LOGO VNBET
KINH ĐẠI BẢN DUYÊN
( Lược thuật nhân duyên Giáng sanh, thành đạo,
Giáo hóa của 7 đức Phật trong thế giới Ta Bà)
*
          Tôi nghe như vầy: Một thời đức Phật ở động Hoa Lâm ( Kareri-kutika) vườn Kỳ-thọ ( Jetavana) thuộc nước Xá-vệ (Savathi), cùng với chúng đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
          Bấy giờ các vị Tỷ-kheo sau khi ngọ trai, nhóm lại ở Hoa Lâm giảng đường cùng nhau bàn luận rằng: “ chư Tỷ-kheo! Chỉ có đấng Vô thượng tôn rất kỳ diệu, oai lực lớn lao, thần thông viễn đạt, mới biết tõ quá khứ có vô số đức Phật nhập Niết-bàn hoặc dứt sạch phiền não kiết sử, hoặc tiêu diệt các hý luận và mới biết rõ kiếp số các đức Phật quá khứ dàu hay ngắn cho đến danh hiệu, chủng tộc, sự ăn uống, thọ mệnh dài ngắn, vui khổ làm sao, lại biết rõ các đức Phật quá khứ có giới như vậy, có pháp như vậy, có trí tuệ như vậy, có giải thoát như vậy, có định lực như vậy. Này chư hiền nghĩ sao? Đó là do đức Như Lai thông rõ các pháp tính mà biết được hay do chư thiên kể lại?”
Đức Thế Tôn đang ngự ở chỗ thanh vắng, lấy Thiên nhĩ thanh tịnh nghe rõ các Tỷ-kheo luận bàn việc như trên, nên từ hòa đứng dậy, đi đến Hoa Lâm
 
 
 

* Trang 14 *
device

đường, an tọa xong, Ngài hỏi: “ Này chư Tỷ-kheo! Các ngươi nhóm nơi đây bàn luận chuyện gì?” Các Tỷ-Kheo bèn đem hết mọi việc bạch với Phật. Phật bảo: “ Này các Tỷ-kheo! Hay lắm, Hay lắm! Các ngươi cùng nhau đem một lòng tin bình đẳng mà xuất gia học đạo, các ngươi nên làm 2 việc: một là Hiền Thánh giảng pháp, hai là Hiền Thánh mặc nhiên. Nay các ngươi bàn luận như vậy, thật phù hợp với lẽ đó. Như Lai thần thông oai lực lớn lao, biết khắp mọi việc từ vô số kiếp quá khứ như là do Như Lai thông rõ các pháp tính, đồng thời cũng do chư thiên nói lại”.
          Này các Tỷ-kheo! Các ngươi có muốn nghe Như Lai dùng trí túc mạng biết các tiền kiếp mà kể lại nhân duyên của chư Phật quá khứ không? Ta sẽ nói cho? Các Tỷ-kheo liền bạch Phật: “ Nay chính là lúc chúng con muốn nghe, mong Ngài giảng nói, chúng con xin phụng hành”.
          “Này các Tỷ-kheo! Quá khứ cách đây 91 kiếp của đức Phật hiệu là Tỳ Bà Thi, Như Lai chí chân xuất hiện ở thế gian. Lại trong quá khứ cách đây 31 kiếp có đức Phật hiệu là Thi Khí, Như Lai chí chân, xuất hiện ở thế gian. Cũng lại trong 31 kiếp đó có đức Phật hiệu là Tý Xá Bà, Như Lai chí chân, xuất hiện ở thế gian. Lại trong Hiền kiếp(1)này có 4 đức
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1) Kiếp hiện tại là Hiền kiếp, quá khứ tên Trang Nghiêm, vị lai tên là Tinh tú kiếp.

* Trang 15 *
device

Phật hiệu là Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm, Ca Diếp và Ta, vì thương chúng sinh nên xuất hiện và thành bậc Chánh giác tại thế gian.
          Các ngươi nên biết: thời đức Tỳ Bà Thi, nhân loại sống đến 8 vạn tuổi; thời đức Thi Khí, nhân loại sống đến 7 vạn tuổi; thời đức Phật Tỳ Bà Xá, nhân loại sống đến 6 vạn tuổi; thời đức Phật Câu Lưu Tôn, nhân loại sống đến 4 vạn tuổi; thời đức Phật Câu Na Hàm, nhân loại sống đến 3 vạn tuổi, và nay Ta ra đời, nhân loại sống đến 100 tuổi, số giảm thì nhiều, số tăng thì ít.
          Đức Phật Tỳ Bà Thi, (Vipassi) sinh về dòng Sát Đế Lỵ, họ Kiều Trần Nhã; đức Phật Thi Khí (Sikhi) Tỳ Xá Bà (Vessabhu) cũng vậy; đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha) sinh về dòng Bà-la-môn họ Ca Diếp,đức Phật Câu Na Hàm (Konagamana), đức Phật Ca Diếp (Kassapa) cũng vậy; còn nay Ta (Thích Ca) Như Lai chí chân thì sinh về dòng Sát Đế Lỵ, họ Cồ Đàm (Gotama).
          Đức phật Tỳ Bà Thi ngồi dưới cây Ba Bà La (Patali) chứng thành bậc Chánh giác; đức Phật Thi Khí ngồi dưới gốc cây Phân Đà Lỵ (Pundarika), thành bậc Chánh giác; đức Phật Tỳ Bà Xá ngồi dưới gốc cây Thi-lợi-sa (Sirisa) thành bậc Chánh giác; đức Phật Câu Na Tôn ngồi dưới cây Sala thành bậc Chánh giác; đức Phật Câu Na Hàm ngồi dưới cây Ưu Đàm Bác La (Udumbaza) thành bậc Chánh giác; đức Phật
 
 

* Trang 16 *
device

Ca Diếp ngồi dưới gốc cây Ni-câu-luật-đà (Nigrodha) thành bậc Chánh giác; còn nay Như Lai chí chân ngồi dưới cây Bác Đa La (Bồ-đề - Assattha) thành bậc Chánh giác.
Đức Phật Tỳ Bà Thi có 3 hội thuyết pháp. Hội đầu có 18 vạn 8 ngàn đệ tử dự, hội 2 có 10 vạn đệ tử dự, hội 3 có 8 vạn đệ tử. Đức Phật Thi Khí cũng có 3 hội thuyết pháp: hội đầu có 10 vạn đệ tử dự, hội 2 có 8 vạn đệ tử dự , hội 3 có 7 vạn đệ tử dự. Đức Phật Tỳ Xá Bà có 2 hội thuyết pháp: hội đầu có 7 vạn dệ tử dự, hội 2 có 6 vạn đệ tử dự. Đức Câu Lưu Tôn có 1 hội thuyết pháp với 4 vạn dệ tử dự. Đức Phật Câu Na Hàm có 1 hội thuyết pháp với 3 vạn đệ tử dự. Đức Phật Ca Diếp có 1 hội thuyết pháp với 2 vạn đệ tử dự, còn Ta nay có 1 hội thuyết pháp với đệ tử dự là 1.250 người.
          Đức Phật Tỳ Bà Thi có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử Kiển Trà (Khanda) và Đề Xá (Tissa) đức Phật Thi Khí có 2 đệ tử đứng dầu trong hàng đệ tử là A Tỳ Phù ( Abhibhũ) và tam Bà Bà (Sambhava); Đức Phật Tỳ Bà Xá có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử là Phò Du (Sona) và Uất Đa Ma (Uttara); đức Phật Câu Lưu Tôn có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử là Tát Ni (Vidhura) và Tỳ Lâu (Sanjiva); đức Phật Câu Na Hàm có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử là Ưu Bà Hiển Xí Đa (Bhiyyosa) và Uất Đa La (Uttara); Đức Phật Ca Diếp

* Trang 17 *
device

có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử là Đề Xá (Tissa) và Bà La Bà (Bharadvaja). Còn nay ta có 2 đệ tử đứng đầu trong hàng đệ tử Xá Lỵ Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallana).
          Đức Phật Tỳ Bà Thi có vị đệ tử chấp sự (hầu hạ) là Vô Ưu (Asoka); Phật Thi Khí có vị đệ tử chấp sự là Nhẫn Hạnh (Khemakara); Phật Tỳ Xá Bà có vị đẹ tử chấp sự là Tịch Diệt (Upasannaka); Phật Câu Lưu Tôn có vị đệ tử chấp sự là Thiện Giác Buddhija; Phật Câu Na Hàm có vị đệ tử chấp sự là An-luân (Sotthija); Phật Ca Diếp có vị đệ tử chấp sự là Thiện Hữu (Sabhamitta); còn Ta có vị đệ tử chấp sự là A Nan (Ananda).
          Đức Phật Tỳ Bà Thi có con tên Phương Ưng và Ta có con tên là La Hầu La (Rahula).
          Đức Phật Tỳ Bà Thi có cha tên Bàn Đầu Ma Đa (Bandhumã), dòng vua Sát Lỵ, mẹ tên Bàn Đầu Ma Để (Bandhumati). Quốc thành của vua trị tên là Bàn Đầu Ma Na (Bandhumati). Đức Phật Thi Khí có cha tên Minh Tướng (Aruna), dòng vua Sát Lỵ, mẹ tên Quang Diệu (Pabhavati). Đức Phật Tỳ Xá Bà có cha tên Thiện Đăng (Suppatita), dòng vua Sát Lỵ, mẹ tên Xưng Giới(Yasavati), quốc thành vua trị tên Vô Dụ (Anopama). Đức Phật Câu Lưu Tôn có cha tên Lễ Đức (Aggidatta), dòng Bà-la-môn mẹ tên Thiện Chi (Visakha), vua tên An Hòa và quốc thành
 

* Trang 18 *
device

cũng theo đó mà có tên là An Hòa (Khemavati). Đức Phật Câu Na Hàm có cha tên Đại Đức (Yannadatta), dòng Bà-la-môn, mẹ tên Thiện Thắng (Uttara), vua tên Thanh Tịnh và quốc thành này cũng theo đó mà có tên là Thanh Tịnh (Sobhavati). Đức Phật Ca Diếp có tên là Phạm Đức (Brahmadatta), dòng Ba-la-môn, mẹ tên Tài Chủ (Dhanavati), vua thời đó tên Ba La Tỳ, trị vì quốc thành tên Ba La Nại (Suddhodana) dòng vua Sát Lỵ, mẹ tên Đại Hóa (Maya) (1)thành của vua trị tên Ca-tỳ-la-vệ ( Kapilavatthu).
          Đó là nhân duyên, danh hiệu, chủng tộc và chỗ xuất sinh của chư Phật. Kẻ trí nào nghe đến nhân duyên đó mà không vui mừng sinh tâm ưa muốn!
          Này các Tỷ-kheo! Ta sẽ nói về thông lệ của chư Phật cho các ông rõ: Đức Bồ-tát Tỳ Bà Thi từ cõi trời Đâu Suất, giáng trần vào thai mẹ bên hông tay phải, tâm Ngài luôn nhập chánh niệm không rối loạn. Ngay lúc ấy cõi đất rung chuyển, Ngài phóng hào quang soi khắp thế gian cho đến mặt trời mặt trăng không soi tới cũng đều mong nhờ chiếu sáng. Chúng sinh ở chốn u minh nhờ đó được trông thấy lẫn nhau và tự biết mình hiện đang sinh ở chỗ nào. Ánh quang minh đó lại soi đến cung điện Ma-vương, Phạm-thiên, Đế-thích, Sa-môn, Bà-la-môn và các
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1)Ma-gia phu nhân, Đại Thanh-tịnh-diệu
 

* Trang 19 *
device

chúng sinh khác, cũng đều được mong chờ, khiến ánh sáng của chư thiên tự nhiên phải mờ ẩn.
          Bồ-tát Tỳ Bà Thi, lúc ở thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, thường có 4 vị thiên thần tay cầm qua mâu, hộ vệ cho mẹ Ngài, dẫu người hay không phải người cũng khó xâm nhiễm được, ấy là cổ lệ của chư Phật.
          Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi từ trời Đâu Suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến thân mẹ được an ổn, không bị não loạn, trí tuệ ngày càng thêm, và tự xem thai mình thấy rõ thân Bồ-tát đủ các căn (giác quan) tốt đẹp như chất vàng tía không chút tì tích, khác nào kẻ có mắt sáng, xem vào đồ lưu ly trong sạch, thấy suốt cả trong ngoài không chút ngăn ngại, đó là thông lệ của chư Phật.
          Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi từ trời Đâu Suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến tâm mẹ lúc nào cũng thanh tịnh, không có các dục tưởng, không bị lửa dục thiêu đốt, ấy là thông lệ của chư Phật.
Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi từ trời Đâu Suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến mẹ Ngài giữa trọn 5 giới, tu phạm hạnh thanh tịnh, đốc tín và nhân từ, thành tựu mọi điều lành, an lạc không sợ hãi và khi thân hoại mệnh chung, được sanh cõi trời Đao Lợi. Ấy là thông lệ của chư Phật.
 
 

* Trang 20 *
device

Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi , khi sanh từ hông tay mặt của mẹ mà ra, cõi đất rung động hào quang chiếu khắp nơi, ấy là cổ lệ của chư Phật.
          Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi, lúc sanh do hông tay mặt của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Khi ấy mẹ Bồ-tát tay vịn cành cây, không ngồi không nằm, có 4 thiên thần bưng nước hương đứng trước Phật mẫu thưa rằng: “Thưa Phật mẫu , nay Ngài sanh Thánh tử, chớ có ưu lo”. Đó là thông lệ của chư Phật.
Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi, lúc sanh do hông tay mặt của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn, thân Ngài thanh tịnh không bị nhơ nhớp, ví như có kẻ mắt sáng lấy ngọc minh châu sạch sẽ đặt trên lụa trắng, cả hai đều không nhớp, cả hai đều sạch. Bồ-tát ra khỏi thai cũng sạch sẽ như vậy. Đó là thông lệ của chư Phật.
Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi, khi sanh do hông tay mặt của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài vừa ra khỏi mẹ, không cần người đỡ, liền đi 7 bước, ngó khắp 4 phương, rồi đưa tay lên nói rằng : “Trên trời dưới trời, duy Ta là tôn quý, Ta muốn cứu độ chúng sinh trong vòng sinh già bệnh chết”. Ấy là thông lệ của chư Phật. Phật Thích Ca liền dạy kệ:

Giống như sư tử bước
Ngó khắp cả 4 phương
 
 

* Trang 21 *
device

Nhân sư tử (1)khi sanh
Đi bảy bước cũng thế
Lại như rồng lớn đi,
Khắp ngó cả 4 phương
Đấng nhân long khi sanh
Đi bảy bước cũng thế.
Khi đấng Lưỡng túc (2)sanh,
Đi thong thả 7 bước,
Ngó 4 phương rồi nói:
“ Sẽ độ hết tử sanh
Ngay lúc mới sanh ra,
Đã không ai sánh bằng,
Ta xét rõ sinh tử,
Đến thân này cuối cùng.”( 3)
Lại Bồ-tát Tỳ Bà Thi, khi sanh do hông bên mặt của mẹ ra, chuyện niệm không tán loạn, tức thì có 2 suối nước, một ấm, một mát tự nhiên ở dưới đất tuôn ra, đế cúng dường tắm rửa cho Bồ-tát. Đó là thông lệ của chư Phật.
          Lúc Thái tử mới sanh, phụ vương là Bàn Đầu, mời các tướng sư và đạo sĩ đến xem tướng cho Thái Tử, các tướng sư vâng lệnh cởi áo Thái tử ra xem,
 
 
 
 
 
(1)Nhân sư tử là chúa loài ngoài. Nhân long là chúa trong loài người.
(2)Lưỡng túc là phước túc và huệ túc, phước huệ đầy đủ là Phật.
(3)Thân cuối cùng là cái thân cuối chót trong vòng sanh tử mênh mông. Với cái nhìn lần chót này là thành Phật, thoát ngoài vòng luân hồi, không bị sanh tử nữa. Đây là Bồ-tát nói.

* Trang 22 *
device

thấy có đủ 32 tướng tốt, đoán rằng: “ Người có tướng này sẽ theo 2 con đường chắc chắn không sai: một là nếu ở nhà thì sẽ Chuyển luân thánh vương (1), trị vì 4 châu thiên hạ đủ 4 thứ quân binh, dùng Chánh pháp trị dân không thiên vị, thi ân bố đức khắp thiên hạ, tự nhiên có 7 thứ báu( 2)qui tụ, có ngàn người con dõng kiện hay dẹp trừ ngoại địch, không cần dùng đao binh mà thiên hạ tự thái bình. Hai là nếu xuất gia học đạo, thì sẽ thành bậc Chánh giác, đầy đủ 10 hiệu” (3).
          Phụ vương ân cần hỏi lại tướng sư ba lần, bảo xem lại Thái tử có đủ 32 tướng tốt là những tướng gì? Các tướng sư lại cởi áo Thái tử chỉ 32 tướng: 1. Bàn chân bằng phẳng đầy đặn, đi đứng vững vàng. 2. Dưới bàn chân có dấu chỉ như bánh xe có ngàn tăm, rõ ràng tươi thắm. 3. Có màng lưới mỏng giữa kẻ ngón tay, chân như chân ngỗng chúa. 4. Tay chân mềm mại như áo trời. 5. Ngón tay chân thon dài. 6. Gót chân đầy đặn trông không chán. 7. Bụng như bụng nai, trên dưới thẳng thắn. 8. Các khớp xương móc lấy nhau như xích chuyền. 9. Nam căn ẩn kín như nam căn ngựa (tướng mã âm tàng). 10. Đứng
 
 
 
 
 
 
 
  1. Chuyển luân Thánh vương là vị Thánh vương thường lấy Chánh pháp trị dân, đủ 7 thứ quý báu qui tùng.
  2.  Bảy báu: Xe báu,voi báu, ngựa báu, châu ngọc, ngọc nữ, Đại thần, chủ binh.
  3. Mười hiệu mà đức Phật nào cũng có đủ là Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.
 

* Trang 23 *
device

thẳng tay duỗi quá gối. 11. Mỗi lỗ chân lông chỉ có mỗi lông sắc lưu ly xanh biếc xoay về phía hữu. 12. Lông xoay phía hữu, sắc biến rất đẹp. 13. Thân sắc huỳnh kim. 14. Da thịt mịn màn không dính bụi nhơ. 15. Hai vai ngang bằng đầy đặn tròn đẹp. 16. Giữa ngực có chữ vận. 17. Thân cao gấp đôi ngwoif thường. 18. Bảy chỗ trong người đầy đặn, không sâu hoáy như người thường. 19. Thân cao rộng như cây Ni Câu Loại. 20. Hai má như sư tử. 21. Ngực vuông đầy như ngực sư tử. 22. Có 40 cái răng. 23. Răng ngang bằng chỉnh tề. 24. Răng khít nhau không hở. 25. Răng trắng trong. 26. Yết hầu thanh sạch, ăn thứ gì cũng không xứng thích. 27. Lưỡi dài rộng có thể liếm tới mép tai. 28. Tiếng nói trong suốt. 29. con mắt màu xanh biếc. 30. Mắt như mắt trâu chúa, mi trên dưới cùng nháy một lần. 31. Có lông trắng giữa hai chân mày, mịn thắm kéo dài ra một tầm, thả thì xoay về phía hữu, xoáy ốc như chơn châu. 32. Trên đỉnh có chỗ thịt nổi (nhục kế). Ấy là 32 tướng đại nhân. Phật liền dạy kệ:
              Thái tử chân mềm mại,
                   Đi cách đất, có dấu (1)
                    Bàn chân có dấu xoáy,
                    Màu sắc rất tươi sáng.
                    Thân cao rộng ngay thẳng,
 
 
 
 
 
 
  1. Đi cách đất: Phật đi thường cách hở mặt đất, nhưng trên mặt đất thường có dấu chân hiện ra.
 
 

* Trang 24 *
device

Như cây Ni Câu Loại.
               Như Lai chưa từng có,
               Mã âm tàng ẩn kín,
               Vàng báu trang nghiêm thân,
               Các tướng chói lẫn nhau.
               Tuy giống đời chảy mồ hôi
               Song bụi đất cũng không dính bẩn,
               Như sắc trời mịn  màn.
               Lọng trời tự nhiên che,
               Tiếng nói trong, thân vàng tía,
               Như sen mọc khỏi bùn.
               Vua lần hỏi tướng sư,
               Tướng sư kính tâu đáp:
               Ngợi khen tướng Bồ-tát,
               Sáng chói khắp toàn thân,
               Các gân khớp tay chân,
               Trong ngoài không lộ xấu,
               Ăn thức gì cũng hợp,
               Thân ngay ngắn không tà
               Xoáy dưới chân hiện rõ
               Tiếng nói như chim oanh,
               Hình hài đều viên mãn,
               Ấy do túc nghiệp thành.
               Cùi tay tròn, đầy đẹp,
               Mặt mày rất đoan nghiêm,
               Là sư tử giữa người,
               Có oai lực hơn hết.

* Trang 25 *
device

Hai má đầy và gọn,
                    Khi nằm hông như sư tử
               Bốn mươi cái răng thẳng bằng,
               Dày khít không kẽ hở.
               Tiếng phạm âm ít có,
               Xa gần tùy duyên nghe,
               Thân ngay ngắn không nghiên,
               Hai tay duỗi quá gối,
               Ngón tay đều, mềm mại,
               Đủ các tướng trang nghiêm,
               Mỗi chân lông có một lông
               Màn lưới giữa kẽ tay chân,
               Nhục kế, mắt xanh biếc,
               Mí mắt trên dưới cùng nháy,
               Hai vai ngang, tròn, đầy.
               Đủ ba hai tướng tốt,
               Gót chân cao không thấp,
               Bụng thon thon như nai,
               Là trời hiện giữa trời.
               Nếu xuất gia thành đạo,
               Như voi mạnh bức giây trói,
               Ngài độ thoát chúng sinh
               Khỏi sinh già đau chết,
               Ngài đem tâm đại bi
               Truyền dạy 4 chân đế
               Diễn bày các pháp nghĩa
               Được mọi người tôn quý.

* Trang 26 *
device

Lúc Phật Tỳ Bà Thi sinh ra, hàng chư thiên ở giữa hư không, tay cầm lọng trắng, quạt báu ngăn che không cho lạnh, nóng, gió, mưa, bụi bặm xuống đến Ngài.
          Tiếp đó, Phụ vương cấp 4 người vú lo nuôi nấng Thái tử: một lo cho ăn bú, một lo tắm rữa, một lo trang sức và một lo làm vui. Ai nấy đều vui vẻ làm hết phận sự.
          Lúc còn là đồng tử, trai gái cả nước xúm lại ẵm bồng xem như hoa quý.
Bồ-tát có cặp mắt không nháy động như mắt trời Đao lợi. Do cặp mắt không nháy mà có hiệu là Tỳ Bà Thi. Mắt Ngài lại trông suốt được 1 do tuần và có tiếng nói trong thanh hòa nhã, dịu dàng như tiếng chim Ca-lăng-tầng-già(1).
          Lúc tuổi vừa khôn lớn, Bồ-tát ở tại Đại chánh đường, lấy chánh đạo khai hóa, ân trùm khắp muôn dân, danh đức vang dội.
          Một hôm, Bồ-tát muốn đi dạo chơi, mới bảo quân hầu sửa soạn xa giá, quân hầu vâng lệnh. Thái tử cỡi xe báu nhắm ngự uyển trực chỉ. Lúc vừa đến giữa đường Ngài bỗng gặp một người già, đầu bạc răng rụng, lưng còm, mặt nhăn, rung rinh trên chiếc gậy, thở khò khè theo nhịp bước khó khăn. Thái tử
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  1. Ca-lăng-tầng-già là một loại chim ở Ấn Độ có tiếng kêu trong thanh từ khi còn trong trứng.
 

* Trang 27 *
device

liền xoay hỏi quân hầu: “Đó là người gì?” – “Đó là người già”, quân hầu đáp – Gìa là thế nào?- Gìa là người không còn sống bao lăm ngày nữa, họ đi lần về chỗ chết. – Ta đây cũng sẽ như thế chăng?- Phàm đã có sinh tất có già, đâu kể chi sang hèn. Nghe vậy Thái tử trở nên buồn bã không vui, liền bảo quân hầu đánh xe về. Ngài lặng lẽ suy nghĩ về nỗi già khổ mà chính Ngài cũng chưa tránh khỏi.
     Phụ vương hỏi quân hầu, Thái tử đi dạo có vui không? Không vui, quân hầu đáp.- Vì sao vậy? – Vì giữa đường Ngài gặp người già nên không vui. Phụ vương mới âm thầm nhớ tới lời tướng sư ngày trước, đoán Thái tử sẽ xuất gia, nay Thái tử không vui, hẳn đúng như thế chăng? Ta hãy dùng mọi cách giữ Thái tử lại thâm cung, đem ngũ dục làm nguôi lòng Thái tử, để Thái tử đừng xuất gia. Nghĩ xong vua liền hạ lệnh trang sức cung quán, chọn hàng thể nữ để giúp vui Thái tử.
          Lại một lúc khác Thái tử lại bảo quân hầu đánh xe đi dạo và trên đường đi lần này Ngài gặp một người bệnh, thân gầy, bụng lớn, mày mặt sạm đen, nằm lăn trên nhơ bẩn, không ai ngó ngàn tới. Bệnh đã chí nghiệt, miệng không thốt được một lời. Thấy vậy, Thái tử xoay lại hỏi quân hầu: “Đó là người gì?”- “ Đó là người bệnh, quân hầu đáp.- Bệnh là thế nào? – Bệnh là sự đau đớn bứt rứt, chết sống không biết khi nào.- Ta đây cũng sẽ như thế
 

* Trang 28 *
device

sao?- Phải, phàm có sanh thì có bệnh, không kể gì sang hèn. Nghe vậy Thái tử trở nên buồn bã không vui, liền bảo quân hầu đánh xe trở về. Ngài lặng lẽ suy nghĩ tới cái khổ già mà Ngài cũng không tránh khỏi.
     Phụ vương lại hỏi quân hầu Thái tử đi dạo có vui không?- Không vui, quân hầu đáp.- Vì sao thế?- Vì giữa đường Ngài gặp người bệnh, nên không vui. Phụ vương âm thầm suy nghĩ: “ Ngày trước tướng sư xem tướng Thái tử có đoán sẽ đi xuất gia, ngày nay Thái tử không vui, hẳn đúng thế chăng? Ta sẽ tìm đủ mọi cách tăng thêm mọi thứ dục lạc làm nguôi lòng Thái tử được khỏi xuất gia”. Vua liền hạ lệnh nghiêm sức cung quán, chọn thêm thể nữ để giúp vui.
    Lại một lúc khác, Thái tử bảo quân hầu đánh xe đi dạo, và giữa đường lần này Ngài gặp một người chết, phan treo, vải quấn, dòng họ thân quyến tiếc thương than khóc, chen chúc nhau đưa ra khỏi thành. Thấy vậy, Thái tử xoay hỏi: “Đó là người gì? – Đó là người chết, quân hầu đáp – “Chết là thế nào?” – chết tức là hết, hết gió đến lửa cứ tiếp tục làm cho xác thân bại hoại, kẻ còn kẻ mất đôi đường, gia đình ly biệt.- Ta đây cũng như thế chăng, chẳng kể ai sang hèn. Nghe vậy Thái tử lại còn buồn bã không vui, bảo đánh xe về. Ngài trầm ngâm suy nghĩ tới cái chết

* Trang 29 *
device

khổ mà Ngài cũng không tránh khỏi, Phật liền dạy bài kệ:
Vừa trông thấy người chết
Biết họ còn tái sinh
Thầm lặng tự suy nghĩ:
“ Ta cũng sẽ thế thôi”.
          Phụ vương lại hỏi quân hầu Thái tử đi dạo này lần có vui không?- không vui, quân hầu đáp- Tại sao thế?- Vì giữa đường Ngài gặp người chết, nên không vui. Phụ vương âm thầm suy nghĩ: “ Ngày tướng sư xem tướng Thái tử có đoán sẽ đi xuất gia, ngày nay Thái tử không vui, hẳn là đúng thế chăng? Ta hãy dùng cách tăng thêm các thứ kỹ nhạc để làm nguôi lòng Thái tử, được khỏi xuất gia”. Liền hạ lệnh trang sức cung cấm, chọn thêm thể nữ để giúp vui.
          Lại một lúc khác, Thái tử bảo quân hầu đánh xe đi dạo và lần này giữa đường Ngài một vị Sa-môn, mang y cầm bát, mắt ngó xuống đất, chân bước khoan thai. Thái tử liền hỏi quân hầu: “ Đó là người gì?” – Đó là vị Sa-môn, quân hầu đáp.- Sao gọi là Sa-môn? – “ Sa-môn là người xa lìa ân ái, xuất gia học đạo, chế ngự các căn, không nhiễm mê ngoại dục, lòng xót thương hết thảy, không làm tổn hại ai, gặp khó cũng không phiền, gặp vui cũng không mong, hay nhẫn như đất (1)nên gọi là Sa-môn”
 

* Trang 30 *
device

- Lành thay! Đó là đạo chân chính, tuyệt hẳn mọi trần lụy, vi diệu thanh hư chỉ có thế khoái thích thôi!” – Thái tử liền bảo quân hầu đưa xe đến gần và hỏi vị Sa môn rằng: “ Ngài cắt tóc, cạo râu mang y cầm bát như vậy, chí Ngài muốn cầu chuyện gì?”- Sa-môn đáp: “ Phàm người xuất gia là cốt điều phục tâm ý, xa lìa trần cấu, thương cứu quần sinh, không làm điều nhiễu hại, trong lòng rỗng rang tịch mịch, chỉ có bề giữ đạo mà thôi”. Thái tử khen: “ Hay lắm! Đạo này rất chân chính”, liền bảo quân hầu mang áo cổn bào và xa giá về tâu lại phụ vương biết rằng ngay tại đây, ta sẽ cắt bỏ râu tóc, mặc 3 pháp y, xuất gia tu đạo, vì ta muốn điều phục tâm ý, xa lìa trần cấu, giữ mình thanh tịnh để cầu chánh đạo. Quân hầu liền đem xa giá và y phục của Thái tử về tâu lại Phụ vương, còn Thái tử thì xuất gia một mình (1).
Phật dạy: “ Này các Tỷ-kheo! Thái tử nhân thấy người già bệnh mà thấu rõ cõi đời là khổ não, nhân thấy người chết mà lòng tham luyến thế gian tiêu tan, nhân thấy vị Sa-môn mà tâm được quách nhiên đại ngộ. Trong khi Thái tử xuống xe bước đi, cứ mỗi bước tiến tới là mỗi bước rời xa triền phược. Thế ấy là chân xuất gia, chân viễn ly dó”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1) Chỗ khác chép Thái tử xuất gia lúc nữa đêm sau một buổi dạ yến, nhưng ở đây ghi tắt.

* Trang 31 *
device

Nhân dân trong nước nghe Thái tử đã cạo bỏ râu tóc, mang y cầm bát, xuất gia hành đạo, họ bảo nhau rằng: “ Đạo ấy chắc là đạo chân chính, mới khiến Thái tử từ bỏ vinh vị quốc vương cùng mọi sự quý trọng để đi theo”, nên tiếp đó có tới 84.000 người trong nước xin Thái tử cho làm đệ tử xuất gia tu đạo.       
          Thái tử thâu nhận, cho cùng đi theo giáo hóa khắp nơi, từ thôn này sang thôn khác, từ nước nọ đến nước kia. Hễ đến chỗ nò cũng được người ta cung kính, cúng dường tứ sự (1). Bồ-tát nghĩ rằng: “ Ta cùng đại chúng thường đi qua các nước, chỗ nhân gian ồn ào sự này không thích hợp cho ta lắm. Lúc nào ta mới xa được chỗ ồn ào để ở chỗ nhàn tịnh mà suy tầm đạo lý?”. Ngài liền theo ý nguyện đi đến chỗ nhàn tịnh, chuyên tinh tu đạo. Ngài lại suy nghĩ: “ chúng sinh thật đáng thương, họ thường ở trong hôn ám, chịu lấy tấm thân nguy khốn, mong manh, nào sanh, nào già, nào bệnh, nào chết, đủ mọi thứ khổ não. Họ chết đây sanh kia, chết kia sanh đây, cứ duyên theo cái khổ ấm (2)đó mà trôi nổi không biết bao giờ cùng. Ta lúc nào mới có thể thấu triệt khổ ấm, diệt hết
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1)Tứ sự là vật thực, y phục, phòng xá, y dược.
(2)Khổ ấm tức là thân phận chúng sinh đủ mọi sự khổ phiền não dồn lại no, làm ngăn che không nhận rõ chân lý, hưởng sự an lạc giải thoát.

* Trang 32 *
device

sanh già chết?”(1). Ngài lại suy nghĩ rằng: “ Sanh tử từ  đâu, duyên dâu mà có ra? Liền dùng trí tuệ quán sát sở do, thấy rằng do “ sanh” mà có lão tử, sanh là do duyên của lão tử. Sanh lại do Hữu mà có, Hữu là duyên của sanh. Hữu do thủ mà có, Thủ là duyên của Hữu. Thủ do Ái mà có. Ái là duyên của Thủ. Ái do thị mà có, Thọ là duyên của Ái. Thọ do Xúc mà có, Xúc là duyên của Thọ. Xúc do Lục nhập mà có,  Lục nhập là duyên của Xúc. Lục nhập do Danh sắc mà có, Danh sắc là duyên của Lục nhập. Danh sắc do thức mà có , Thức là duyên của Danh sắc , Thức do Hành mà có, Hành là duyên của Thức. Hành do vô minh mà có, vô minh là duyên của Hành. Thế tức là duyên vô minh mà có Hành, duyên Hành có Thức, duyên Thức có Danh sắc, duyên Danh sắc có Lục nhập, duyên Lục nhập có Xúc, duyên Xúc có Thọ, duyên Thọ có Ái, duyên Ái có Thủ, duyên Thủ có Hữu, duyên Hữu có Sanh, duyên Sanh có lão bệnh tử ưu bi khổ não. Cái ấm thân đầy rẫy khổ não nay là duyên nơi Sanh mà có. Chính đó là khổ tập (nhơn sanh ra khổ), Khi Bồ-tát suy nghĩ tới cái
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(1)Đây là mối suy nghĩ quan trọng nhằm mục đích thương xót chúng sinh, cứu độ chúng sinh và giải thoát cho mình ngoài vòng sanh già bệnh chết. Động cơ chính khiến Bôt-tát xuất gia tầm đạo, suy tầm cho ra nguyên nhân sự khổ và diệt trừ nó, và vì vậy mới có đoạn suy nghĩ tiếp theo.
 

* Trang 33 *
device

Khổ tập ấm ấy thì bỗng nhiên tâm Ngài liền phát sinh chánh trí, sanh tuệ nhãn, sanh chơn giác, sanh minh liễu, sanh thông đạt, sanh trí tuệ, sanh chứng ngộ.
          Bồ-tát lại suy nghĩ: “ Do cái gì không có thì lão tử không có? do cái gì diệt thì lão tử diệt?” rồi liền dùng trí huệ quán sát sở do, biết rằng do Sanh không có nên Lão tử  không có, do Sanh diệt nên lão tử diệt; do Hữu không có nên Sanh không có, Hữu diệt Sanh diệt; do Thủ không có nên Hữu không có , Thủ diệt nên Hữu diệt; do Ái không có nên Thủ không có, Ái diệt nên Thức diệt; do Thọ không có nên Ái không có, Thọ diệt nên Ái diệt; do Xúc không có nên Thọ không có, Xúc diệt nên Thọ diệt; Lục nhập không có nên Xúc không có, Lục nhập diệt nên Xúc diệt; do Danh sắc không có nên Lục nhập không có, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt; do Thức không có nên Danh sắc không có, Thức diệt nên Danh sắc diệt,  do Hành không có nên Thức không có,Hành diệt nên Thức diệt; do vô minh không có nên Hành không có, vô minh diệt nên Hành diệt. Thế tức là vì vô minh diệt nên Hành diệt, Hành diệt nên Thức diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt, Xúc diệt nên Thọ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, Ái diệt nên Thủ diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt Hữu diệt
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 34 *
device

nên Sanh diệt, Sanh diệt nên lão tử ưu bi khổ não diệt(1).
 
 
 
(1)Đây là đoạn suy nghĩ mở đầu cho sự giác ngộ viên mãn. Suy nghĩ  tới nguyên nhân sự khổ, Bồ-tát không dự theo lối suy nghĩ của đa số tà sư mội việc dều qui công về nhiều đấng hay 1 vị đấng thần linh vô hình, nhưng Ngài suy nghĩ dựa vào kinh nghiệm , vào sự thật, bắt đầu từ nhân gần đến nhân xa, không cho sai lệnh, do đó Ngài đã phát minh ra 12 giai đoạn từ lão tử cho đến vô minh, từ vô minh đến lão tử, nó liên chuyển nên nhân duyên cho nhau tạo thành ra thân phận con người cũng như các loại chúng sinh. Bồ-tát đã quán xét 12 nhân duyên theo 2 chiều thuận nghịch, thường gọi là thuận quán và nghịch quán, hay lưu quán, như Bồ-tát suy nghĩ theo câu vấn đáp: Lão tử từ đâu mà có? Ngài liền thấy nhân duyên gần nhất của lão tử là sanh. Sanh từ dâu mà có? Liến thấy Sanh từ Hữu (nghiệp)mà có… cho dến Hành từ đâu mà có, liền thấy Hành từ vô minh mà có. Hay nói cách khác, từ vô minh mà có Hành …cho đến Sanh mà có lão, trong khi lão tử lại làm tăng trưởng vô minh, cứ thế 12 khoản nhân duyên tiếp nối nhau mãi mà hình thành thân phận trôi lăn, luân hồi của vạn loại. Ở đây xin đánh một dấu ngoặc: Ta không nên ngờ vô minh là nguyên nhân đầu tiên, là số một, vì vô minh chỉ là một là trạng thái mê lầm không đạt chân lý của tâm, mà tâm cùng chân tính vũ trụ thì vô thỉ vô chung, như như bình đẳng, không thể phân tách ra từng loại , từng cái để nói rằng cái, loại này sinh ra loại kia cái kia. Chẳng qua, ở trong thể nhất như có vọng tưởng nổi lên phân biệt sai lầm mới hiện thành ra ngàn sai muôn biệt, có ra cái thế giới trong khuôn khổ thành, trụ, hoại, không; có ra mọi vật trong khuôn khổ sanh, trụ, dị, diệt; có ra thân phận chúng sinh trong khuôn khổ sanh, già, đau, chết tiếp nối luân hồi, kỳ thật chúng đều là sự hoạt hiện của vô minh, mà chúng sinh còn đang ở trong vô minh không sao thấu triệt được. Vô minh tuy là duyên do căn bản của Hành, Thức cho đến lão tử, song nó không phải là một vật thể tồn tại biệt lập ngoài các duyên kia, nên không thể nói vô minh là một nguyên nhân độc lập đầu tiên. Vậy nên hiểu vô minh chỉ là một trạng thái mê lầm, một vọng tính không thật do đó mà có Hành, Thức v.v…làm căn bản, làm thật chất cho kiếp chúng sinh luân hồi và biết rõ lão tử từ Sanh mà có, cho đến Hành từ vô minh mà có; hoặc từ vô minh mà có Hành, cho đến từ Sanh mà có lão tử.
            Còn lối nghịch quán tức quán về mặt diệt trừ, về mặt “ không” của 12 nhân duyên, ấy là quán cho thấy rõ do Sanh không có nên lão tử không có, do Sanh
 

* Trang 35 *
device

Trong lúc Bồ-tát suy nghĩ về cái khổ ấm diệt như thế thì tâm Ngài bỗng nhiên phát sanh chánh trí, sanh tuệ nhãn, sanh chơn giác, sanh minh liễu, sanh thông đạt, sanh trí tuệ, sanh chứng ngộ.
           Sau khi Bồ-tát quán 12 nhân duyên theo 2 chiều thuận nghịch, Ngài biết được một cách như thật, thấy rõ được một cách như thật như thế rồi, liền ngay tại chỗ Ngài chứng được đạo quả A nậu đa la tam miệu tam Bồ-đề (Vô thượng giác).
    Đức Thích Ca liền dạy bài kệ:
              Lời này nói ra giữa đại chúng,
                       Các ngươi nên chăm chú nhớ nghe,
Bồ-tát quán sát về cái pháp
Mà xưa kia vốn chưa từng nghe:
“ Gìa chết từ duyên gì,
              Nhân gì mà có ra?
Quán sát đúng như vậy,
              Liền biết chết do sinh;
 
 
 
 
diệt nên lão tử diệt, cho đến vô minh không có nên Hành không có, do vô minh diệt nên Hành diệt, muốn diệt lão tử trước phải diệt Sanh, cho đến muốn diệt Hành trước phải diệt vô minh. Khi đã quán đủ 2 lối như vậy một cách thấu tỏ thì trí tuệ liền phát sanh, rõ thấu chân ý mà chứng nhập quả vị giác ngộ Bồ-đề.
     Nay những người tu hành muốn ngộ đạo tức phải chú tâm quán sát theo lý 12 nhân duyên, và để cho dễ thành tựu, họ phải bắt đầu quán sát cho rõ tính cách mê lầm tai hại của 3 duyên Ái, Thủ và Hữu trước, vì nó là những duyên thiết cận đang gây sức mạnh làm nối tiếp vòng luân hồi tái sanh trong kiếp vị lai. Nếu duyên nay bớt nhẹ thì vị lai, chúng sinh sẽ có một thân phận an lạc hơn, còn nếu trong đời này ai đã dứt sạch thì họ có thể chứng đến quả vị A-la-hán, vượt khỏi vòng luân hồi sanh tử.
 
 

* Trang 36 *
device

Sanh lại từ duyên gì,
Nhân gì mà có ra?
Suy nghĩ đúng như vậy.
Liền biết Sanh do Hữu;
Chấp thủ, chấp thủ mãi,
Dồn lên thêm cho Hữu,
Vậy nên Như Lai dạy:
Thủ là duyên của Hữu.
Ôm chặc đống nhơ bẩn,
Gió thổi không chảy trôi,
Như vậy nhân của Thủ,
Do Ái mà rộng sâu.
Ái do từ Thọ sanh,
Gốc của muôn ngàn khổ,
Vì nhân duyên nhiễm trước,
Khổ, lạc thọ xen nhau.
Thọ vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có Thọ?
Suy nghĩ như thế rồi
Biết Thọ do Xúc sanh;
Xúc vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có Xúc?
Suy nghĩ như thế rồi
Biết Xúc từ Lục nhập.
Lục nhập do duyên gì
Nhân gì có lục nhập?
Suy nghĩ như vậy, biết

* Trang 37 *
device

Lục nhập do danh sắc
Danh sắc do duyên gì,
Nhân gì có danh sắc?
Suy nghĩ như vậy, biết
Danh sắc từ Thức sanh
Thức vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có thức?
Suy nghĩ như vậy rồi,
Biết thức từ Hành sanh.
Hành vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có Hành?
Biết Hành từ Si sanh,
Nhân duyên như vậy đó,
Mới đúng nghĩa nhân duyên
Dùng tí tuệ phương tiện,
Quán thấy gốc nhân duyên.
Khổ không do Thánh Hiền,
Cũng không phải vô cớ,
Nên với khổ biến dịch,
Kẻ trí lo đoạn trừ (1)
Nếu vô minh dứt sạch,
 
 
 
 
 
  1. Bồ-tát đã quán thấy rõ ràng nỗi khổ chúng sanh không phải do ai sanh, không phải do một năng lực vô hình nào, cũng không phải vô cớ, nhưng do nhân duyên của chính chúng sinh. Nỗi khổ ấy là vô thường biến dịch, nó có thể do nhân duyên mà diệt đi. Kẻ trí giả biết vậy nên tìm cách diệt trừ đau khổ theo lý nhân duyên mà không ỷ lại thần quyền.

* Trang 38 *
device

Lúc đó không còn Hành,
Nếu đã không có Hành,
Thời cũng không có Thức;
Nếu thức hết vĩnh viễn,
Thì Danh sắc không còn,
Danh sắc đã dứt rồi,
Làm gì có Lục nhập,
Nếu Lục nhập trọn dứt,
Thời cũng không có Xúc,
Nếu Xúc đã dứt trọn
Thời cũng không có Thọ,
Nếu Thọ dứt hết rồi,
Thời cũng không có Ái
Nếu Ái dứt hết rồi,
Thời cũng không có Thủ,

Nếu thủ đã dứt rồi,
Thời cũng không có Hữu,
Nếu Hữu dứt hết rồi
Thời cũng không có Sanh,
Nếu Sanh dứt hết rồi,
Thời không còn Lão tử ,
Hết thảy đều dứt sạch,
Đó là lời trí nói,
Mười hai duyên sâu xa,
Khó thấy khó hiểu biết,
Duy phật mới biết rõ,
Tại sao có, sao không,
Nếu quán sát rõ ràng,
 

* Trang 39 *
device

Thời không còn các nhập
Người thấu triệt nhân duyên,
Không cần phải tìm thầy,
Đối với ấm, giới, nhập (1)
Lìa dục, không nhiễm trước,
Lãnh nhận mọi bố thí
Thí chủ được báo lành.
Nếu đặng 4 biệt tài( 2)
Thì chắc chắn chứng đạo
Giải trừ mọi ràng buộc,
Siêng năng đoạn các ấm;
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức,
Giống như xe cũ mục;
Quán rõ được như vậy,
Thời thành bậc chánh giác,
Như chim bay giữa không,
Đông tây theo ngọn gió,
Bồ-tát đoạn kiết sử( 3)
Như gió thổi áo nhẹ
Tỳ Bà Thi tịch tịnh,
Quán sát rõ các pháp:
 
 
 
 
 
  1. Ấm là 5 ấm, tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Nhập là 6 nhập, tức 6 giác quan, giới là 18 giới hạn, tức 6 căn, 6 trần, 6 thức cộng lại.
  2. 4 biệt tài là 4 thứ tài năng hùng biện vô ngại: Pháp vô ngại biện là thấu hiểu giáo pháp; nghĩa vô ngại biệt là thấu rõ nghĩa lý chứa đựng trong kinh giáo; từ vô ngại biện là thông thạo ngữ ngôn, văn tự, cú pháp; Lạc thuyết vô ngại biện là ưa thích thuyết pháp.
Kiết sử, chỉ những phiền não thường buộc trói và sai sử chúng sinh phải trôi lăn, sanh tử.

* Trang 40 *
device

Lão tử duyên, đâu có,
Từ đâu lão tử diệt,
Ngài quán như vậy rồi
Phát sanh trí thanh tịnh,
Biết lão tử do “Sanh”
“Sanh” diệt, “lão tử” diệt.
          Lúc đức Phật Tỳ Bà Thi thành đạo, Ngài nhập vào 2 lối quán: Là an ẩn quán và xuất ly quán (1). Phật liền dạy bài kệ:
Như Lai là bậc tối thượng,
Thường tu theo 2 phép quán:
Là an ẩn và xuất ly.
Nhờ đó được giải thoát sang bờ kia,
Và Tâm được tự tại
Khi đã dứt hết mọi kiết sử,
Thì như lên núi nhìn quanh mênh mông vô ngại,
Vì vậy nên có hiệu Tỳ Bà Thi.
Ngài đem đại trí diệt trừ tối tăm,
Như lấy gương sáng soi mình,
Lại còn vì đời diệ khổ.
Trừ hết khổ lụy tử sanh.
          Khi đã chứng đạo, Phật Tỳ Bà Thi ở chỗ nhàn tịnh suy nghĩ: “ Ta nay đã chứng được pháp vô thượng thâm vi diệu là pháp khó thấy khó
  1. An ẩn quán là không quán và xuất ly quán là quán sự xuất ly ra ngoài mọi điều ràng buộc vô minh.

* Trang 41 *
device

hiểu, bặt sự ồn ào, và chỉ có người trí mới thấu hiểu chứ kẻ phàm phu không thể nào thấu hiểu được, bởi vì chúng sinh phàm ngu đã có sẵn trong lòng những sự nhẫn chịu sai lầm, kiến thức sai lầm, bẩm thụ sai lầm. Dựa theo kiến thức đó mỗi người cứ vui theo chỗ vọng cầu của mình, làm theo tập quán của mình, cho nên đối với lý nhân duyên thâm diệu này họ còn không thể thấu hiểu, huống chi cảnh Niết-bàn bặt hết mọi tham ái, lại càng khó hiểu gấp bội phần. Ta dầu vì họ mà nói ra thì chắc họ không hiểu nổi còn trở lại bài báng nữa là khác”. Ngài suy nghĩ như thế nên mặc nhiên không muốn thuyết pháp.
          Lúc ấy vị vua trời Phạm Thiên, biết đức Tỳ Bà Thi đã nghĩ gì, liền tự nhủ: “ Cõi thế gian này đang bị sụp đổ, rất đáng thương xót, đức Phật Tỳ Bà Thi vừa chứng được pháp mầu như thế mà ý Ngài không muốn nói ra”, tức thì trong khoảnh khắc kẻ lực sĩ duỗi tay, từ cung Phạm Thiên bỗng nhiên hiện xuống, đến trước mặt Phật, cúi đầu đảnh lễ, đứng lui một bên, rồi chân mặt quỳ sát đất chấp tay bạch rằng: “ Ngưỡng mong đức Thế Tôn kịp thời thuyết pháp. Các chúng sinh hiện nay, tâm trần cấu đã bớt nhẹ, các căn đã lanh lợi nhiều, lại có lòng cung kính nên dễ bề khai hóa, họ đã biết sợ những tội lỗi không ai cứu trong tương lai, biết dứt trừ điều ác và phát sinh điều lành”.
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 42 *
device

Phật bảo Phạm Vương: Thật vậy, thật vậy, đúng như lời ngươi nói, nhưng Ta ở chỗ nhàn tịnh, thầm lặng suy nghĩ: chánh pháp Ta vừa chứng được vi diệu thậm thâm, nếu đem nói cho chúng sinh, chắc họ không hiểu sanh tâm báng bổ, nên Ta mặc nhiên không muốn thuyết pháp, Ta nhờ từ vô số A tăng kỳ kiếp (1)cần khổ tu tập những pháp hạnh vô thượng, nay mới chứng ngộ được pháp khó chứng ngộ này, nếu vì hạng chúng sinh đam, nộ, si mà nói ra, chắc họ không dùng, chỉ thêm luống uổng. Pháp vi diệu này trách nghịch với chúng sinh bị dục nhiễm ngu si che ngăn không tín giải nổi. Này Phạm Vương! Ta thấy rõ như thế, nên mặc nhiên không muốn thuyết pháp.
          Phạm Vương lại ân cần khẩn thiết thưa thỉnh một lần nữa, rồi một lần nữa, đến 3 lần rằng: “ Đức Thế Tôn nếu không thuyết pháp, thì nay cõi thế gian phải bị sụp đổ, rất đáng thương xót. Ngưỡng mong đức Thế Tôn , kịp thời giảng dạy, chớ để chúng sinh sa đọa đường mê”.
          Đức Thế Tôn nghe qua 3 lần thưa thỉnh của Phạm Vương, liền dùng Phật nhãn soi khắp thế gian, thấy chúng sinh có kẻ phiền não sâu dày, có kẻ phiền não nhẹ mỏng, có kẻ căn tánh lanh lợi, có
 
 
 
 
  1. A tăng kỳ kiếp tức là vô số kiếp; một thời gian ước lượng rất lâu dài cảu người tu hành, kể từ khi phát tâm đến khi chứng đạo.

* Trang 43 *
device

kẻ căn canh tánh chậm lụt, có kẻ dễ khai hóa, có ngwoif khó khai hóa. Mạng người dễ khai hóa, họ biết sợ tội lỗi đời sau, nên gắng lo sức dứt trừ điều ác, làm các việc lành. Họ như hoa Ưu bát ta, hoa Bát đầu ma, hoa Câu vật đầu, hoa Phần đà lỵ (1), có cái vừa ra khỏi bùn nhưng chưa thấu mặt nước, có cái đã ra khỏi bùn nhưng chưa thấu mặt nước, có cái đã ra khỏi bùn lại lên ngang mặt nước, có cái tuy n lên khỏi mặt nước mà chưa nở, nhưng cái nào cũng không bị nước dính bẩn, mà dễ dàng nở ra. Chúng sinh trong thế gian này cũng thế (2).
  Đức Thế Tôn bảo Phạm Vương: “ Ta thương các ông, Ta sẽ khai diễn pháp môn cam lồ(3)là pháp thâm diệu khó thấu triệt, vì hạng người muốn nghe, tin, thọ trì chứ không phải vì hạng người bài báng vô ích”.
  Phạm Vương biết Phật đã nhận lời thỉnh cầu, nên vui mừng hớn hở đi quanh Phật 3 vòng, cúi đầu đảnh lễ rồi biến mất.
  Phạm Vương đi chưa bao lâu, đức Như Lai lẳng lặng suy nghĩ: “Nay Ta nên nói pháp gì? Có lẽ trước
 
 

(1) Hoa sen các loại xanh, vàng, đỏ, trắng.
(2) Phật xem chúng sinh như hoa sen, dẫu có nhiều trình độ phát triển sai khác, hoặc có những chúng sinh khó khai hóa như hoa sen còn ở trong bùn, nhưng họ đều có căn tính không dính bùn và có cơ phát triển đến giác ngộ không khác dạng người dễ khai hóa. Đọc đoạn này làm ta liền suy nghĩ đến câu “ nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh” thường gặp trong các kinh luận khác.
(3) Cam lồ, ví Phật pháp như nước cam lồ, đem lại an lạc.

* Trang 44 *
device

hết Ta nên đi vào thành Bàn Đầu giảng cho 2 ông là Vương tử Chất-sa và người con của vị đại thần là Kiển-trà, sau sẽ đi đến chỗ khác.”(1)
          Liền như trong khoảnh khắc kẻ lực sĩ duỗi tay, tại cây đại thọ bỗng nhiên không thấy Ngài, Ngài đã dến thành Bàn Đầu, vào vườn Lộc giả (Isipattana) của vua Bàn Đấu, trải tọa mà ngồi rồi bảo người giữ vườn: “Ngươi hãy vòa thành bảo với Vương tử Chất-sa và Kiển-trà con đại thần cho họ biết đức Phật Tỳ Bà Thi hiện ở trong vườn Lộc giả, muốn gặp các người, các người nên biết đã đến lúc gặp Phật”. Người giữ vườn vâng lệnh tìm đến chỗ 2 người nói rõ lời Phật, 2 người nghe xong, liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi đứng lại một bên, Phật lần lượt thuyết pháp cho họ nghe về những điều lợi ích vui mừng bố thí, trì giới, phước báo sanh thiên và chỉ rõ tính tham dục là ác bất tịnh, là lậu hoặc (2)gây ra họa loạn, đồng thời tán dương đạo pháp giải thoát là pháp rất vi diệu thanh tịnh; khi Phật thấy 2 người đã có một tâm ý mềm mỏng thuần thục, hoan hỷ tin vui, đủ sức lãnh thụ chánh pháp, thì dạy tiếp về khổ thánh đế, giải thích rành rẽ về khổ tập thánh đế, khổ diệt thánh đế, và khổ xuất yếu thánh đế, ngay tại
 
 
 
 
 
 
(1)Đức Thích Ca thì đầutiên đến thuyết pháp cho 5 vị Tỷ-kheo tại Lộc Uyển.
(2)Lậu hoặc, chỉ các mối mê lầm phiền não thường lưu chú trọng tâm sinh gây thành sa đọa luân hồi.
 
 
 

* Trang 45 *
device

chỗ ông Chất-sa và Kiển-trà đã xa lìa trần cấu( 1)được pháp nhãn(2)thanh tịnh như tấm vải trắng dễ nhuộm sắc màu.
          Bấy giờ bỗng nghe có tiếng của địa thần xướng lên rằng: “ Đức Tỳ Bà Thi Như Lai ở vườn lộc giải của thành Bàn Đầu, chuyển nói pháp luân vô thượng mà hàng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma, Phạm, và các người thế gian khác không thể chuyển nói được”. Câu ấy lan truyền như gió, chỉ trong giây lát đã bay thấu cõi Tứ Thiên Vương, rồi cõi trời Tha hóa tự tại, rỗi cõi Phạm thiên. Đức Phật Thích Ca liền dạy bài kệ:
Tâm vui mừng hớn hở,
Xưng tán đức Như Lai,
Tỳ Bà Thi thành Phật,
Chuyển pháp luân vô thượng.
Bắt đầu từ đạo thọ,
Đi đến thành Bàn Đầu,
Vì Chất Sa, Kiển trà,
Chuyển pháp luân Tứ đế.
Chất Sa và Kiển trà,
Nghe xong lời Phạt dạy,
Ở trong pháp thanh tịnh,
Được phạm hạnh (3)tối cao,
 
 

(1)Trần cấu là những phiền não trần lụy, làm cấu bản tâm trí.
(2) Trần cấu là những phiền não trần lụy, làm cấu bản tâm trí.
(3) Phạm Hạnh là Hạnh thanh tịnh
 
 

* Trang 46 *
device

Truyền lần đến Đao lợi,
Và các trời Đế Thích,
Vui mừng bảo lẫn nhau,
Nghe khắp cả chư thiên;
Phật hiện ra thế gian,
Chuyển pháp luân vô thượng,
Thêm lợi hàng chư Thiên
Giảm bớt A-tu-la
Đấng Thế Tôn danh vang,
Khổ trí (1)lìa thế gian,
Tự tại giữa các pháp,
Đại trí chuyển pháp luân;
Quán sát pháp bình đẳng,
Tâm dứt sạch cấu nhơ,
Xa lìa ách tử sanh,
Đại trí chuyển pháp luân;
Diệt khổ lìa các ác
Ly dục, được tự tại
Xa lìa ngục ái ân,
Đại trí chuyển pháp luân;
Bậc chánh pháp hơn người,
Đấng điều ngự phúc trí
Giải thoát mọi ràng buộc,
Đại trí chuyển pháp luân;
Đấng đạo sư giáo hóa,
Hay uốn dẹp oán ma,
 
 
 
(1) Khổ trí là thấu triệt khổ đế.

* Trang 47 *
device

Xa lìa mọi điều ác,
Đại trí chuyển pháp luân;
Sức vô lậu hàng ma (1)
Các căn (2) thường tịch định,
Hết mê, lìa buộc ràng,
Đại trí chuyển pháp luân:
Nếu học pháp quyết định
Biết các pháp vô ngã,
Đó là pháp cao tột,
Đại trí chuyển pháp luân;
Không vì cầu lợi dưỡng,
Cũng chẳng vì hư danh.
Chỉ vì thương chúng sinh,
Đại trí chuyển pháp luân;
Thấy chúng sinh khổ ách,
Già, bịnh, chết bức bách,
Vì 3 đường ác đó
Đại trí chuyển pháp luân:
Đoạn tham, sân nhuế, si,
Nhổ sạch gốc tham ái,
Được giải thoát bất động,
Đại tri chuyển pháp luân;
Ta thắng việc khó thắng,
 
 
 
(1) Vô lậu là các mê lầm phiền não sạch hết, trí sáng suốt hiện ra, trí ấy là trí vô lậu.
( 2) Các căn chỉ là các giác quan.

* Trang 48 *
device

Thắng để hàng phục mình
Và để thắng chúng ma (1)
Đại trí chuyển pháp luân;
Pháp luân vô thượng đó,
Duy Phật hay chuyển nói,
Hàng Thiên, Ma, Thích, Phạm,
Không ai chuyển nói được.
Thân cận chuyển pháp luân,
Làm ích lợi thiên nhân,
Bậc thiên Nhân Sư (2) đó,
Đã vượt đến bờ kia (3).
          Lúc ấy Chất-sa và Kiển-trà đã kiến đạo chứng quả, chân thật không hư ngụy, thành tựu sức vô úy(4) , liền bạch Phật rằng: “ Chúng con muốn ở trong giáo pháp của Như Lai, tịnh tu phạm hạnh”. Phật dạy: Thiện lai Tỷ-kheo! Pháp Ta thanh tịnh hãy theo đó tu hành để dứt trừ thống khổ”. Ngay lúc ấy 2 người liền đắc Cụ túc giới (5). Đắc giới chưa bao lâu, Như Lai lại đem 3 điều ra dạy: một là Thần túc, hai là quán tha tâm, ba là giáo giới, tu 3 điều này thì
 
 
 
(1) Lấy sức tự thắng là điều khó thắng mà thắng các ma chướng.
(2) Thầy cả trời và người, tiếng tôn xưng Phật.
(3) Bờ kia, vì tham ái vô minh như giòng soongchia bên này là sanh tử, bên kia là Niết-bàn giác ngộ, khi qua khỏi giòng sông tức là qua bờ kia, bờ giác.
(4) Chúng sinh vì vô minh nên hàng ngày sống trong âu lo sợ hãi, người đạt lý giác ngộ thì không thấy có gì lo sợ, lúc nào cũng tự tại.
(5) Cụ giới tức là Cụ tức giới, gồm 250 giới của vị Tỷ-kheo thụ lãnh.

* Trang 49 *
device

được tâm vô lậu giải thoát, phát sanh trí quyết định, không ngờ vực đối với giáo pháp.          Đa số nhân dân ở thành Bàn Đầu nghe 2 người xuất gia học đạo, mang y cầm bát, tịnh tu phạm hạnh, họ nói với nhau rằng: “đạo ấy chắc là đạo chân, mới khiến các người kia bỏ vinh vị ở đời, bỏ các thứ quý trọng để tu theo”, tiếp đó trong thành có 8 vạn 4 ngàn người đi đến vườn Lộc giả, chỗ Phật Tỳ Bà Thi, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên. Phật lần lượt dạy cho họ những pháp môn lợi ích khiến ai nấy vui mừng như Bố thí, trì giới, phúc báo sanh cõi trời, và chỉ rõ tính tham dục là điều ác bất tịnh, là hoặc lậu nặng nề gây nên hoạn nạn,đồng thời tán thán pháp giải thoát vi diệu, thanh tịnh hơn cả. Khi đức Thế Tôn thấy đại chúng đã có một tâm ý mềm mỏng thuần thục hoan hỷ tín thọ, đủ sức lãnh thụ chánh pháp, nên dạy tiếp pháp Tứ đế cho họ nghe. Ngay tại chỗ, cả 8 vạn 4 ngàn người đều xa lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, như tấm vải sắc dễ nhuộm sắc màu. Họ được thấy pháp chứng quả, chân thật không dối, thành tựu sức vô úy, liền bạch Phật rằng: “chúng con muốn ở trong giáo pháp Như Lai mà tịnh tu phạm hạnh”. Phật rằng : “Thiện lai Tỷ-kheo!(1)Pháp ta thanh tịnh hãy theo đó tu hành để
 
 
 
 
(1) Thiện lai Tỷ-kheo do thiện tâm đến học đạo. Trong khi Phật tại thế, gặp người thiện tâmđến cầu pháp, Phật chỉ nói: “Thiện lai Tỷ-kheo”, tức thì họ đủ giới pháp, như ngày nay người xuất gialeen đàn thọ giới trước thập sư vậy.

* Trang 50 *
device

dứt trừ thống khổ”.  Ngay sau khi đó 8 vạn 4 ngàn người đều đắc Cụ túc giới. Đắc giới chưa bao lâu Như Lai lại đem 3 điều ra dạy: 1 là thần túc, 2 là quán tha tâm, 3 là giáo giới.
  Tiếp có 8 vạn 4 ngàn người khác, nghe Phật ở trong vườn Lộc giả chuyển pháp luân vô thượng mà hàng Sa-môn, Bà-la-môn, Chư thiên, Ma, Phạm và các người thế gian khác không thể chuyển được, liền đến thành Bàn-đầu chỗ Phật Tỳ Bà Thi, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên,
  Phật cũng vì họ nói pháp như mấy người trước.
  Đến lúc này tại thành Bàn-đầu đã có 34 vạn 8 ngàn vị đại Tỷ-kheo. Hai Tỷ kheo Chất sa và kiển trà ở trước mặt chúng tăng, bỗng bay lên không trung, thân phóng xuất nước lửa, hiện các thần thông biến hóa nói pháp vi diệu cho Đại chúng nghe. Bấy giờ đức Như Lai thầm nghĩ: “ Nay tại thành này đã có được 34 vạn 8 ngàn đại  Tỷ- kheo, Ta nên sai đi du hóa, cứ 2 người một, đến khắp các nơi, đúng 6 năm lại trở về thành này để thuyết giới”. Trời Thủ Đà Hội biết ý đức Như Lai, liền như trong khoảnh khắc kẻ lực sĩ duỗi tay, từ cõi trời hiện đến trước đức Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ, đứng lại một bên, bạch Phật rằng : “ Bạc Thế Tôn! Thật như vậy, trong thành Bàn đầu này có nhiều Tỷ-kheo, Ngài nên phân bố đi khắp mọi nơi, tôi sẽ ủng hộ, khiến không ai tìm tòi cơ

* Trang 51 *
device

hội phá khuấy các vị được”. Phật làm thinh nhận lời. Trời Thủ Đà Hội thấy Phật làm thinh nhận lời, đảnh lễ Phật xong, bỗng tiến trở lại cõi trời. Không bao lâu sau, Phật bảo các Tỷ-kheo phân hành giáo hóa, các Tỷ-kheo vâng lời Phật dạy, mang y cầm bát, đảnh lễ rồi lên đường đi hóa độ, Phật liền dạy bài kệ:
Phật sai chúng không loạn,
Ly dục, không luyến ái,
Oai như chim Kim-sí
Như hạt bỏ ao hoang (1)
Sau đó một năm, trời Thủ Đà Hội nhắc lại các Tỷ-kheo: “Các Ngài đi du hóa độ đã quá 1 năm, còn 5 năm nữa, các Ngài nên nhớ trọn 6 năm rồi hãy nhóm về thành mà thuyết giới”, cứ như thế, đến năm thứ 6, trời lại nhắc rằng: “6 năm đã mãn nên trở về thành mà thuyết giới”. Các Tỷ-kheo nghe trời nhắc xong, thu xếp y bát, trở lại thành Bàn-đầu, đếnLộc giả chỗ Phật Tỳ Bà Thi, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lui một bên.
Ở trước mặt Đại chúng, Như Lai bay lên không trung, ngồi liết già, giảng nói giới kinh, chĩ rõ đức tánh nhẫn nhục là hơn cả; quả vị Niết-bàn là tối
 
 
 
(1)Chim hạt khi rời bỏ ao đầmhoang vắng này để đến ao đầm khác, đi là đi không chút luyến tiếc. Hàng Tỷ-kheo cũng vậy, tùy nghi đi giáo hóa tâm không rối loạn, không tham dục và luyến ái theo một nơi nào.
 

* Trang 52 *
device

thượng; và chẳng vì hình tướng cạo bỏ râu tóc mà được gọi là Sa-môn nếu còn não hại kẻ khác. Trời Thủ Đà Hội lúc ấy ở cách Phật không xa, dùng bài kệ tán Phật rằng:
Như lai bậc đại trí
Là vi diệu độc tôn.
Chỉ, Quán đều đầy đủ
Thành bậc tối chánh giác,
Vì thương xót quần sanh,
Nên ở đời thành đạo,
Đem 4 lý chân thật
Dạy cho hàng Thanh văn,
Khổ cùng với khổ nhân
Và chân lý diệt khổ,
Tám chánh đạo thánh hiền,
Đưa đến nơi an lạc.
Đức Phật Tỳ Bà Thi,
Xuất hiện ở thế gian,
Ngài ở giữa Đại chúng,
Như mặt trời chiếu diệu.
Nói xong bài kệ, bỗng nhiên biến mất.
Phật lại bảo các Tỷ-kheo, Ta nhờ kiếp xưa, khi ở tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành La Duyệt, có một lần sinh tâm nghĩ rằng: “ Chỗ Ta sinh ra, đâu đâu cũng có, duy trừ cõi trời Thủ Đà Hội, giả sử Ta sanh
 
 
 

* Trang 53 *
device

cõi trời kia, thời đã không trở lại đây. Này các Tỷ-kheo! Ta lại nhớ rằng: Khi Ta muốn đến cõi trời vô tạo(1) nhìn trong khoảnh khắc kẻ tráng sĩ duỗi tay, Ta ẩn ở đây mà hiện ở kia, hàng Chư thiên lúc đó thấy Ta đến, liền đảnh lễ, đứng lại một bên, bạch với Ta rằng: Chúng tôi đều là đệ tử của đức Phật Tỳ Bà Thi mà được sanh đến cõi này, rồi họ kể đủ nhân duyên gốc ngọn của đức Phật Tỳ Bà Thi. Họ lại nói: các đức phật Thi Khí, Tỳ Xá Bà, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm, Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni đều là thầy của chúng tôi, chúng tôi nhờ sự giáo hóa của các Ngài mà được sinh đến cõi này, và tiếp kể với Ta nhân duyên gốc ngọn của các đức Phật ấy. Cho đến hàng Chư thiên ở cõi trời A-ca-ni-sắc (2) cũng kể với Ta như thế.
*
 
 
 
 
 
 
 

(1)Vô tạo tức là vô phiền, một tầng trời trong 5 tầng trời Tịnh Cư ở Sắc giới.
(2) Cõi trời cứu kính ở chót Sắc giới.
 

* Trang 54 *
device

 
Kinh Trường A Hàm