LOGO VNBET
KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN
( Phương cách suy tầm lý nhân duyên và vô ngã)


          Tôi nghe như vầy: Một thời đức Phật trú tại xứ Kiếp-ma-sa (Kammasadam) thuộc nước Câu Lưu Sa (Kurusu) cùng với chúng đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
          Lúc đó, ông A Nan ở tại chỗ thanh vắng suy nghĩ: “ Lạ thay! Đức Thế Tôn dạy cái minh quang của pháp Thập nhị nhân duyên là sau xa khó hiểu, nhưng theo ý Ta quán xét thì như thấy ở trước mắt, có gì gọi là sâu xa”. A Nan liền rời khỏi tịnh thất đi đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi ngồi một bên và thưa lại điều đó.
          Phật dạy: “Đừng, đừng A Nan! Chớ nói như vậy. Thật cái minh quang của pháp Thập nhị nhân duyên rất sâu xa khó hiểu, khó thấy, khó biết, đến nỗi hàng Chư thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, những người chưa thấy nhân duyên” nếu muốn tự lường, quán sát, phân biệt nghĩa lý của nó điều bị hoang mê không thể thấy nổi.
          Này A Nan ! nay Ta nói với ông : “Lão tử có nhân duyên”. Nếu có người hỏi : “Cái gì làm duyên cho Lão tử ?” Nên đáp : “Sanh làm duyên cho Lão tử ?” Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Sanh”.  Nên

* Trang 217 *
device

đáp : “Hữu làm duyên cho Sanh”.  Nếu lại hỏi : “ Cái gì làm duyên cho Hữu ?” Nên đáp : “Thủ làm duyên cho Hữu “. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Thủ” Nên đáp : “ Ái làm duyên cho Thủ”. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Ái” . Nên đáp : “Thọ làm duyên cho Ái”. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Thọ”. Nên đáp : “Xúc làm duyên cho Thọ”. Nếu lại hỏi “Cái gì làm duyên cho Xúc”. Nên đáp : “Lục nhập làm duyên cho Xúc”. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Lục nhập” . Nên đáp : “Danh sắc làm duyên cho Lục nhập”. Nếu lại hỏi : “ Cái gì làm duyên cho Danh sắc”. Nên đáp : “Thức làm duyên cho Danh sắc”. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Thức”. Nên đáp : “ Hành làm duyên cho Thức”. Nếu lại hỏi : “Cái gì làm duyên cho Hành”.
          Này A Nan ! Bởi nhân duyên như thế : do vô minh làm duyên cho hành, do hành làm duyên có thức, do thức làm duyên có danh sắc, do danh sắc làm duyên có lục nhập, do lục nhập làm duyên có xúc, do xúc làm duyên có thọ, do thọ làm duyên có ái, do ái làm duyên có thủ, do thủ làm duyên có hữu, do hữu làm duyên có sanh, do danh làm duyên có lão tử ưu bi khổ não, tập trung thành một khối đại hoạn. Đó là nhân duyên của cái đại khổ ấm (thân ) vậy.
          Này A Nan ! Duyên sanh mà có lão tử là nghĩa thế nào ? Giả sử hết thảy chúng sinh không có sanh
 
 
 

* Trang 218 *
device

chừng có lão tử không ? – A Nan đáp : “ không”. Vậy nên A Nan ! Ta do lẽ đó, biết lão tử do sanh, duyên sanh có lão tử, nghĩa của Ta nói thế đó.
          Lại này A Nan ! Duyên hữu mà có sanh là nghĩa thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu (1) chừng có sanh không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết sanh do hữu, duyên hữu có sanh, nghĩa của Ta nói là đó.
          Lại này A Nan! Duyên thủ mà có hữu là nghĩa thế nào ? giả sử hết thảy chúng sinh không có dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã thủ (2) chừng có hữu không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta do lẽ đó, biết hữu do thủ, duyên thủ có hữu, nghĩa của Ta nói tại đó.
          Lại này A Nan! Duyên ái mà có thủ là nghĩa thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục ái (3) chừng đó có thủ không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết thủ do ái, duyên ái có thủ, nghĩa của Ta nói tại đó.   
          Lại này A Nan! Duyên lãnh thọ mà có ái là nghĩa thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có
 
 
 
 
 
(1)Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, gọi chung làm Tam hữu, tức nghiệp nhân nghiệp quả hiện hữu ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc; nếu không cái nghiệp hiện hữu ấy thì cũng không có sanh, lão,tử hiện ra.
(2)Dục, kiến, giới, ngã thủ là chấp thủ kiên cố sự tham dục, tà kiến, tà giới và bản ngã.
(3)Dục, Hữu, Vô hữu ái là tham ái sự hiện hữu ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc.
 
 
 

* Trang 219 *
device

thọ vui, thọ khổ, thọ không vui không khổ, chừng có ái không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết ái do thọ, duyên thọ có ái, nghĩa của Ta nói tại đó. A Nan nên biết! Nhân tham ái mà có tìm cầu, nhân tìm cầu mà đắc lợi, nhân đắc lợi mà thọ dụng, nhân thọ dụng mà tham muốn, nhân tham muốn mà đắm trước, nhân đắm trước mà tật đố, nhân tật đố mà quản thủ, nhân quản thủ mà bảo hộ. Này A Nan !do bảo thủ nên mới có ra đao gậy, tranh tụng, gây vô số điều ác, nghĩa của Ta nói là ở đó. Này A Nan ! nghĩa đó thế nào ? giả sử hết thảy chúng sinh không bảo hộ thì chừng có đao gậy tranh tụng gây ra vô số ác không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta biết lẽ đó,biết đao gậy tranh tụng là do tâm bảo hộ, nhân tâm bảo hộ mà sinh ra. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan ! nhân quản thủ mà có bảo hộ là nghĩa thế nào ? giả sử chúng sinh không tâm quản thủ thì chừng có bảo hộ không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta do lẽ đó, biết có bảo hộ là do muốn quản thủ, nhân quản thủ của sự bảo hộ, nghĩa của Ta nói ở đó. Lại này A Nan! Nhân tật đố mà có quản thủ là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không tâm tật đố thì chừng có quản thủ không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết quản thủ do tật đố, nhân tật đố mà có quản thủ, nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan ! Nhân đắm trước mà có tật đố là nghĩa thế nào ? giả sử chúng sinh không đắm trước thì
 
 
 
 
 

* Trang 220 *
device

chừng có tật đố không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta do lẽ đó, biết tật đố do đắm trước, nhân đắm trước mà có tật đố, nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan ! Nhân ham muốn mà có đắm trước thì chừng có đắm trước không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta do lẽ đó, biết đắm trước do ham muốn, nhân ham muốn mà có đắm trước, nghĩa của Tanói là ở đó. Lại này A Nan! Nhân thọ dụng mà có ham muốn nghĩa là thế nào? Giả sử chúng sinh không thọ dụng thì chừng có ham muốn không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết ham muốn do thọ dụng, nhân thọ dụng mà có ham muốn, nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan! Nhân đắc lợi mà có thọ dụng là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không đắc lợi thì chừng có thọ dụng không? – Đáp “không”. Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết thọ dụng do đắc lợi, nhân đắc lợi mà có thọ dụng, nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan! Nhân tìm cầu mà có đắc lợi là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sanh không tìm cầu thì chừng có đắc lợi không? – Đáp “không”.Này A Nan! Ta do lẽ đó, biết đắc lợi do tìm cầu, nhân tìm cầu mà có đắc lợi, nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A Nan ! Nhân tham ái mà có tìm cầu là nghĩa thế nào ? giả sử chúng sinh không tham ái thì chừng có tìm cầu không ? – Đáp “không”. Này A Nan ! Ta do lẽ đó, biết tìm cầu do tham ái, nhân tham ái mà có tìm cầu, nghĩa của Ta nói là ở chỗ đó.
 
 
 
 
 
 

* Trang 221 *
device

Lại nữa A Nan! Nhân tham ái mà có tìm cầu cho đến có thủ hộ thế nào, thì nhân lãnh thọ mà có tìm cầu, cho đến có thủ hộ cũng như thế ấy.
          Lại này A Nan ! Nhân xúc mà có thọ là nghĩa thế nào? Giả sử không có nhãn căn, sắc trần và nhãn thức thì chừng có xúc không? – “không”. Giả sử không có nhĩ căn, thanh trần và nhĩ thức, không có tỹ căn, hương trần và tỷ thức, không có thiệt căn, vị trần và thiệt thức, không có thân căn, xúc trần và thân thức, không có ý căn, pháp trần và ý thức thì chừng có xúc không? – “không”. Này A Nan! Giả sử chúng sinh không có xúc thì chừng có thọ không? – “không”. Ta do lẽ đó, biết thọ do xúc, duyên xúc mà có thọ, nghĩa của Ta nói là ở đó.
          Này A Nan! Duyên danh sắc mà có xúc là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không có danh sắc thì chừng có tâm xúc không? – “không”. Giả sử chúng sinh không có hình sắc, tướng mạo thì chừng có thân xúc không? – “không”. Nếu không danh sắc thì chừng có xúc không? – “không”. Ta do lẽ đó, biết xúc do danh sắc, duyên danh sắc mà có xúc, nghĩa của Ta nói là ở đó.
          Này A Nan! Duyên thức mà có danh sắc là nghĩa thế nào ? Nếu thức không nhập thai mẹ thì chừng có danh sắc không ? – “không”. Nếu thức nhập thai mẹ rồi không sinh ra, thì chừng có danh sắc không ? – “không”. Nếu thức ra khỏi thai mẹ mà
 
 

* Trang 222 *
device

đứa hài nhi hư hỏng thì danh sắc có được tăng trưởng không ? – “không”. Này A Nan ! Nếu không có thức thì chừng có danh sắc không ? – “không”. Ta do lẽ đó, biết danh sắc do thức, duyên thức mà có danh sắc, nghĩa của Ta nói là ở đó.
          Lại nữa A Nan ! Duyên danh sắc mà có thức là nghĩa thế nào ? Nếu thức không trụ nơi danh sắc thời thức không chỗ ở, như vậy chừng có sanh, lão, bịnh, tử, ưu bi khổ não không ? –“ không”. Này A Nan. Nếu không danh sắc thì chừng có sắc không? – “ không”. Ta do lẽ đó, biết thức do danh sắc duyên danh sắc mà có thức, nghĩa của Ta nói là ở đó. Vậy nên biết danh sắc làm duyên cho thức, mà thức cũng làm duyên cho danh sắc, rồi danh sắc làm duyên cho lục nhập, lục nhập làm duyên xúc, xúc làm duyên cho thọ, thọ làm duyên ái, ái làm duyên thủ, thủ làm duyên hữu, hữu làm duyên sanh, sanh làm duyên lão tử, ưu bi khổ não, tập thành một đại khổ ấm (thân).
          Này A Nan ! Ngang chừng ấy là đáng nói, ngang chừng ấy là thích ứng, ngang chừng ấy là hạn lượng, ngang chừng ấy là điều diễn nói, ngang chừng ấy là chỗ trí quán, ngang chừng ấy là chúng sinh (1). Này A Nan! Vị Tỷ-kheo nào đối với pháp đó đem tâm chánh quán đúng như thật, thì tâm được vô lậu giải
 
 
 
 
 
 
(1)Nghĩa là ngoài thập nhị nhân duyên ra không gì đáng nói, thích ưng, hạn lượng diễn thuyết, không phải chỗ trí quán và cũng không có chúng sinh, chúng sinh có là do Thập nhị nhân duyen có… Nên hễ phá hết Thập nhị nhân duyên đưa về tịnh trí thì chúng sinh đắc nhập Niết-bàn.
 
 

* Trang 223 *
device

thoát, còn gọi là huệ giải thoát. Vị Tỷ-kheo giải thoát ấy, Như Lai không có kiếp sau (chung) họ cũng biết, Như Lai có kiếp sau (bất chung) họ cũng biết, Như Lai vừa không vừa có kiếp sau (chung bất chung) họ cũng biết, Như Lai chẳng phải không chẳng phải có kiếp sau (phi chung phi bất chung) họ cũng biết. Tại vì sao? Này A Nan! Vì ngang chừng ấy là đáng nói, ngang chừng ấy là thích ứng, ngang chừng ấy là hạn lượng, ngang chừng ấy là điều diễn nói, ngang chừng ấy là chỗ trí quán, ngang chừng ấy là chúng sinh.
          Đối với vị Tỷ-kheo đã thấu hiểu trọn vẹn, đã được vô lậu giải thoát đã giải thoát mọi văn tự, câu chấp, hạn cuộc, đã giải thoát các vòng triền phược mà nói rằng vị Tỷ-kheo ấy không biết không thấy được điều đó, thời cái tri kiến như vậy thật là vô lý.
          Này A Nan! Phàm những người chấp ngã, họ chấp đến ngang đâu mà gọi là ngã kiến (chấp ngã). Đối với danh sắc và thọ, họ đều chấp lấy làm ngã: có người chấp thọ chẳng phải ngã, ngã chẳng phải thọ, nhưng thọ là ngã (1). Này A Nan! Nếu gặp người chấp “thọ là ngã”, nên nói với họ: Như Lai
 
 
 
 
 
 
(1)Ngoại đạo chấp ngã theo vọng tưởng của họ. Họ chia sự lãnh thọ ra 3 phần là sự lãnh thọ, pháp sinh ra sự lãnh thọ, kết quả của sự lãnh thọ để chấp như trên.

* Trang 224 *
device

dạy có 3 thứ lãnh thọ là thọ vui, thọ khổ, thọ không vui không khổ.Trong lúc chỉ có thọ vui hiện ra thì không có thọ khổ, thọ không vui không khổ, còn trong khi chỉ có thọ khổ hiện ra thì không có thọ vui, thọ không vui không khổ; trong lúc chỉ có thọ không khổ không vui hiện ra thì không có thọ vui, thọ khổ. Vì do có lạc xúc(1) làm duyên mới sinh ra thọ vui, nếu lạc xúc diệt mất, thì cái thọ vui cũng diệt mất, do có khổ xúc làm duyên mới sinh ra thọ khổ, nếu khổ xúc diệt mất thì cái thọ khổ cũng diệt mất, do có xúc chạm cảnh không vui không khổ làm duyên mới có sự lãnh thọ không vui không khổ, nếu cảnh ấy diệt mất thì cái thọ không vui không khổ cũng diệt mất. Ví như 3 khúc cây cọ lại với nhau thì lửa bật ra, 2 khúc cây rời nhau thì lửa không có. Này A Nan! Ba thứ lãnh thọ đó là pháp hữu vi vô thường, do nhân duyên sanh, là pháp phải tận, phải diệt, là pháp hủ hoại, nó chẳng phải là ngã mà có, ngã chẳng phải từ nó mà có. Đem chánh trí quán sát một cách đúng thật như thế thì biết người chấp “thọ là ngã” chỉ là chấp quấy. Vả chăng, nếu thọ vui là ngã, khi thọ vui diệt mới, sẽ có 2 cái ngã hay sao? Nếu thọ khổ là ngã, khi thọ khổ diệt mất thì sẽ có 2 cái ngã hay sao? Nếu thọ không vui không khổ là ngã, khi cái thọ không vui không khổ diệt mất thì sẽ có 2
 
 
 
 
(1)Lạc xúc là tiếp xúc với cảnh vừa ý vui thích, trái lại là khổ xúc.
 

* Trang 225 *
device

cái ngã hay sao? Do đó biết người chấp “ngã là thọ” chỉ là chấp quấy.
          Lại nếu gặp người chấp “thọ pháp là ngã”, nên lại hỏi: hết thảy không có lãnh thọ, tại sao ông nói có thọ pháp(1) chính ông là thọ pháp ư? – Họ sẽ đáp: “không”. – Vậy nên biết người chấp “ thọ pháp là ngã”, chỉ là chấp quấy. Vả lại, nếu gặp người chấp “thọ chẳng phải  ngã, ngã chẳng phải thọ, thọ pháp chẳng phải ngã, chỉ thọ là ngã”, nên hỏi họ: hết thảy không có lãnh thọ, tại sao ông nói có thọ? Chính ông là thọ chăng? Họ sẽ đáp: “không”. – Vậy nên biết người chấp “thọ là ngã” chỉ là chấp quấy.
          Này A Nan! Ngang chừng ấy là đáng nói, ngang chừng ấy là thích ứng, ngang chừng ấy là hạn lượng, ngang chừng ấy là điều diễn nói, ngang chừng ấy là chỗ trí quán, ngang chừng ấy là chỗ chúng sinh. Vị Tỷ-kheo nào đối với pháp đó, dùng chánh trí quán sát đúng như thật, thì được tâm vô lậu giải thoát, còn gọi là huệ giải thoát. Vị Tỷ-kheo được giải như thế thì hữu ngã họ cũng biết,  vô ngã họ cũng biết, hữu ngã vô ngã họ cũng biết, phi hữu ngã phi vô ngã họ cũng biết. Tại vì sao? Này A Nan! Vì ngang chừng ấy là đáng nói, ngang chừng ấy là thích ưng, ngang chừng ấy là hạn lượng, ngang chừng ấy là điều diễn nói, ngang chừng ấy là chỗ trí quán, ngang chừng ấy
 
 
 
 

(1)Thọ pháp là vọng chấp có cái pháp thọ nói sinh ra sự lãnh thọ.

* Trang 226 *
device

là chúng sinh. Đối với vị Tỷ-kheo đã thấu hiểu trọn vẹn, đã được vô lậu giải thoát, đã giải thoát mọi văn tự, câu chấp, hạn cuộc, đã thoát khỏi các vòng triền phược mà nói rằng vị Tỷ-kheo ấy không thấy không biết được điều đó, thời cái tri kiến như vậy thật là vô lý (1).
          Này A Nan ! Những người chấp ngã, lấy mình làm giới hạn quyết định, có người chấp một ít sắc chất trong thân thể là ngã: có người chấp số nhiều sắc chất trong thân thể là ngã; có người chấp một ít phần vô sắc chất trong thân thể là ngã; có người chấp đa phần vô sắc chất trong thân thể là ngã. Này A Nan! Ngươi chấp “một ít sắc chất làm ngã” họ chỉ cố định lấy một ít sắc chất ấy là ngã, cho thế là phải, ngoài ra là quấy; người chấp “đa phần sắc chất làm ngã” thì chỉ cố định vào đa phần ấy là ngã, cho thế là phải, ngoài ra là quấy; người chấp “thiểu phần vô sắc chất làm ngã” thì chỉ cố định vào thiểu phần ấy là ngã, cho thế là phải, ngoài ra là quấy; người chấp “đa phần vô sắc chất làm ngã” thì chỉ cố định vào đa phần vô sắc chất ấy là ngã, cho thế là phải, ngoài ra là quấy.
          Này A Nan! Có 7 chỗ thức tâm ở và 2 chỗ nhập định mà các Sa-môn, Bà-la-môn đều cho là chỗ an ổn, là chỗ cứu hộ, là nhà cửa, là ngọn đèn, là ánh
 
 
 

(1)Từ đây trở lên là chấp thọ làm ngã, còn đoạn dưới này thì chấp sắc làm ngã.
 
 
 

* Trang 227 *
device

sáng, là nơi qui túc, là không hư vọng, là không phiền não. Những gì là 7 chỗ :
         1. Có thế giới mà chúng sinh trong đó gồm có bao nhiêu tư tưởng, như cõi trời và cõi người. Đó là chỗ thức ở thứ nhất. Nếu vị Tỷ-kheo nào biết chỗ thức ở ấy, biết sự sanh khởi và tiêu diệt của nó, biết sự lôi cuốn và nguy hiểm của nó một cách như thật thì sẽ bảo rằng nó chẳng phải ngã, ngã chẳng phải nó.
         2. Có thế giới chúng sinh chỉ cùng một loại thân giống nhau mà lại có bao nhiêu thân mà chỉ cùng một tư tưởng như cõi trời Phạm thiên.
3. Có thế giới chúng sinh chỉ cùng một loại thân giống nhau mà lại có bao nhiêu tư tưởng khác nhau, như cõi trời Quang Âm.
4. Có thế giới chúng sinh chỉ có cùng một loại thân và cùng một loại tư tưởng, như cõi trời Biến Tịnh.
  1. Có chúng sinh ở Không xứ.
  2. Có chúng sinh ở Thức xứ.
  3. Có chúng sinh ở Bất dụng xứ.
Nếu vị Tỷ-kheo nào biết rõ 7 chỗ thức ở (1) biết tập nhân sanh khởi và sự tiêu diệt của nó, biết sự lôi cuốn và nguy hiểm của nó, biết sự thoát ly của nó một cách như thật thì sẽ bảo rằng nó chẳng phải ngã, ngã chẳng phải nó.
 
 
 
 
 
 
(1)Chứ không phải là ngã ở.
 

* Trang 228 *
device

Thế nào là chỗ nhập định ? – Là nhập định Vô tưởng (bặt hết tư tưởng như cây đá) và nhập định phi tưởng phi phi tưởng. Hàng Sa-môn, Bà-la-môn thường cho 2 chỗ định đó là chỗ an ổn , là chỗ cứu hộ, là nhà cửa, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui túc, là không hư vọng, là không phiền não, nhưng nếu vị Tỷ-kheo nào biết 2 chỗ đó, biết tập nhân sanh khởi và sự tiêu diệt của nó, biết sự lôi cuốn và nguy hiểm của nó, biết sự thoát ly của nó một cách như thật thì sẽ bảo rằng nó chẳng phải ngã, ngã chẳng phải nó.
          Lại nữa A Nan ! có 8 thứ giải thoát:
  1. Quán sắc thân mình, giải thoát lòng tham luyến sắc thân.
  2. Quán sắc thân người, giải thoát lòng tham luyến sắc thân người.
  3. Giải thoát được cả 2 thứ trên.
  4. Vượt khỏi sắc tưởng, diệt tư tưởng về các hữu đối sắc, không niệm tưởng tạp loạn, được an trụ vào Không xứ.
  5. Vượt khơi Không xứ, trụ vào Thức xứ.
  6. Vượt khỏi Thức xứ, trụ vào Bất dụng xứ.
  7. Vượt khỏi Bất dụng xứ, trụ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
 
 

* Trang 229 *
device

  1. Được Diệt tận định (1).
Đối với 8 môn giải thoát trên, nếu tu theo chiều thuận từ 1 đến 8 và theo chiều nghịch từ 8 đến 1, xuất nhập từ môn này qua môn khác một cách tự tại thì sẽ được câu giải thoát (là giải thoát tất cả).
A Nan nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
 
 
 
 
 
 
*
   *                 *                                      
 
 
 
 
 
 
 
(1)Diệt tận định hay diệt thọ tưởng định là thứ định do dứt hết thọ ấm tưởng ấm mà được, hay là nói tu định ấy thì dứt thọ ấm tưởng ấm giải thoát ra ngoài vòng tam giới.

* Trang 230 *
device

 
Kinh Trường A Hàm