LOGO VNBET
KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG TU HÀNH
(Dạy về tư cách của vị Chuyển luân vương
Và tình trạng sinh tồn của nhân loại)
*

Tôi nghe như vầy: Một thời đức Phật cùng 1.250 Tỷ-kheo đi du hóa nhân gian tại xứ Ma-la-hê-lâu (Matula) lần đến nước Ma La Lâu. Đức Thế Tôn dạy: này các Tỷ-kheo! Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với Chánh pháp, chớ đừng thắp lên với một pháp nào khác; hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa nơi chánh pháp, chớ đừng nương tựa vào một nơi nào khác (1)
Thế nào là tự mình thắp đuốc lên mà đi, cho đến đừng nương tựa vào một nơi nào khác? Ấy là Tỷ-kheo thường phải lo siêng năng quán xét thân mình, nhớ mãi không quên, để trừ tâm tham luyến thế gian, phải siêng năng quán xét của thân mình, thân người trong tâm trí nhớ mãi không quên, để trừ tâm tham luyến thế gian. Tiếp đến, quán xét về
 
 

(1)Câu này chữ Pali: Atta-dipa  Chikkhave  Vibaratha   atta-Sarana  ananna, Sarana,  dhamma-dipa- Sarana  ananna”. Trường A Hàm chữ Hán dich: “Đương tự xí nhiên, xín hiên ư pháp, vật tha xí nhiên,đương tự quy y, quy y ư pháp, vật tha quy y”. Còn kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbanasutta) chép: “Thị cố A Nan! Đương dĩ tự kỷ vi quang, dic tự kỷ vi y xứ nhi trụ chi, diệt vật y ư tha xứ; dĩ pháp vi quang, dĩ pháp vi y xứ nhi trụ chi, cánh vật y ư tha xứ”.

* Trang 165 *
device

Thọ, về ý, về Pháp cũng như thế. Hễ tu hành được như thế thì Ma không thể nhiễu hại, công đức ngày một thêm. Tại vì sao? Vì quá khứ trong một thời lâu xa, có vị vua tên là Kiên Cố Niệm (Daldameni) thuộc dòng Sát-lỵ vua chúa, làm Chuyển luân thánh vương, thống lãnh cả 4 châu thiên hạ. Vua có oai đức, biết lấy chánh pháp trị hóa, đặc biệt nhất nhân gian. Vua có đủ 7 thứ báu: Xe vàng báu, voi trắng báu, ngựa xanh báu, thần châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu (quần thần), chủ binh báu. Và có 1.000 người con hùng dũng, đủ sức dẹp địch, không cần dùng binh mà thiên hạ tự thái bình.
          Vua Kiến Cố Niệm trị vì đã lâu ngày, một hôm xe vàng báu ở không trung bỗng tự nhiên rời khỏi chỗ cũ. Người coi xe gấp đến tâu vua: “Xin Đại vương biết, xe báu nay bỗng rời chỗ cũ”. Nghe thế, vua nghĩ: “ Ta từng nghe các bậc tiền túc kỳ cựu nói: “ Nếu chiếc xe báu của Chuyển luân thánh vương mà rời khỏi chỗ cũ thì thọ mệnh nhà vua không còn sống được lâu. Ta nay đã thụ hưởng phước lộc nhân gian, ta nên tìm phương tiện tu hành để thọ hưởng phước lạc thiên thượng. Ta hãy lập Thái tử lên thống lãnh 4 châu thiên hạ và cất một ấp cho người hớt tóc để giúp ta cắt bỏ râu tóc, rồi ta mặc pháp y xuất gia tu đạo”. Vua liền nói cho Thái tử biết và dặn: “Nay ta đem 4 châu thiên hạ ủy thác cho ngươi, ngươi hãy gắng sức thương yêu dân chúng”. Thái tử lãnh mạng, vua liền xuất gia tu đạo
 
 
 

* Trang 166 *
device

Vua xuất gia được 7 ngày thì xe vàng báu bỗng nhiên không hiện ra nữa. Người coi xe đến báo tin tân vương biết, tân vương không vui, liền tìm đến phụ vương Kiên Cố Niệm bạch rằng: “Xin phụ vương biết, nay chiếc xe báu bỗng nhiên không hiện ra nữa”. Vua Kiên Cố Niệm trả lời con: “Ngươi chớ lo lắng cho là điều không vui. Chiếc xe vàng báu đó không phải là sản vật riêng của cha ngươi. Ngươi hãy gắng thi hành theo chánh pháp của thánh vương, rồi đến ngày rằm trăng tròn, tắm gội nước hương, lên ngồi tại chánh pháp điện, có thể nữ bao quanh, tức thì có xe vàng báu tự nhiên hiện đến.
          Thái tử bạch phụ vương: “Chánh pháp của Chuyển luân thánh vương thế nào? Làm sao thi hành?” – Phụ vương đáp: “ Nên quy y theo chánh pháp, gây dựng chánh pháp, đầy đủ chánh pháp, cung kính tôn trọng quán sát chánh pháp, lấy chánh pháp làm đầu và ủng hộ chánh pháp. Lại nên đem chánh pháp dạy dỗ chăm sóc các thể nữ, các tiểu vương, các vương tử, đại thần, quần tiêu, bá quan và toàn thể dân chúng, Sa-môn, Bà-la-môn cho đến các loài cầm thú, cũng đều phải chăm nom. Lại nữa, trong cõi nước ngươi, nếu có các Sa-môn, Bà-la-môn, tu hành thanh  chơn, công đức đầy đủ, chuyên cần tinh tấn, xa lìa kiêu mạn, nhẫn nhục nhân ái, một mình ở chỗ nhàn tịnh tu tập, bồi lành, dẹp ác, đạt đến Niết-bàn. Họ tự diệt trừ tham dục, còn dạy người khác diệt trừ tham dục tự diệt trừ sân nhuế

* Trang 167 *
device

còn dạy người khác diệt trừ sân nhuế, tự diệt trừ ngu si còn dạy người khác diệt trừ ngu si, ở trong chỗ ô nhiễm họ không ô nhiễm, trong chỗ tội ác họ không tội ác, trong chỗ ngu si họ không ngu si, chỗ có thể say đắm họ không say đắm, chỗ có thể trụ họ không trụ, chỗ có thể ở họ không ở; thân họ làm chất trực, miệng họ nói chất trực, ý họ nghĩ chất trực, thân họ thanh tịnh, miệng họ thanh tịnh, ý họ thanh tịnh. Họ sống lối sống chơn chánh thanh cao, có lòng nhân từ, biết đủ trong sự ăn mặc, và cầm bát đi khất thực để gây phước lành cho chúng sinh. Nếu ở cõi nước ngươi có được hạng người như thế, ngươi hãy thường nên tìm đến, tùy lúc hỏi han cho hiểu rõ trong việc tu hành sao là thiện, sao là ác, sao gọi là phạm, sao gọi là không phạm, người nào đáng gần, người nào không đáng gần, việc gì đáng làm việc gì không đáng làm, và thi hành pháp chi mà suốt cả ngày đêm được vui vẻ. Ngươi hỏi xong rồi lấy ý mình quán xét thấy việc nên làm thì gắng làm, việc nên bỏ thì gắng bỏ.
          Lại nữa, trong nước nếu có kẻ mồ côi già lão thì hãy nên chẩn cấp, gặp người nghèo cùng khốn khó đến xin, chớ trái ý họ. Trong nước sẵn có luật pháp phong tục gì chớ tự ý sửa đổi. Đó là pháp tu hành của vị Chuyển luân thánh vương, ngươi nên phụng hành”. 
          Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo! Vị Chuyển luân thánh vương lúc ấy nghe lời phụ vương dạy xong,
 
 

* Trang 168 *
device

thì làm theo như lời. Đến ngày rằm trăng tròn tắm gội nước hương, lên ngồi tại bảo điện, có thể nữ bao quanh, tự nhiên có xe báu hiện ra trước mắt, vành xe có ngàn tăm sáng chói, do thợ trời làm chớ không phải đời có được. Xe toàn bằng chân kim, đường kính bánh xe một trượng tư, khi ấy Chuyển luân thánh vương thầm nghĩ: “Ta từng nghe các bậc tiên túc kỳ cựu nói: Nếu vua chúa dòng Sát-lỵ, đến ngày rằm trăng tròn, tắm gội nước hương, lên ngôi tại bảo điện, có thể nữ bao quanh, thời tự nhiên có xe vàng hiện đến trước mặt, do đó gọi là Chuyển luân thánh vương. Nay có xe báu ấy hiện đến há không là đây chăng? Ta hãy thử coi xe đó thế nào?”.
          Vua Chuyển luân thánh vương liền triệu 4 thứ binh đến trước xe vàng, quỳ gối lấy tay mặt vỗ lên xe và nói: “Ngươi hãy theo đúng phép mà chạy về phương đông, chớ trái lệ thường”. Xe liền chạy về phương đông. Vua đi theo xe vàng, có 4 thứ binh mã tùy tụng hộ giá, trước xe vàng có 4 vị thần dẫn đường. Hễ đến chỗ xe vàng ngừng thì vua cũng dừng xe. Các tiểu quốc phương đông thấy vua đến , họ đem bát vàng đựng lúa bạc, bát bạc đựng lúa vàng đến trước vua, cúi đầu tâu rằng: “ Đại vương đến, thật lành thay! Phương đông này đất ruộng phì nhiêu, nhân dân sung túc, chí tánh nhân hòa, từ hiếu trung thuận , mong được Thánh vương lấy chánh pháp trị hóa chốn này, chúng tôi xin cung cấp hầu hạ, vâng chịu mọi việc cần dùng”. Vua
 
 

* Trang 169 *
device

Chuyển luân thánh vương đáp: “ Thôi chư hiền! Thế là các ngươi đã cúng dường ta rồi đó. Các ngươi hãy nên lấy chánh pháp mà trị dân, chớ làm cho ai oan uổng, tức là ta trị hóa đó”. Các tiểu vương vâng lệnh. Họ liền theo vua đi tuần khắp nước, đến tận mé biển đông mới trở về.
          Vua lần lượt đi về phương nam, rồi phương tây, phương bắc. Hễ xe vàng đến ở đâu thì các quốc vương đều đến cống hiến như các tiểu quốc phương đông vậy.
          Kịp đến khi vua Chuyển luân thánh vương đã theo xe vàng đi khắp 4 biển, đem chánh đạo khai hóa, an ủi dân chúng xong trở về nước, thì xe vàng tự nhiên ở lại chỗ cũ trên không trung ngay cửa cung điện. Thấy vậy, vua Chuyển luân vui mừng nói: “ Xe vàng báu này thật là điềm tốt của ta, ta chính thật là Chuyển luân thánh vương”.
          Đó là xe vàng báu thứ nhất được thành tựu.
          Tân vương kia trị vì lâu ngày, một hôm xe vàng báu giữa hư không lại bỗng nhiên rời chỗ cũ, người coi xe gấp đến báo tin vua hay, vua tự suy nghĩ rồi sau cũng xuất gia tu đạo, giao phó thiên hạ lại cho Thái tử như vua trước.
          Vua xuất gia được 7 ngày thì xe vàng bỗng nhiên không hiện, người coi xe đến báo tin vua mới. Vua này nghe xong chẳng cho đó là điều đáng lo, cũng chẳng chịu đến hỏi ý phụ vương.
 
 
 
 
 

* Trang 170 *
device

Bỗng nhiên phụ vương băng hà.
Kể từ đây về trước có 6 vua Chuyển luân, cứ đắp đổi trao ngôi và lấy chánh pháp trị dân, duy một ông vua sau này tự chuyên trị nước, không theo pháp cũ, chánh trị bất công khiến thiên hạ oán thán, quốc độ kém sút, nhân dân điêu linh. Thấy vậy có 1 đại thần dòng Bà-la-môn đến tâu vua, mà hiện trong nước vua có nhiều vị tri thức, thông minh bác đạt, rõ thấu cổ kim, biết đủ pháp chánh trị của tiên vương, sao ngài không mời lại để hỏi những điều họ biết, hỏi chắc họ đáp”. Vua liền với quần thần đến hỏi các đạo trị chánh của tiên vương, các vị trí thần đáp đủ mọi việc. Vua nghe xong liền thi hành theo pháp cũ, lấy chánh pháp cữu hộ nhân dân, nhưng vẫn không thể chẩn tế những kẻ cô lão, cấp thí cho người hạ cùng, nhân dân trong nước vẫn đưa dần tới chỗ nghèo khốn, xâm đoạt lẫn nhau mà thành có nạn đạo tặc hoành hành. Mỗi khi có ai bị rình bắt được đem đến vua, tâu rằng: “Người này làm giặc, xin vua trị nó”. Vua hỏi: “Có thật ngươi là giặc không?” Người ấy đáp: “Thật, vì tôi nghèo cùng đói khát, không tự sống nổi lên phải làm giặc”. Vua liền xuất khố, lấy của cấp cho và dặn: “Ngươi đem của này về cung cấp cho cha mẹ, giúp đỡ bà con, từ nay chớ làm giặc nữa nghe”.

* Trang 171 *
device

Các người khác thấy vậy đồn: “có kẻ làm giặc được vua cấp cho tài bảo” nên họ cũng bắt chước làm theo. Họ lại bị rình bắt được đem đến vua, tâu rằng: “người này làm giặc, xin vua trị nó”. Vua lại hỏi: “có thật ngươi là giặc không?” Người kia đáp: “dạ thật, vì tôi nghèo cùng đói khát không tự sống nổi, nên phải làm giặc”. Vua lại xuất khố lấy của cấp cho cha mẹ, thương giúp bà con, và dặn từ nay chớ làm giặc nữa nghe”.
Lại những người khác nghe nói kẻ làm giặc được vua cấp cho tài bảo, nên họ lại bắt chước rủ nhau làm theo, và lại rình bắt đem đến vua, tâu “Người này làm giặc, xin vua trị nó”. Vua lại hỏi: “có thật ngươi là giặc không?”Người kia đáp: “dạ thật, vì tôi nghèo cùng đói khát, không tự sống nổi nên phải làm giặc”. Lần này vua nghĩ: “Trước đó có người làm giặc, ta thấy nghèo đói cấp cho tài vật, dặn thôi đừng làm, người khác nghe thế lại bắt chước làm. Nạn đạo tặc nhân đó tràn lan mãi, thôi bây giờ tốt hơn ta phải hạ lệnh bắt trói người này dắt đi các ngõ đường, sau đưa ra ngoài thành đên chỗ trống trải mà hình phạt, để răn người sau”. Vua liền săc tả hữu bawtstrois lại rồi đánh trống xướng lệnh đưa đi khắp ngõ đường. Xong rồi đem tới một nơi trống trải ở ngoài thành mà hình phạt. Mọi người khác thấy vậy truyền nhau: “Nuế chúng ta làm giặc, cũng phải bị xử như thế chẳng khác gì”. Từ đây quốc dân ai tự lo phòng hộ nấy, nên mới tạo rav những binh trượng, gươm
 
 
 

* Trang 172 *
device

đao, cung tên, lần lần tàn hại đánh đập, cướp giật lẫn nhau.
Kể từ ông vua này mới bắt đầu có sự nghèo cùng mới có đạo tặc, nhân đó đạo tặc mới có đao trượng, nhân đó đao trượng mới có sát hại, nhân có sát hại nên nhan sắc con người mới tiều tụy, thọ mệnh ngắn ngủi. Họ sống từ 4 vạn tuổi sau lần xuống còn 2 vạn tuổi, lại trong số đó có người sống lâu có người chết yểu, có người khổ có người vui, họ lại sinh tâm tà dâm tham thủ, bày đủ phương tiện để mưu đạt của nhau, sát hại càng ngày càng nhiều, làm cho mạng người lại giảm dần xuống chỉ sống 1 vạn tuổi.
Trong thời gian người sống 1 vạn tuổi, vẫn lại trộm cướp  lẫn nhau. Mỗi khi bị rình bắt đem đến vua, tâu rằng: “Người này làm giặc, xin vua trị nó”, Vua hỏi: “có thật ngươi là giặc không?” Người kia đáp: “tôi không tiện ở trước mọi người mà nói dối”. Như vậy chúng sinh lúc đó vì nghèo cùng nên trộm. Cướp, vì trộm cướp nên có đao binh, vì đao binh nên giết hại, vì giết hại nên có tham thủ tà dâm, vì tham thủ tà dâm nên nói dối, do đó tuoir thọ lại giảm dần, chỉ còn sống được 1 ngàn tuổi.
Trong thời gian sống 1 ngàn tuổi, bắt đầu người tà tạo 3 việc ác về miệng nói dối, nói hai lưỡi, nói độc ác và nói thêu dệt thêm bớt. Ba ác nghiệp đó

* Trang 173 *
device

tăng dần lên thì tuổi thọ con người giảm bớt xuống, chỉ còn sống được 500 tuổi.
         Trong thời gian sống 500 tuổi, người ta lại tạo thêm 3 việc ác khác là dâm dục phi pháp, tham lam phi pháp và tà kiến. Ba ác nghiệp này tăng dần lên thì tuổi thọ con người giảm bớt xuống, chỉ còn sống đến 300 rồi 200 tuổi và nay nhân loại trong thời (Ta) chỉ còn sống được 100 tuổi. Số tuổi thọ được tăng thì ít mà giảm thì nhiều. Hễ cứ làm ác mãi thì tuổi thọ cư như thế giảm xuống mãi cho đến khi nhân loại chỉ còn sống 10 tuổi là cùng.
         Trong thời gian nhân loại sống 10 tuổi này, con gái vừa sinh ra 5 tháng đã gả chồng. Ở vào thời ấy, những vị ngon ngọt như dầu mỡ, đường mật không còn nghe tên, đậu mè lúa nếp biến thành cỏ rác, những thứ danh phục, vải trắng kiếp ba, lụa tơ lãnh nhiều như bây giờ không thấy mặc, mà phải bện lông gai xô xảm lấy làm áo mặc thượng hạng. Toàn cõi đất này mọc đầy gai gốc, sanh đầy mòng muỗi, ruồi lằng, chấy rận, rắn rết, ong, bò cạp, trùng độc ; vàng bạc, lưu ly, trân châu, danh bảo đều lặng hết xuống đất, còn ngói đá, sạn sỏi thì nổi cả lên trên. Nhân loại lúc đó tuyệt nhiên không còn nghe thấy tên thập thiện mà chỉ còn việc thập ác đầy dẫy thế gian. Nhằm lúc cái tên thiện pháp còn không nghe thấy, nhân loại không biết đâu để tu tập hạnh lành, do đó hễ người nào làm điều cực ác, bất hiếu với
 
 
 
 
 
 

* Trang 174 *
device

cha mẹ, bất kính với Sư trưởng, bất trung bất nghĩa, phản nghịch vô đạo, thì được dân chúng tôn sùng như hiện nay người ta tôn sùng kẻ lành điều lành, hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận Sư trưởng, trung tín tiết nghĩa, thuân đạo tu nhân vậy.
         Nhân loại thời ấy, tạo thập ác nhiều nên sa vào nẻo ác nhiều, hễ vừa trông thấy nhau là họ muốn giết sống như kẻ thợ săn trông thấy bầy nai.
         Cõi đất lúc ấy đầy dẫy hố hầm, khe suối, hang hóc; đất rộng người thưa, đi lại ghê sợ. Nhằm lúc ấy thì có nạ đao binh nổi lên, cọng cỏ nhánh cây cầm trong tay cũng đều biến thành binh khí, giết hại nhau trong vòng 7 ngày. Những kẻ có trí, tìm lánh vào rừng sâu, nương ở hang hố, trong 7 ngày lòng quá sợ hãi mà phát lời từ thiện rằng:  “ngươi không hại ta không hại ngươi”. Họ nhờ ăn cỏ cây mà sống còn. Qua khỏi 7 ngày họ từ núi đi ra, hễ gặp kẻ sống sót, vừa thấy nhau đã mừng rỡ nói: “ngươi không chết ư?ngươi không chết ư?” giống như cha mẹ chỉ có con một, xa cách lâu ngày, nay gặp lại mừng không xiết kể. Họ đem lòng mừng rỡ chúc hỏi nhau như thế xong, sau mới thăm hỏi đến nhà, thì hay rằng thân thuộc nhà họ đã chết đi nhiều, nên họ lại buồn khóc, than van, kêu ca với nhau trong suốt 7 ngày tiếp.
         Hết 7 ngày buồn khóc, tiếp đến 7 ngày họ cùng nhau chúc mừng, hoan lạc, và tự nghĩ: “Vì chúng ta chứa ác quá nhiều nên gặp phải tai nạn, khiến thân
 

* Trang 175 *
device

tộc chết chóc, gia quyến mất tiêu, vậy nay ta nên chung nhau tu đôi điều lành; nhưng hãy tu điều lành gì? À, ta nên đừng sát sinh”.
Bấy giờ nhân loại lại phát từ tâm, không tàn hại nhau, nhờ đó nhân loại được tăng dần sắc lực và thọ mệnh, từ 10 tuổi nay sống lên 20 tuổi. Trong lúc sống 20 tuổi lại suy nghĩ: “Chúng ta nhờ tu chút ít hạnh lành không tàn hại nhau mà thọ mệnh tăng lên 20 tuổi, có lẽ nên tu thêm ít nhiều điều lành nữa; nhưng nên tu điều lành gì? À, trước đã không sát sinh rồi, giờ ta nên đừng trộm cắp”; và do tu điều không trộm cắp mà thọ mệnh tăng lên 40 tuổi. Trong lúc sống 40 tuổi, lại suy nghĩ: “chúng ta nhờ tu chút ít lành mà thọ mệnh tăng lên, nay có lẽ ta nên tu thêm ít điều lành nữa; nhưng nên tu điều lành gì?À, ta nên tu điều không tà dâm”. Từ đó mọi người đều không tà dâm, và thọ mệnh tăng lên 80 tuổi. Cứ như thế do tu thêm điều “không nói dối” mà thọ mệnh tăng lên 160 tuổi, do tu thêm điều “không nói hai lưỡi” mà thọ mệnh tăng lên 320 tuổi, do tu thêm điều “ không nói ác” mà thọ mệnh tăng lên 640 tuổi, do tu thêm điều “không nói thêu dệt” mà thọ mệnh tăng lên 2 ngàn tuổi do tu thêm điều “không xan tham” mà thọ mệnh tăng lên 5 ngàn tuổi, do tu thêm điều “không tật đố, từ tâm” mà thọ mệnh tăng lên 1 vạn tuổi , do tu thêm điều “chánh kiến không điên đảo” mà thọ mệnh tăng lên 2 vạn tuổi, do trừ diệt thêm 3 pháp bất thiện là dâm phi pháp, tham phi pháp và tà kiến
 
 
 

* Trang 176 *
device

màthọ mệnh tăng lên 4 vạn tuổi, lại do bất hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ Sư trưởng mà thọ mệnh tăng lên 8 vạn tuổi.
         Trong lúc nhân loại sống 8 van tuổi, con gái đến 500 tuổi mới gả chồng, và có 9 thứ sinh ra là lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, tham dục, ham ăn và già lão. Cõi đất ấy bằng phẳng không có rạch hầm gò nỗng, gai gốc, cũng không mòng muỗi, rắn rết, trùng độc, còn ngói, đá, cát, gạch thì biến thành lưu ly, nhân dân sung túc, ngũ cốc rẻ thường, giàu vui không xiết tả. Có 8 vạn thành lớn đựng dựng lên , thôn thành san sát gần nhau, gà gáy cũng nghe được.
         Vào thời kỳ ấy thì có đức Phật ra đời hiệu là Di Lặc (Metteyya) Như Lai chí chân đẳng chánh giác, 10 hiệu đầy đủ, như đức Thích Ca Như Lai ngày nay không khác. Đức Di Lặc kia tự mình tu chứng ngay ở giữa hàng chư thiên, Đế thích, Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn, và nhân gian cũng như ta (Phật Thích Ca tự xưng) ngày nay tự mình tu chứng ở ngay giữa hàng Chư thiên, Đế thích, Ma hoặc Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn và nhân gian vậy.
         Đức Di Lặc sẽ thuyêt pháp, lời nói đầu và giữa và cuối cúng đều trọn lành, đầy đủ nghĩa vị, tịnh tu phạm hạnh như ngày nay ta thuyết pháp, lời nói đầu, giữa, cuối đều chân chánh, nghĩa vị đầy đủ, phạm hạnh thanh tịnh vậy.
 

* Trang 177 *
device

Đức Di Lặc có chúng đệ tử vô ngàn vạn, như ta ngày nay có đệ tử số ngàn. Nhân dân lúc ấy gọi đệ tử ngài là Từ Tử (1) như họ gọi đệ tử Ta nay là Thích Tử.
         Lúc ấy có vua tên là Tương khư (Sankha) thuộc dòng vua chúa Sát lỵ Chuyển luân thánh vương, cai trị 4 châu thiên hạ. Vua lấy chánh pháp trị dân, ai nấy đều mến phục. Vua có đủ 7 thứ báu là xe vàng, voi trắng, ngựa xanh, thần châu, ngọc nữ, cư sĩ, chủ binh và ngàn người con dõng mãnh hùng nghi, đủ sức dẹp ngoại địch, được 4 phương kính thuận, không cần binh đao mà thiên hạ thái bình.
         Vua thiết lập một Đại bảo tràng (2) chu vi 16 tầm cao 1 ngàn tầm, đủ ngàn sắc lẫn lộn trang nghiêm. – Bảo tàng có 100 thoi, mỗi thoi có trăm nhánh, dệt bằng chỉ báu, có các châu bảo xen lẫn. Sau khi lập bảo tràng để cúng thì hanhg Sa-môn, Bà-la-môn và người nghèo trong nước xong, vua cắt bỏ râu tóc, mặc 3 pháp y, xuất gia tu đạo, tập hạnh vô thượng, ngay trong pháp tu hiện tại, tự mình chứng ngộ, sanh tử dứt hết, phạm hạnh thành tựu, việc làm hoàn mãn, không còn phải chịu thân sau nữa.
         Phật dạy: “này các Tỷ-kheo! Các ông hãy siêng tu các thiện hạnh, nhờ tu thiện hạnh mà thọ
 
 
 
 
 
 
  1. Di Lặc, Trung hoa dịch là Từ Thi, nên đệ tử của ngài được gọi là Từ Tử.
  2. Đại bảo tàng là tràng phan cao lớn quý báu để bố cáo cho mọi người mỗi khi có cuộc bố thí, làm pháp sự gì…

* Trang 178 *
device

mệnh lâu dài, nhan sắc thêm tươi , an ổn khoái lạc, tài bảo phong nhiêu, oai lực đầy đủ, giống như các vua chuyển luân, hễ thuận làm theo cựu pháp của Chuyển luân thánh vương thời thọ mệnh lâu dài, nhan sắc thêm tươi, an ổn khoái lạc, tài bảo phong nhiêu, oai lực đầy đủ vậy.
         Thế nào gọi là Tỷ-kheo thọ mệnh lâu dài? – Là hàng Tỷ-kheo nlo tu tập Dục định (1), tinh cần không giải đãi, nhờ công hạnh diệt trừ hoặc nghiệp đó được thành tựu, nên đạt được thần túc, tiếp lại siêng năng tu tập tinh tấn, ý định, tư duy định, mà diệt được hoặc nghiệp đạt được thần túc. Như thế là Tỷ-kheo thọ mệnh lâu dài.
         Thế nào Tỷ-kheo được nhan sắc thêm tươi? Là hàng Tỷ-kheo khéo lo giữ giới luật đầy đủ, thành tựu oai nghi, thấy có tội nhỏ đã snah lòng sợ lớn, tu tập đủ các giới cấm. Như thế là Tỷ-kheo nhan sắc thêm tươi.
         Thế nào gọi là Tỷ-kheo được an ổn khoái lạc? Là hàng Tỷ-kheo lo đoạn trừ dâm dục, xa bỏ pháp bất thiện, đem tâm có giác có quán, xa lìa ái dục, phát sinh hỷ lạc, chứng đệ nhất thuyền; tiếp trừ diệt giác quán (2), với một sức tự tín, hoan lạc ở nội tâm, nhiếp niệm
 
 
 
 
(1)Dục định, tinh tấn, ý và tư duy là 4 thứ định mà tu được thì sẽ có thần thông nên cũng goi 4 món như ý túc.
(2)Giác quán cũng gọi là tầm tư. Suy tưởng một cách còn thô thiển gọi là giác, suy tưởng tỷ mỹ kỹ càng gọi là quán.

* Trang 179 *
device

chuyên nhất, không giác không quán, không định sanh hỷ lạc, chứng đẹ nhị thuyền; tiếp giữ vững một mực xả ly tướng “hỷ” là cái mừng thô động, chuyên niệm không loạn, nhờ đó tự cảm nhận có cái vui nhẹ nhàng phát sinh, cái vui mà hiền thánh đều mong muốn, rồi giữ vững cái vui ấy tức chứng đệ tam thuyền; tiếp diệt bỏ tướng khổ vui, trừ tâm lo mừng, chỉ còn giữ một niệm dửng dưng thanh tịnh ngoài vòng khổ vui, và giữ vững cái tâm ấy mà chứng đệ tứ thuyền. Như thế là Tỷ-kheo an ổn, khoái lạc.
         Thế nào gọi là Tỷ-kheo được tài bảo phong nhiêu? Là hàng Tỷ-kheo lo tu tập từ tâm, rải từ tâm ra khắp một phương, rồi đến các phương khác, rộng rãi cùng khắp, bình đẳng vô lượng để trừ một điều oán kiết cho chúng sinh, giữ tâm không chút tật đố, tịch mặc từ nhu; tiếp đên tu bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế. Như thế là Tỷ-kheo được tài bảo phong nhiêu.
         Thế nào gọi là Tỷ-kheo được oai lực đầy đủ? – Là hàng Tỷ-kheo hiểu biết một cách như thật về Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Như thế là Tỷ-kheo được oai lực đầy đủ. Này các Tỷ-kheo! Nay Ta xem khắp hàng Tỷ-kheo đã đoạn trừ hết hoặc lậu, thì lại thắng được chúng ma đó.
         Các Tỷ-kheo nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
 
*
 
 

* Trang 180 *
device

 
Kinh Trường A Hàm