôn, thử Ngài đi đứng có khỏe mạnh, ăn ở có thường chăng? Sau đó hãy bạch hỏi đức Thế Tôn rằng: dân xứ Bạt Kỳ, tự ỷ hùng mạnh, dân chúng cường hào, không chịu thần phục ta, ta muống sang đánh, không hiểu đức Thế Tôn có dạy bảo gì không? Nếu Ngài có dạy thế nào, ngươi hãy nhớ cho kỹ lưỡng rõ ràng đầy đủ, trở về tâu lại ta hay, đúng như thế ấy. Những điều nào Phật đã dạy thì chắc không bao giờ sai lầm”. Đại thần Võ Xá lãnh mạng, cõi xe đi đến núi Kỳ Xà Quật, vừa tới nơi, dừng xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn ở,
 
 
 

* Trang 55 *
device

thăm hỏi xong, ngồi lại một bên, bạch đức Thế Tôn rằng: “ Vua A Xà Thế nước Ma Kiệt xin đảnh lễ dưới chân Phật và ân cần kính hỏi Ngài được mạnh khỏe không?” Ông lại thưa tiếp: “dân xứ Bạt Kỳ ỷ mạnh không chịu thuần phục nhà vua nên nhà vua muốn sang đánh, chẳng hay đức Thế Tôn có dạy bảo gì không?”
        Lúc đó A Nan đang cầm quạt đứng hầu sau Phật , Phật hỏi A Nan: “ Ông có nghe dân nước Bạt Kỳ thường nhóm họp bàn việc chánh sự không?- Có nghe, A Nan đáp.- Phật bảo: Nếu vậy thì trẻ già hòa thuận, nước đó lại càng mạnh thêm, và được yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.                                       
        Này A Nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt Kỳ thường xem trọng pháp luật, hiểu điều cấm kỵ, chẳng trái lễ độ không?- Có nghe. - Nếu vậy thì nước đó càng mạnh thêm và yên ổn lâu ngày, không thể xâm hại được.
        Này A Nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt kỳ thường hiếu dưỡng cha mẹ, kính trọng sư trưởng không?- Có nghe. - Nếu vậy thì nước đó càng mạnh thêm và yên ổn lâu ngày, không thể xâm hại được.
       
 
 
 

* Trang 56 *
device

Này A Nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt Kỳ thường tôn trọng miếu mạo, kính lễ quỉ thần (1)không? – có nghe. – Nếu vậy thì nước đó càng mạnh thêm và yên ổn lâu ngày, thì không thể xâm hại được.
        Này A Nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt Kỳ thường giữ gìn khuê môn chính đính, thanh khiết, không bậy bạ, cho đến sự vui đùa nói năng cũng không tà vạy không? – Có nghe. – Nếu vậy thì nước đó càng mạnh thêm và yên ổn lâu ngày, không thể xâm hại được. 
        Này A Nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt Kỳ thường tôn thờ Sa-môn, kính trọng người trì giới và thân cận ủng hộ chẳng biếng nhác không? – Có nghe. – Nếu vậy thì nước đó càng mạnh thêm và yên ổn lâu ngày, không thể xâm hại được (2).
        Đại thần Võ Xá lúc ấy đứng một bên được nghe cả như vậy, liền bạch Phật: “ Nhân dân nước kia nếu thi hành có 1 điều không mong gì thắng họ, huống nay họ đủ cả 7 điều. Vì việc nước quá bận,
 
 
 
 
 
(1)Mỗi dân tộc có mỗi tín ngưỡng hoặc giống nhau hoặc khác nhau tùy theo trình độ, dân tính. Một khi nền tín ngưỡng của dân chúng nào bị lung lay thì một yếu tố đoàn kết đạo đức đã bị hư hỏng mà quốc gia dễ bị suy vong. Ngược lại là hưng thạnh. Tín ngưỡng quỉ thần có thể xem là lối tín ngưỡng phổ thông nhất của các dân tộc thời cổ.
(2)Trong 8 điều này Phật nhấn mạnh những yếu tố căn bản tiên quyết để xây dựng một quốc gia bền vững, ấy là tinh thần đoàn kết, cộng hòa, đạo đức. Nếu những yếu tố này không có thì sẽ không có tất cả sự kiến thiết khác.

* Trang 57 *
device

con xin từ tạ Phật trở về”. Phật dạy: “Nếu biết thời giờ”. Ông Võ Xá liền đứng dậy đi quanh Phật 3 vòng rồi vái chào mà lui.
          Tiếp đó, Phật bảo A Nan: “Ông hãy truyền cho các Tỷ-kheo ở chung quanh thành La Duyệt Kỳ nhóm hết lại giảng đường”. A Nan vâng lệnh nhóm hết các Tỷ-kheo lại giảng đường xong, bạch Phật : “Các Tỷ-kheo đã nhóm đủ, xin bạch Ngài rõ”. Đức Thế Tôn liền đứng dậy đi đến giảng đường, an tọa, bảo các Tỷ-kheo: “Ta sẽ vì các ông giảng nói 7 pháp không thối chuyển, các ông hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ càng”. Này các Tỷ-kheo! 7 pháp không thối chuyển là:
  1. Nếu các Tỷ-kheo thường hội họp luận bàn chính nghĩa thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
  2. Nếu các Tỷ-kheo trên dưới hòa đồng, kính thuận không trái,  thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
  3. Nếu các Tỷ-kheo trọng luật pháp, hiểu cấm kỵ, không trái qui chế, thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
  4. Nếu các Tỷ-kheo nào mà có sức tiếp độ chúng tăng, hiểu nhiều biết rộng, chúng tăng nên kính thờ họ, thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
 

* Trang 58 *
device

  1. Nếu các Tỷ-kheo lo hộ niệm tâm ý, lấy sự hiếu thuận làm đầu, thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp khó hư hoại.
  2. Nếu các Tỷ-kheo tịnh tu phạm hạnh, không chạy theo thời dục, thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
  3. Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi, thời già trẻ hòa thuận mà chánh pháp không bị hư hoại.
Này các Tỷ-kheo! Lại có 7 pháp làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
  1. Ưa giản dị ít việc, không ưa rờm rà, sự tướng, thời chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
  2. Ưa yên lặng không ưa nói nhiều.
  3. Bớt sự ngủ nghỉ, tâm không hôn muội.
  4. Không nhóm phe đảng nói việc vô ích.
  5. Không tự khoe khoang khi mình thiếu đức.
  6. Không kết bè bạn với người xấu ác.
  7. Ưa ở chỗ nhàn tịnh, sơn lâm gẫm đạo.
Hàng Tỷ-kheo làm được như vậy, thời chánh pháp sẽ được tăng trưởng không bị tổn giảm.
Này các Tỷ-kheo! Lại có 7 pháp làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
  1. Có lòng tin, tin đức Như Lai chí chân chí giác, đủ mười đức hiệu.
 

* Trang 59 *
device

  1. Biết hổ với điều thiếu xót của mình.
  2. Biết thẹn với việc ác mình đã làm.
  3. Đa văn, đối với pháp đã lãnh thọ, giữ gìn trọn vẹn trên giữa, dưới, nghĩa lý thâm áo, thanh tịnh không bẩn, phạm hạnh đầy đủ.
  4. Tinh cần khổ hạnh, bỏ ác tu hành, chuyên tâm luyện mãi không ngừng.
  5. Điều đã học tập được, ghi nhớ mãi không quên.
  6. Tu tập trí tuệ, biết các pháp sanh diệt vô thường, biết yếu đạo đưa tới hiền thánh, dứt hết gốc khổ. Tỷ-kheo tu được 7 pháp như thế thời làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
Này các Tỷ-kheo! Lại có 7 pháp làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Kính Phật; 2. Kính Pháp; 3. Kính Tăng; 4. Kính giới luật; 5. Kính thiền định; 6. Kính thuận cha mẹ; 7. Kính pháp “ Không phóng túng”. Tỷ-kheo tu học được 7 pháp như vậy. thì làm cho chánh pháp tăng trưởng mãi không bị hao tổn.
Này các Tỷ-kheo! Lại có 7 pháp làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Quán thân bất tịnh; 2. Quán đồ ăn bất tịnh; 3. Chẳng mê đắm thế gian; 4. Thường nghĩ tới tướng sự chết; 5. Tưởng tới lẽ vô thường; 6. Tưởng tới cái khổ vô thường; 7. Tưởng tới cái khổ vô ngã. Tỷ-kheo tu được 7 pháp

* Trang 60 *
device

như vậy, thì làm cho chánh pháp tăng trưởng không  bị hao tổn.
          Này các Tỷ-kheo! Lại có 7 pháp làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Tu về niệm giác ý (1),ởchỗ nhàn tịnh tu pháp giải thoát, vô vi vô dục; 2. Tu về pháp giác ý; 3. Tu về tinh tấn giác ý; 4. Tu về hỷ giác ý; 5. Tu về ỷ giác ý; 6. Tu về định giác ý; 7. Tu về hộ giác ý. Tỷ-kheo tu được 7 pháp như vậy, thời làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
          Này các Tỷ-kheo! Có 6 pháp không thối chuyển làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
1. Thân thường làm lành, không não hại chúng sinh.
2. Miệng thường nói lành, không nói điều dối ác.
3. Ý thường nghĩ lành, không ôm lòng thêm bớt đảo điên.
4. Được sự lợi dưỡng hợp lẽ, chia cùng Chúng hưởng, bình đẳng như nhau.
5. Giữ giới thánh hiền không để khuyết lậu, cũng không cấu uế, giữ chặt không để biến động.
 
 
 
 
 
(1)Đây là 7 pháp giác ý, tức là 7 điều giác tỉnh trong ý.
 

* Trang 61 *
device

6. Tìm thấy đạo thánh hiền để dứt hết thống khổ. Tỷ-kheo tu được 6 pháp như vậy, thời làm cho các chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
Này các Tỷ-kheo! Lại có 6 pháp không thối chuyển, làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm Tăng; 4. Niệm giới luật; 5. Niệm bố thí; 6. Niệm phúc báo sanh cõi trời. Tu 6 niệm ấy thời làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
Tiếp đó, đức Thế Tôn lại bảo A Nan rằng: “ Các ông hãy nghiêm chỉnh, ta muốn đi đến Trúc Viên”. Phật liền chỉnh đốn y bát cùng các Đại chúng thị tùng, theo ngã đường ngang qua nước Ma Kiệt đi đến Trúc Viên. Sau khi lên giảng đường an tọa, Phật dạy các Tỷ-kheo về  Giới, Định, Tuệ; nhân tu giới mà được định, được phúc quả lớn, nhân tu định mà được trí, được phúc quả lớn, nhân tu trí mà tâm  thanh tịnh, tâm và trí được giải thoát, dứt hết 3 thứ lậu hoặc là Dục lậu, Hữu lậu và vô minh lậu (1). Khi đã được giải thoát thì phát sanh trí tuệ giải thoát, sanh tử dứt hết, phạm hạnh tròn đủ, công phu hoàn mãn, không còn phải chịu lấy thân sau nữa.
Hết ở Trúc Lâm, đức Thế Tôn lại bảo A Nan: “Các ông hãy nghiêm chỉnh, Ta muốn đi đến Ba-
 
 
 
 
 
(1)Ba thứ hoặc lậu: Dục lậu là phiền não buộc chúng sanh ở lại cõi Dục; Hữu lậu phiền não buộc chúng sanh ở lại cõi Sắc và Vô sắc; Vô minh lậu là cái vô minh làm căn bản cho chúng sinh luân hồi, không chứng được Niết-bàn, Bồ-đề.

* Trang 62 *
device

liên-phất (Pataligama). Ngài liền chỉnh đốn y bát cùng với các Đại chúng tùng theo ngã đường Ma Kiệt đến thành Ba-liên-phất và ngồi ở gốc cây Ba-liên-phất. Lúc ấy hàng cư sĩ tại đó nghe Phật cùng đại chúng từ xa đến nghỉ dưới cây Ba-liên-phất, mới rủ nhau ra khỏi thành đến yết kiến đức Thế Tôn. Khi mới đến đàng xa, họ trông thấy Phật dung mạo đoan chính, các căn tịnh định, nhu thuận tột bực, như con rồng lớn, như nước đứng trong không chút bợn nhơ, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trang nghiêm tột bực. Thấy rồi ai nấy hoan hỷ, lần đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên. Đức Thế Tôn lần lượt vì họ nói pháp, dạy những điều lợi ích vui mừng. Các cư sĩ được nghe Phật nói pháp liền bạch Phật rằng: “ Chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh chúng, trông mong đức Thế Tôn thương xót hứa nhận cho chúng tôi được làm kẻ Ưu bà tắc, nguyện từ nay về sau không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, chúng tôi đã giữ giới thì không bao giờ dối vọng. Ngày mai chúng tôi xin được cúng dường, ngưỡng mong đức Thế Tôn cùng đại chúng giũ lòng hạ cố”. Đức Thế Tôn làm thinh nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật 3 vòng rồi vái lễ mà lui. Trở về họ lo gấp dựng nhà lớn, ban sửa nơi chỗ, quét tước, xông hương, trang hoàng bảo tọa. Khi thiết cúng phẩm xong, họ đến bạch Phật: “ Phẩm vật đã thiết đủ, xin bạch Ngài

* Trang 63 *
device

rõ”. Đức Thế Tôn liền đứng dậy mang y cầm bát cùng đại chúng đến giảng đường. Đến nơi, rửa tay chân xong, Phật ngồi giữa. các Tỷ-kheo bên tả, các cư sĩ ngồi bên  hữu. Phật dạy các cư sĩ rằng: “ Phàm người phạm giới thời có 5 điều suy hao: 1. Cầu tài lợi không được toại nguyện. 2. Dẫu có được tài lợi ngày mỗi hao mòn.3. Bất cứ đến đâu cũng bị người khinh rẻ. 4. Tiếng xấu đồn khắp thiên hạ. 5. Thân hoại mạng chung sa vào địa ngục. Trái lịa, phàm người giữ giới sẽ có 5 công đức: 1. Cầu gì đều được như nguyện. 2. Tài lợi thêm mãi không hao sút. 3. Ở đâu cũng được mọi người kính mến. 4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ. 5. Thân hoại mạng chung được sanh lên cõi trời.
          Bấy giờ đã nửa đêm, Phật bảo các cư sĩ nên trở về. Các cư sĩ vâng lời, đi quanh Phật 3 vòng rồi đảnh lễ mà lui.
          Sáng hôm sau, lúc trời vừa sáng, đức Thế Tôn đi tới chỗ thanh vắng dùng Thiên nhãn xem suốt thấy các vị đại thần phong thủ đất đai nhà cửa, các trung thần, hạ thần cũng phong thủ đất đai nhà cửa, hỏi A Nan: “ Này A Nan! Ai tạo lập thành Ba-liên-phất này?” – A Nan đáp: “ Thành này do vị đại thần Võ Xá tạo ra để phòng ngự nước Bạt Kỳ”, Phật bảo A Nan! Người tạo ra thành này rất hợp ý trời, vừa lúc trời vừa sáng Ta đi tới chỗ thanh vắng, dùng Thiên nhãn trông thấy các vị thần phong thủ đất đai
 
 
 
 

* Trang 64 *
device

nhà cửa, các trung thần, hạ thần cũng vậy. A Nan! Nên biết chỗ đất đai nhà cửa nào được đại thiên thần phong thủ, ai ở đó tất được an lạc nhiều; còn chỗ trung thần phong thủ thì hàng trung nhân ở; chỗ hạ thần phong thủ thì hạ nhân ở và công đức nhiều ít cũng tùy theo ở chỗ ở ấy.
          Này A Nan! Chỗ này là chỗ hiền nhân ở, chỗ bán buôn qui tụ, phép nước đúng đắn không dối lụy. Thành này rất tốt, được mọi nơi tôn trọng, không thể phá hoại; về sau nếu có bị phá chăng chỉ do 3 việc là bị nước lớn, bị lửa lớn và bị người trong thông mưu với người ngoài để phá.
          Trong lúc đó hàng cư sĩ suốt đêm ở nhà sửa soạn đồ cúng dường, đúng giờ, họ đến bạch Phật biết. Hàng cư sĩ tự tay bưng sớt đồ ăn cúng Phật. Lúc Phật thọ trai xong, họ đặt một chỗ nhỏ ngồi hầu trước phật. Phật chỉ mà dạy rằng: “chỗ này của các ngươi là chỗ bậc hiền trí, người trì giới tịnh tu phạm hạnh cư trú, được các thiện thần vui mừng ủng hộ”. Tiếp Phật chú nguyện cho họ: “nguyện cho các ngươi biết kính nơi nào đáng kính, biết thờ nơi nào đáng thờ, mở lòng rộng thí, thương yêu tất cả, có tâm từ mẫn, được chư thiên khen ngợi và thường cùng người lành sum họp, không cùng người ác ở chung”.
          Thuyết pháp xong, đức Thế Tôn liền rời khỏi chỗ, đại chúng hầu quanh Phật mà trở về. Ông đại thần Võ
 

* Trang 65 *
device

Xá đi theo Phật, nghĩ rằng: “Hôm nay, nhân đức Sa Môn Cù Đàm đi ra cửa thành này, ta hãy gọi cửa này là cửa Cù Đàm, lại nhân bến sông mà Phật sang ngang, liền đặt tên chỗ là bến Cù Đàm.
          Đức Thế Tôn ra khỏi thành đi đến bờ sông, thấy 2 bên bờ dân cư đông đảo có người thì dùng thuyền có người dùng bè, có người dùng phà mà sang sông. Đức Thế Tôn cùng đại chúng chỉ trong khoảng khắc đã đến cả bên kia sông. Nghĩ về sự nghĩ đó, đức Thế Tôn liền dạy bài kệ:
Phật là Hải thuyền sư,
Pháp là cầu sang sông,
Là chiếc xe Đại thừa,
Độ hết thảy nhân thiên.
Phật là bậc tự giải thoát,
Sang sông, thành Phật đạo,
Khiến tất cả đệ tử,
Được giải thoát Niết-bàn.
          Đức Thế Tôn lại từ nước Bạt Kỳ đi đến thôn Câu-lỵ (Koti-gama) nghỉ ở dưới một khóm rừng và bảo các Tỷ-kheo, có 4 pháp thâm diệu là thánh giới, thánh định, thánh tuệ và thánh giải thoát. Đó là pháp vi diệu khó hiểu mà Ta với các ông xưa kia vì không hiểu rõ nên mãi trong vòng sống chết, trôi nổi vô cùng. Quán xét theo nghĩa đó, Phật liền dạy bài kệ:
 
 

* Trang 66 *
device

Giới, định, tuệ, giải thoát,
Duy Phật phân biệt rõ.
Lìa khổ độ chúng sinh,
Khiến dứt mầm sanh tử.
          Phật lại cùng A Nan và đại chúng đi đến thôn Na-đà (Nasika) do con đường Bạt-Kỳ và dừng lại xứ  Kiện-chùy. Khi đó A Nan tìm tới chỗ ngồi thanh vắng yên lặng suy nghĩ: “ Thôn Na-đà này có 12 cư sĩ là Gìa-già-la, Ca-lăng-già, Tỳ-già-đà, già-lê-du, Gía-lâu, Bà-gia-lâu, Bà-đầu-lâu, Tẩu-bà-đầu-lâu, Đà-lê-xá-nậu, Tẩu-đạt-lê-xá-nậu, Gia-du, Gia-du-đa-lâu đã qua đời. Hiện nay không biết họ sinh về đâu? Lại có 50 người khác mệnh chung, lại 500 người khác nữa mệnh chung, nay không biết họ sanh về chỗ nào?” A Nan suy nghĩ như thế xong liền đến bạch Phật, cầu Phật giải nói. Phật bảo: “A Nan! 12 cư sĩ kia nhờ đoạn 5 hạ phần kiết (1)nên mệnh chung họ đã được sinh lên cõi trời. Sanh đến đó rồi tiếp tục tu hành cho đến khi nhập Niết-bàn, chứ không trở lại cõi này nữa, còn 50 người kia nhờ đoạn hết 3 kiết sử (2), nhẹ bớt dâm, nộ, si, nên mệnh chung họ được chứng quả Tư-đà-hàm, chỉ còn một phen sanh
 

(1) Năm kiết sử hạ phần là những phiền não ràng buộc chúng sinh phải mắc kẹt trong dục giới là Tham, Sân, Thâu kiết giới thủ, nghi.
(2) Ba kiết sử là thân kiến tức chấp ngã, giới thủ tức chấp theo giới luật tà vạy, và nghi tức nghi ngờ chánh pháp. Ba thứ này nặng hơn cả trong các thứ làm ngăn ngại sự kiến đạo, bởi vậy đoạn hết 3 thứ này thì kiến đạo, thoát ly tà kiến mà nhập quả vị Dự lưu Tu-đà-hàm.

* Trang 67 *
device

trở lại cõi này để dứt hết gốc khổ rồi thôi. Còn 500 người kia nhờ đoạn trừ 3 kiết sử nên họ đã chứng quả Tu-đà-hàm, không còn bị đọa vào ác thú, lại chắc chắn thành đạo, chỉ trở lại cõi này 7 lần để dứt hết gốc khổ mà thôi”.
          Này A Nan! Phàm có sinh thì có chết, đó là lẽ thường của cuộc đời, có gì là quái lạ. Nếu thấy mỗi người chết, ông đều tới hỏi Ta như vậy chẳng là quấy rầy ư?
          A Nan đáp: thật có như vậy.
          Phật bảo: “ A Nan! Ta nay sẽ vì ông nói rõ pháp cảnh để các đệ tử biết rõ chỗ thọ sanh. Hễ người nào khi đã dứt hết 3 đường dữ (1), chứng quả Tu-đà-hàm, thì không quá 7 lần sanh lại Dục giới là đoạn sạch thống khổ và cũng có thể nói việc ấy cho người khác nghe.
          Này A Nan! Pháp cảnh (2)là khi các đệ tử Phật đã sinh một lòng tin vững chắc không biến hoại, hoan hỷ tin Phật là đức Như Lai chí chân vô thượng đẳng chính giác, 10 đức hiệu đầy đủ: hoan hỷ tín Pháp là giáo pháp chân chính vi diệu, Phật tự ý nói ra, không cuộc hạn thời tiết, dạy bày con đường đi đến Niết-bàn, kẻ trí nong nả noi theo; hoan hỷ tin Tăng là chúng hòa đồng trong lẽ thiện, sở hành chất
 
 

(1)Ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Được Tu đà hoàn thì không còn đọa vào 3 đường này nữa.
(2)Pháp cảnh là lấy pháp làm gương mà soi rõ sự thọ sinh trong tương lai.

* Trang 68 *
device

trực không dối trá, và chứng thành đạo quả, trên dưới thuận hòa đầy đủ pháp thân(1), hoặc có người đang hướng tới Tu-đà-hàm và được chứng quả Tu-đà-hoàn, có người đang chứng tới A-na-hàm và được quả A-na-hàm, có người đang hướng tới A-la-hán. Ấy là 4 đôi 8 bậc Hiền thánh trong đạo Như Lai, họ là người đáng cung kính làm ruộng phước cho đời, và hoan hỷ tin chắc giới pháp của hiền thánh là thanh tịnh không nhơ, không bị khuyết lậu được các bậc minh triết tu theo mà chứng đến Tam muội định vậy.
          Đức Thế Tôn lại bảo A Nan và đại chúng cùng đến nước Tỳ-xá-ly (Vesali) do con đường Bạt-Kỳ và nghỉ ở một gốc cây. Lúc đó có một dân nữ tên Am-bà-bà-lê (Ambapali) vừa nghe Phật cùng đệ tử đến đó, liền sửa xa giá đi đến chỗ Phật để lễ bái cúng dường. Khi chưa đến nơi, nàng đã được thấy bóng đức Thế Tôn diện mạo đoan chánh, tướng tốt đầy đủ như mặt trăng ở gữa đám sao. Nàng rất hoan hỷ, xuống xe đi bộ tới chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi lại một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho nàng, nghe xong nàng phát tâm vui mừng quỳ bạch Phật rằng: “Bắt đầu từ nay con quy y ngôi tam bảo. Mong Phật nhận lời cho con được làm kẻ Ưu-bà-di ở trong chánh pháp, con thề trọn đời không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không
 
 
 
 
(1)Pháp thân là lấy giới pháp làm thân, thân bất ly pháp, pháp bất ly thân.
 

* Trang 69 *
device

uống rượu, cầu thỉnh Phật cùng đại chúng ngày mai lãnh thọ một bữa cơm của con cúng dường, đến tối lại thì xin nghỉ lại vườn của con”. Phật làm thinh nhận lời. Nàng liền đứng dạy đi quanh Phật 3 vòng rồi đảnh lễ mà lui. Phật bảo A Nan và đại chúng sửa y bát cùng đến viên quán của nàng.
          Lúc đó ở nước Tỳ-xá-ly có 500 người dòng Lệ-xa (Lichavi), nghe Phật đến vườn nghỉ tại vườn của Am-bà-bà-lê thì liền cỡi xe ngựa 5 sắc lộng lẫy: có toán thì cõi xe xanh, ngựa xanh, phan dù áo mão đều xanh, có toán thì cỡi xe vàng, ngựa vàng, phan dù áo mão đều vàng v.v…y phục đồng sắc xong cả 500 người kéo đến Phật. Nàng Am-bà-bà-lê sau khi từ giã Phật trở về, giữa đường gặp phải xe họ, đôi bên chạy xe rất mau, nghẹt đường không chỗ tránh, nên bị va chạm, móc xuống làm phần mui hư hỏng . Nhóm Lệ-xa cất tiếng trách: “Người ỷ thế gì mà không tránh đường cho chúng tôi đi, để xe cộ chúng tôi bị hư gãy cả”.- Nàng Am-bà đáp: “ Này các anh, tôi đã thỉnh Phật ngày mai thọ trai, nên tôi phải về gấp kịp sửa soạn đồ cúng dường, thành phải cho xe đi mau không tránh kịp”. Nhóm Lệ-xa liền bảo nàng: “Ngươi hãy nhường ta thỉnh Phật trước, ta tặng ngươi trăm ngàn lạng vàng”. Nàng đáp: “Tôi đã thỉnh trước rồi, không thể đổi được”. Nhóm Lệ-xa tiếp: “Chúng tôi sẽ tặng người gấp 16 lần trăm ngàn lượng vàng, ngươi không để chúng tôi thỉnh trước, không được. Hoặc chúng tôi sẽ tặng bằng số tài bảo
 
 
 

* Trang 70 *
device

nửa nước, ngươi hãy để chúng tôi thỉnh trước”. Nàng trả lời: “ Gỉa sử tài bảo của cả nước đem cấp tôi, tôi cũng không nhận, vì Phật ở tại vườn tôi, Ngài đã nhận lời tôi thỉnh, tôi không thể nhường cho các anh được”. Các Lệ-xa khoa tay hối tiếc, rằng nàng con gái này đã làm chúng ta thiếu mất cái phúc cả đầu tiên. Họ liền tiến tới khu vườn Phật dang ở. Khi đức Thế Tôn vừa thấy 500 chàng thanh niên với ngựa xe số vạn, chật đường tiến đến, Ngài bảo các Tỷ-kheo: “Các ông nên biết chư thiên Đạo lỵ khi đi dạo chơi, trang sức oai nghi cũng không khác đoàn người đó mấy, các ông hãy thâu nhiếp thân tâm, giữ gìn oai nghi đầy đủ. Tỷ-kheo thâu nhiếp tâm mình rồi sau quán sát thân người, rồi quán sát một lượt cả thân mình, thân người một cách siêng năng không biếng nhác, ghi nhớ mãi không quên, để xa bỏ lòng tham dục luyến ái thế gian. Tiếp đến quán sát về Thọ, về Ý, về Pháp cúng như thế (1).
          Còn hàng Tỷ-kheo phải giữ gìn oai nghi như thế nào? Là, hàng Tỷ-kheo nên biết làm những điều đáng làm, biết bỏ những điều đáng bỏ, từ việc trông ngó, co duỗi, cúi ngước, mang y cầm bát cho đến việc ăn uống, thuốc thang, đều đừng để mất oai
 
 
 

(1)Quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã tức quán Tứ niệm xứ.
 
 
 
 
 
 

* Trang 71 *
device

nghi. Khôn khéo từ bỏ ấm cái(1), đi ở nằm ngồi, ngủ thức, nói năng hay im lặng đều phải nhiếp tâm đừng cho loạn động. Đấy là những oai nghi hàng Tỷ-kheo cần giữ đủ”.
          Khi đám thanh niên đến mé vườn của Am-bà-lê liền xuống xe đi bộ đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi lại một bên. Đức Như Lai ở tại tòa phóng hào quang bao trùmcả đại chúng như ánh trăng thu, như bầu trời trong sáng với ánh mặt trời độc chiếu giữa thanh không. Khi ấy giữa đại chúng có vị Phạm chí (2) lên Tinh Ký đứng lên tán thán Phật bằng bài kệ rằng:
Vua Ươn- già và Ma Kiệt,
Vì sung sướng được điều thiện lợi,
Nên mình mang áo giáp bảo châu.
Thế Tôn xuất hiện ở xứ đó,
Oai đức vang động cõi ba ngàn (3)
Danh ngài tỏ rạng như núi tuyết,
Lại như hoa sen vừa mới nở,
Đầy mùi thơm vi diệu ngạt ngào.
Nay được trông thấy ánh sáng Phật,
Như mặt trời vừa xuất hiện,
 

(1)Ấm cái là ngũ ấm và ngũ cái, che lấp tâm trí không cho thất đạo.
(2)Phạm chí là kẻ lập chí tu phạm hạnh để được sanh cõi trời Phạm thiên.
(3)Ba ngàn tức là thế giới ba ngàn. Một thái dương hệ là một tiểu thế giới; 1.000 tiểu thế giới là Tiểu thiên thế giới: 1.000 tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới; 1.000 trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới hay tam thiên đại thiên thế giới. Đại thiên thế giới là phạm vi hóa độ một đức Phật.

* Trang 72 *
device

Như mặt trăng tròn giữa hư không.
Không một chút mây mù che ám,
Đức Thế Tôn hiện nay cũng vậy,
Hào quang chiếu khắp cả thế gian,
Tôi gặp được trí tuệ Như Lai,
Như ở chỗ tối được gặp đèn,
Ngài ban mắt sáng cho chúng sinh,
Và giải quyết mọi điều nghi hoặc.
          Năm trăm thanh niên nghe xong bài kệ ấy, bảo Tinh Ký lặp lại. Tinh Ký đối trước Phật lặp lại 3 lần, tiếp đó năm trăm thanh niên mỗi người tự cởi áo quí của mình thí cho Tịnh ký. Tịnh Ký lại đem các áo quí ấy dâng lên Như Lai. Vì thương bọn kia , Phật nạp thọ và bảo các thanh niên rằng: “Ở đời có 5 thứ báu khó gặp được: một là đức Như Lai xuất hiện thế gian, hai là hạng người diễn nói được chánh pháp của Như Lai, ba là hạng người tin hiểu được chánh pháp của Như Lai, bốn là hạng người thật hành thành tựu được chánh pháp của Như Lai, năm là hạng người có tài xoay xở vào nguy ra khốn để cứu nguy ách.
          Năm trăm Lệ-xa được nghe Phật dạy những điều lợi ích vui mừng xong, liền bạch Phật rằng: “ Mong đức Thế Tôn và các đệ tử,sáng mai cho chúng con thỉnh về cúng dường”. Phật dạy: “Các ngươi thỉnh Ta , thế là các ngươi đã cúng dường Ta rồi đó. Nàng Am-bà-bà-lê đã thỉnh Ta trước rồi”.

* Trang 73 *
device

Năm trăm Lệ-xa khoa tay hối tiếc, rằng muốn cúng dường đức Như Lai song đã bị nàng con gái ấy giành trước. Họ liền đứng dậy đảnh lễ Phật, đi quanh phật 3 vòng rồi lui về.
          Suốt đêm đó nàng Am-bà-bà-lê đã sửa soạn đồ cúng dường tại nhà. Mai lại đức Thế Tôn cùng 1.250 Tỷ-kheo nghiêm chỉnh y bát đến chỗ thỉnh cúng. Sau khi an tọa, nàng Am-bà-bà-lê đích thân dâng cơm cúng Phật và chúng Tăng. Khi Phật thọ trai, rửa bát, sửa lại bàn ghế xong, nàng Am-bà-bà-lê đem nước đựng trong cái bình vàng đến dâng Phật rửa, rồi nàng đến trước Phật bạch rằng: “Các viên lâm lầu quán trong thành Tỳ-xá-ly này, chỉ viên quán của con đây tốt hơn cả. Nay con muốn dâng cúng lên Như Lai, cầu xin Ngài thương xót nạp thọ”. Phật bảo: “ ngươi đem khu vườn này dâng cho Phật là bậc đứng đầu và Chiêu đề tăng(1) thì thật là quí hóa, vì nhờ đây mà Như Lai có đủ 6 vật cần thiết là vườn rừng, phòng xá, y bát(2), nên dẫu các Ma vương, Đế thích, Phạm thiên hay trời có đại thần lực cũng không ai xứng đáng lãnh sự cúng dường này”. Nàng Am-bà-bà-lê vâng lời, dâng khu vườn ấy cho Phật và Chiêu đề tăng, Phật nhận lãnh và nói kệ rằng:
 
 
 
(1)Chiêu đề tăng là thập phương tăng, tăng chúng ở 10 mười phương; làm nhà cho tăng chúng bất cứ ở đâu đến, gọi là cúng cho Chiêu đề tăng.
(2)Tứ xự là phòng xá, y bát, lương thực, thuốc thang.

 

* Trang 74 *
device

Dựng tháp, lập tinh xá,
Thí vườn trái thanh lương,
Làm cầu đò đưa người,
Đặt cỏ nước nơi vắng,
Và bố thí nhà cửa,
Phước ấy tăng ngày đêm.
Còn giữ giới thanh tịnh,
Người ấy sanh cõi lành.
          Nàng Am-bà-bà-lê lại đặt một chỗ ngồi hầu trước Phật, Phật lần nữa vì nàng thuyết pháp, dạy những điều lợi ích vui mừng về bố thí, về trì giới, về sanh thiên, và dạy tính ái dục là đại hoại, nhơ bẩn bất tịnh, hoặc lậu là điều chướng ngại nặng nề, đường giải thoát là hơn cả.
          Đến khi Phật biết tâm ý nàng đã thuần thục hòa vui, các điều ấm cái đã bớt nhẹ dễ bề khai hóa, nên theo thông lệ của chư Phật, Ngài tiếp dạy về Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Liền đó nàng Am-bà-bà-lê phát tín tâm thanh tịnh, ví  như tấm vải trắng dễ nhuộm sắc màu. Ngay tại chỗ, tâm nàng xa lìa hết trần cấu, phát sinh pháp nhãn mà thấy pháp, chứng pháp, quyết định ở trong chánh đạo, thành tựu năng lực vô úy, nàng bạch Phật rằng: “nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói đủ 3 lần như thế. Mong đức Như Lai cho con được làm kẻ Ưu-bà-di ở trong chánh pháp của Ngài, từ nay về sau con thề trọn đời

* Trang 75 *
device

không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu”.
          Sau khi thọ ngũ giới xong, nàng bỏ hết nết cũ, dứt trừ cấu uế. Nàng đứng dậy lễ Phật và lui ra.
          Phật lại bảo A Nan! Các ông hãy nghiêm chỉnh cùng Ta đi đến Trúc Lâm. Phật và đệ tử do con đường Bạt-kỳ đi đến Trúc Lâm. Tại đó có người Bà-la-môn tên Tỳ-sa-đà-gia, nghe Phật cùng chúng tăng đến ở Trúc Lâm mới tự nghĩ rằng: “ Đức Sa-môn Cù Đàm mà danh đức đã lan truyền khắp 4 phương, 10 hiệu đầy đủ, Ngài thường ở giữa hàng Chư thiên, Đế thích, Phạm thiên, Ma hoặc Thiên ma, Sa-môn và Bà-la-môn, tự đem mình ra làm chứng để nói pháp cho họ nghe. Lời Ngài dạy dù cao, dù vừa, dù thấp thảy đều chân chính, nghĩa vị thâm áo, phạm hạnh đầy đủ, Bậc chân nhân như thế, ta nên đến chiêm ngưỡng”.
          Suy nghĩ xong người Bà-la-môn đi đến Trúc Lâm, lại gần Phật thưa hỏi xong, ngồi một bên. Đức Thế Tôn lại lần nữa thuyết pháp, dạy cho ông những điều lợi ích vui mừng. Nghe xong ông vui mừng, liền cầu thỉnh Phật và đại chúng sáng mai đến nhà thọ trai. Phật làm thinh nhận lời. Người Bà-la-môn đứng dậy đi quanh Phật 3 vòng rồi lui về. Đêm đó người Bà-la-môn sửa xong thực phẩm. Ngày mai tới thỉnh Phật, Phật mang y bát cùng đại chúng bao vây, đi tới nhà Bà-la-môn. An tọa xong, người Bà-la-môn đem
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 76 *
device

các thịnh soạn dâng Phật và Chúng tăng. Khi Phật đã thọ trai, và rửa bát, rửa tay yên rồi, người Bà-la-môn đặt một chỗ ngồi hầu trước Phật. Phật dạy cho ông bài kệ:
Nếu đem các thực phẩm
Ngọa cụ và y phục
Bố thí người trì giới
Thì được phúc quả lớn.
Nó là bạn chân thật
Trước sau thường theo mình,
Đi đâu nó cùng đi,
Như bóng tùy theo hình
Vậy nên gieo giống lành,
Là tư tưởng đời sau.
Lấy phước làm nền tảng,
Chúng sinh được an lạc,
Có phước được trời hộ,
Không bị điều nguy khốn,
Sanh ra không gặp nạn,
Chết được lên cõi trời.
          Nói pháp xong, Phật rời tòa ra đi.
          Lúc ấy, tại xứ này gặp phải lúc mất mùa đói kém, khất thực khó khăn, nên Phật bảo A Nan họp các Tỷ-kheo trong nước lại giảng đường, rồi Ngài dạy rằng: “này các Tỷ-kheo! Hiện xứ này đói kém, khất thực khó khăn, vậy các ngươi hãy chia từng đoàn đi đến nơi quen biết, hoặc thành Tỳ-xa-ly,

* Trang 77 *
device

hoặc nước Việt-kỳ, rồi ở đó an cư thì có thể không bị thiếu thốn. Còn Ta cùng A Nan sẽ an cư tại đây. Các Tỷ-kheo vâng lời chia nhau đi, riêng Phật và A Nan lưu lại an cư kiết hạ. Giữa kỳ Hạ đó Phật phát bịnh, đau khắp toàn thân, Phật tự nghĩ: “nay Ta phát bịnh, toàn thân đau nhức mà các đệ tử thì đều không có mặt. Nếu Ta nhập Niết-bàn lúc này ắt không nên. Vậy Ta hãy vận sức tinh cần, kéo dài mạng sống thêm nữa.”
          Đức Thế Tôn liền ra khỏi tịnh thất, đến ngồi chỗ mát mẻ. Ông A Nan trông thấy chạy lại bạch Phật: “nay con thấy tônnhan như có phần suy giảm? Đức Thế Tôn mà có bề nào chắc khiến tâm con sợ hãi, lo buồn hoang mang, không biết làm cách nào!”. Nhưng A Nan lại trông thấy Phật còn tươi tỉnh, khí tức chưa tuyệt, nên biết chắc Như Lai chưa diệt độ gấp, con mắt của thế gian chưa mất và chánh pháp chưa bị tổn hoại. Ông tiếp nghĩ “nhưng sao nay đức Như Lai không dạy bảo gì cho chúng đệ tử cả?” Phật bảo: “ Này A Nan! Chúng tăng còn mong cầu điều gì nơi Ta nữa chăng?  Nếu người nào tự xưng: Ta, người đó nên có lời dạy bảo đối với Chúng tăng , còn Như Lai không như vậy, há Như Lai phải có lời dạy bảo đối với Chúng tăng ư? Này A Nan! Vô luận giáo pháp thiển cận hay thâm áo Ta đều đã giảng dạy cả rồi. Đối với chân lý, Như Lai không bao giờ
 
 
 
 
 
 

* Trang 78 *
device

là một vị đạo sư nắm tay lại (1). Ta nay già rồi! Tuổi đã 80 rồi! Ví như chiếc xe cũ kỹ nhờ phương tiện sửa sang mà đi đến nơi chỗ, thân Ta cũng thế, nhờ sức phương tiện mà kéo dài ngày sống đến nay. Ta nhờ cố gắng tinh tấn mới nhịn được cơn đau này! Lúc nhập vào Định vô tưởng, Ta không còn nghĩ một điều gì nên thân Ta yên ổn chút đau đớn. Thế nên A Nan! Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp, chớ đừng thắp lên với một pháp nào khác, hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa nơi chánh pháp, chớ đừng nương tựa vào một nơi nào khác (2)”.
          Thế nào gọi là tự mình tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp, chớ đừng thắp lên với một pháp nào khác; hãy tự mình nương tựa nơi mình, nưa tựa nơi chánh pháp, chớ đừng nương tựa vào một nơi nào khác? Này A Nan! Ấy nghĩa là hàng Tỷ-kheo phải lo quán sát nội thân một cách chuyên cần không biếng nhác, nhớ mãi không quên, để diệt
 
 
 
(1) Câu này ý nói pháp của Phật dạy rõ như ban ngày, không có gì ẩn ý, không có gì che đậy, những gì Như Lai biết, Ngài đều dạy tất cả cho chúng sinh, không để lại, lưu lại, không như các giáo chủ khác còn nắm giữ lại một vài giáo điều bí mật không cho các đệ tử biết.
(2) Câu này theo chữ Pali: “ Atta-dipa Vitta Satana ananna-sarana. Dhamma-dipa Dhamma-sarana ananna-sarana” Và Hòa thượng Minh Châu đã dịch câu đầu như sau: “ Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình chiếu sáng cho mình để tiến lên con đường đạo”. Trong Palia có 2 nghĩa: Ngọn đèn và hòn đảo, nên cũng có thể dịch: “ Hãy tự mình làm hòn đảo an toàn cho mình”.

* Trang 79 *
device

trừ mối tham luyến thế gian, rồi tiếp quán sát về sự lãnh thọ, về tâm ý, về các pháp cũng như thế.
          Này A Nan! Sau khi Ta diệt độ, người nào tu hành đúng như pháp ấy thời là đệ tử chân chính của Ta, là người học đạo giỏi nhất.
          Phật lại bảo A Nan cùng đi đến ngôi tháp Gía-bà-la ( Capala cetiya) rồi tới dưới một gốc cây, bảo A Nan trải tọa cụ và dạy: “ Ta bị đau lưng, muốn nghỉ tại đây”. A Nan trải tọa cụ cho Phật nghỉ xong, lại trải thêm 1 tọa cụ nhỏ ngồi hầu trước Phật.
          Phật bảo: Này A Nan! Người nào hằng thường tu tập 4 món thần túc(1), chuyên niệm không quên , thì có thể tùy ý muốn mà sống đến một kiếp hoặc trên một kiếp. A Nan! Như Lai đã nhiều lần tu 4 món thần túc, chuyên niệm không quên, nên Như Lai cũng có thể tùy ý muốn ngừng lại một kiếp hoặc trên một kiếp, để diệt trừ tối tăm cho đời, gây nhiều lợi ích, đem lại an ổn cho Chư thiên và nhân loại”. Tôn giả A Nan làm thinh không trả lời. Phật nói đến 3 lần như thế màA Nan vẫn làm thinh. A Nan lúc ấy bị Ma ám ảnh, mê man không hiểu,nên Phật 3 lần hiện tướng mà A Nan đều không biết để thưa thỉnh. Phật bảo: “ A Nan! Nên biết nay đã phải thời”. A Nan vâng ý chỉ Phật,
 
 
 
 
 
(1)Tứ thần túc là Dục, Ý, Niệm, Định; tu 4 thứ định này sẽ có thần thông tự tại.
 
 

* Trang 80 *
device

đứng dậy đảnh lễ Phật rồi lui ra, tới ngồi yên lặng suy nghĩ tại một gốc cây. Khoảnh khắc Ma Ba tuần (Marapapima = Ma vương) (1) đến bạch Phật: “Sao Ngài chưa sớm vào Niết-bàn? Nay đúng phải lúc rồi, xin Ngài mau diệt độ”.
          Phật bảo: “Ba tuần! Ngươi đừng nói, đừng nói! Ta tự biết thì giờ. Như Lai bây giờ chưa vào Niết-bàn vội, Như Lai cần đợi các Tỷ-kheo đệ tử tập họp đã. Có những đệ tử khéo điều phục thân tâm, dõng mãnh không khiếp sợ, họ thường sống trong an ổn, sớm được lợi mình, còn làm thầy dắt dạy mọi người, hiện đang đi truyền bá chánh pháp, giải bày giáo nghĩa, nếu gặp các dị luận họ đủ sức đem chánh pháp ra hàng phục, thì những đệ tử ấy nay chưa nhóm về.
          Có những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cũng chưa nhóm về. Vả nay Ta còn muốn rộng truyền phạm hạnh, truyền bố giáo lý giác ngộ cho hàng chư thiên và nhân loại đều biết, và được sự thần thông biến hóa”. Ma Ba tuần lại bạch Phật:
 
 
 
(1) Ma Ba tuần là một thiên ma có thế lực, vì sợ Phật giáo hóa chúng sinh theo đường giác ngộ trái với chúng, nên đã có lần chúng đến làm hại Phật, lúc Ngài sắp sửa Thành đạo tại gốc Bồ-đề.
Ma vương thỉnh Phật vào Niết-bàn chỉ là một duyên phụ, giả sử không có, thì đến khi thấy cơ duyên hóa độ đã mãn Phật cũng vào Niết-bàn. Việc nào đến tất phải đến, như Phật từng dạy hễ có sinh tất có diệt, dù Phật vẫn không ra ngoài công lệ đó. Nhưng điều khác lạ nơi Phật là ngài không hề bận tâm, bối rối mà lại tự tại an nhiên không thấy gì sanh diệt trước sự sinh diệt đó.

* Trang 81 *
device

“xưa Phật ở tại bên sông Ni-liên-thuyền (Niratijara) xứ Uất-tỳ-la (Uruvela) và lúc ở dưới cây A-du-ba Ni-câu-luật (Ajapala-Nigrodha) và lúc Ngài mới thành bậc chánh giác, tôi có đến khuyên Ngài nên vào Niết-bàn, đúng phải lúc rồi, Ngài nên mau diệt độ, lúc đó đức Như Lai trả lời: “Thôi thôi Ba tuần, Ta tự biết thời giờ, Như Lai chưa vào Niết-bàn vội mà cần đợi các đệ tử nhóm… cho đến khiến cho hàng chư thiên và nhân loại biết giáo lý giác ngộ, và được sự thần thông biến hóa mới vào Niết-bàn”, bạch Ngài, nay các đệ tử đã nhóm, hàng chư thiên và nhân loại đã được thần thông biến hóa rồi, sao Ngài không diệt độ?”.
          Phật dạy: “ Thôi thôi Ba tuần! Tự Ta biết thời giờ còn không bao lâu nữa. Sau 3 tháng nữa Ta sẽ ở tại quốc độ Ta sanh, giữa cây song thụ trong rừng Sa-la thuộc xứ Câu-thi-la (Kosinnara) mà vào diệt độ”. Ma Ba tuần nghĩ rằng Phật không nói dối, nên vui mừng, biến mất.
          Giây lát sau, Phật ở tại ngôi tháp Gía-ba-la nhập vào Định ý tam muội mà xả bỏ tuổi thọ (1). Ngay lúc đó cõi đất rung động mạnh, nhân dân cả nước thảy đều kinh sợ, dững dòng Phật phóng đại hào quang chiếu soi khắp nơi, cho đến chúng sinh ở
 
 
 
 
(1)Xả tuổi thọ là tự ý định lấy một thời gian sau 3 tháng là nhập diệt, chớ không vận sức tinh cần kéo dài tuổi thọ nào.
 
 
 
 

* Trang 82 *
device

cõi u minh cũng mong nhờ soi sáng mà trông thấy lẫn nhau. Phật tiếp dạy bài kệ:
Trong 2 hành hữu vi, vô vi,
Ta nay xả bỏ hữu vi,
Chuyên tâm vào chánh định.
Tự tại xả thân như chim ra khỏi trứng.
          Tôn giả A Nan kinh hãi đến nỗi lông trên mình dựng đứng, gấp chạy đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi đứng qua một bên mà bạch Phật rằng: “ Thưa đức Thế Tôn, lạ thay, cõi đất rung động thế này là vì nhân duyên gì?” – Phật dạy: “ Này A Nan! Phàm cõi đất rung động là do 8 nhân duyên: Vì cõi đất nương trên nước, nước nương trên gió, gió nương trên hư không mà tồn tại, nếu trong hư không có gió lớn nổi dậy thì nước lớn bị lay động (1), đó là duyên cớ thứ nhất; Khi có vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni đắc đạo, hoặc có vị đại thiên thần tu quán về tánh nước nhiều, quán về tánh nước ít, họ muốn thử sức thần thông của mình làm cho quả đất rung động, đó là duyên có thứ hai; Khi có vị Bồ-tát từ cung trời Đâu suất bình tỉnh sáng suốt giáng thần vào thai mẹ, thời làm cho quả đất rung động, đó là duyên có thứ ba; Khi có vị Bồ-tát bình tỉnh sáng suốt từ thai mẹ theo hông tay mặt xuất
 
 
 
 
 
(1)Đất, nước, gió, không, nói theo thuật ngữ kim luân, thủy luân, phong luân, không luân. Như vậy quả đất lững lờ trên không.

* Trang 83 *
device

sinh, thời làm cho quả đất rung động, đó là duyên cớ thứ tư; Khi Bồ-tát vừa thành ngôi chánh giác thời làm cho quả đất rung động, đó là duyên cớ thứ năm; Khi Phật chuyển pháp luân đầu tiên mà các Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, trời hay người khác không thể chuyển được, thời làm cho quả đất rung động, đó là duyên cớ thứ bảy; Khi đức Như Lai ở trong cõi Vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn (1) thời làm cho quả đất rung động, đó là duyên cớ thứ tám, Phật dạy bài kệ rằng:
Là đấng phúc trí vô thượng,
Là Sa-môn soi sáng đời,
A Nan thưa hỏi Phật,
 

(1) Phật ư vô dư Niết-bàn nhi bát Niết-bàn: Khi chứng đến đạo quả Bồ-đề là khi Phật đã hoàn toàn ở trong cảnh vô dư Niết-bàn rồi, chớ không phải đợi đến ngày cuối cùng tại rừng Sa la mới là nhập diệt Niết-bàn. Nhưng vì giáo hóa chúng sinh, Phật đã có hiện thân tướng, thân tướng ấy có ánh phải có diệt, sanh thì gọi là Phật giáng sinh, diệt thì gọi là Phật nhập Niết-bàn. Đó là gọi theo tâm tướng của chúng sinh gọi theo thân tướng hữu vi của Phật thị hiện. Do đó nói ứng thân Phật có sanh có diệt mà Pháp thân thì luôn luôn thường trụ. Theo Nam tông thì giải thích sự diệt độ (ở người thường tức gọi là chết) của Phật như vầy: Phật có 3 lần diệt: Lần thứ nhất xảy ra khi Phật thành ngôi chánh giác bên cội Bồ-đề, gọi là “ Tập diệt” (Klesa Parinrvana); lần này tất cả ác tập gây nên sanh tử luân hồi nơi Bồ-tát đều tiêu diệt hết. Lần thứ hai xảy ra giữa rừng Sa la song thọ, gọi là  “ Uẩn diệt” ( Skanda Parinirvana); lần này sắc thân Ngũ uẩn của Phật tan rã. Lần thứ ba xảy ra năm ngang năm sau khi Phật nhập diệt tại rừng Sa la gọi là “Xá lợi diệt” (Datu Parinirvana); lần này tất cả Xá lợi linh thiêng của Phật rải rác khắp nơi sẽ tập trung tại cây Jayamaha Bo rồi tiêu hết.

* Trang 84 *
device

Nhân duyên gì đất động?
Như lai liền giải thích
Tiếng như chim Ca lăng,
Ta bảo các ông nghe.
Sở do khiến đất động:
Đất nhờ nước mà vững,
Nước nhờ gió mà yên,
Nếu gió nỗi giữa không,
Thời làm quả đất động;
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
Muốn thử sức thần thông,
Do đó mà quả đất,
Núi, biển, cây, cỏ động;
Thích, Phạm các chư thiên,
Muốn làm quả đất động;
Và núi biển quỉ thần,
Do đó mà đất động;
Đấng Bồ-tát Phúc Trí,
Đầy đủ tướng bách phước,
Lúc mới vào thai mẹ,
Thời quả đất rung động;
Mười tháng ở thai mẹ,
Như rồng ở ao tiên,
Vừa từ hông mẹ sanh,
Thời quả đất rung động;
Lúc Phật còn trẻ mạnh,
 

* Trang 85 *
device

Dứt hết duyên triền phước,
Tu chứng đạo Bồ-đề,
Thời quả đất rung động;
Thế tôn chuyển pháp luân,
Lần đầu tại vườn Lộc,
Đạo lực hàng phục ma,
Thời quả đất rung động;
Thiên ma thường đến thỉnh,
Khuyên Phật sớm Niết-bàn,
Phật liền xả tuổi thọ,
Thời quả đất rung động;
Đại đạo sư tôn quý,
Dứt hết nghiệp luân hồi,
Bất động mà thủ diệt,
Thời quả đất rung động.
Phật nói rõ các duyên,
Khiến đất động có tám,
Nhân này hoặc nhân khác,
Đều làm đất rung động.
 
 
 

* Trang 86 *
device

 
Kinh Trường A Hàm