LOGO VNBET
Vậy trong khi thấy sáng, cái thấy không phải là cái sáng; trong khi thấy tối, cái thấy không phải là cái tối, trong khi thấy các vật hữu hình, cái thấy không phải là các vật hữu hình; trong khi thấy hư không vô hình, cái thấy cũng không phải là cái hư không vô hình. Xét lên một tầng nữa, trong khi cái tánh thấy phát ra cái tác dụng thấy các vật tượng, thì cái tác dụng thấy các vật tượng đó, cũng chưa phải là cái thấy, huống nữa là vật tượng. Cái tánh đó không năng, không sở, không sanh, không diệt, ra ngoài các sự đối đãi, đâu còn có những tướng nhơn duyên, tự nhiên hay là hòa hiệp; chỗ đó nếu không nhận rõ, thì chẳng những không biết tánh thấy là chi, mà cũng không biết kiến tinh là chi, vì chỉ duyên một cái ảnh tượng giả dối nơi pháp trần mà thôi. Duyên với các tướng hư vọng, thì quyết định không nhận rõ được tánh thấy, nên Phật dạy phải suy xét đúng với sự thật, đặng chứng rõ thật tướng của các pháp, chớ không nên trễ nải trên con đường tu học Phật pháp.

Xin chỉ dạy cái nghĩa : nhận thấy tánh thấy không phải là cái thấy.
Ngài A-nan bạch Phật rằng : “Bạch Thế Tôn, như lời Phật vì chúng con chỉ dạy về nhơn duyên, tự nhiên, các tướng hòa hiệp và không hòa hiệp, tâm con còn chưa rõ; đến nay lại nghe cái nghĩa “nhận thấy tính thấy không phải là cái thấy” (1), thì lại càng thêm lúng túng, cúi xin Phật
______________________

1 Kiến kiến phi kiến : tùy theo căn cơ có nhiều nghĩa :



 

* Trang 271 *
device

thương xót (2) ban cho chúng con con mắt đại trí huệ (3) , chỉ bày cho chúng con cái tánh sáng suốt trong sạch của tâm tánh (4). Nói lời ấy rồi, khóc lóc đảnh lễ, vâng nghe lãnh thánh chỉ của Phật.
Khi bấy giờ, đức Thế Tôn thương xót Ông A-nan, cùng cả Đại chúng, định sẽ diễn bày phép Đại Tổng trì (đà-lani) (1), là con đường tu hành nhiệm mầu các pháp Tamma-đề (2), nên bảo A Nan rằng : Ông tuy nhớ lâu, song chỉ lợi ích về mặt học rộng, chớ về chỗ quán chiếu vi mật của phép Xa-ma-tha (3), tâm ông còn chưa rõ, ông hãy lắng tai
_______________________

a. Kiến tánh chi năng kiến phi kiến tánh : Nghĩa là kiến tánh phát ra kiến tinh và kiến duyên, tuy kiến tánh, kiến duyên vẫn một thể kiến tánh, song đã có chia rẻ, thì cái kiến tinh kia, đâu phải là kiến tánh.
b. Kiến thể chi kiến phần phi kiến thể : Nghĩa là tự thể phần chuyển biến ra kiến phần và tướng phần, song kiến phần đâu phải là tự thể phần.
c. Kiến kỳ năng kiến phi năng kiến : Nghĩa là chứng rõ cái năng kiến bản lai đồng một thể với cái sở kiến, thật không có gì đáng gọi là năng kiến. Cái tánh không năng không sở kia đâu phải là cái năng kiến.
d. Kiến kỳ kiến tánh phi kiến tinh : Nghĩa là khi chứng rõ kiến tánh không năng, không sở, thì kiến tánh đâu phải thật là kiến tinh. Bốn nghĩa ấy tùy cơ mà hiểu, nghĩa nào cũng đúng với chánh pháp cả.
2 Hoằng từ : Nghĩa là đức từ rộng lớn.
3 Đại huệ mục : Nghĩa là con mắt trạch pháp thù thắng, tức là cái trí lựa chọn chánh pháp rất sáng suốt.
(4) Giác tâm : Là cái tâm rõ biết. Về đoạn này hai chữ giác tâm riêng chỉ về cái chơn tinh hay cái chơn tâm.
(1) Đại đà-la-ni (Mahàdhàrani): Đại là lớn, Đà-la-ni là tiếng Phạm, Trung Hoa dịch là tổng trì; tổng trì hết thảy các pháp nên gọi là đà-la-ni. Phép đà-la-ni đây là phép Thủ Lăng Nghiêm.
(2) Tam ma đề (Samàdhi) : Trung Hoa dịch là đẳng trì tức là các quả của sự tu chánh định.
(3) Chỗ quán chiếu vi mật của phép Xa-ma-tha (Samatha) : Xa-ma-tha dịch là chỉ; tâm an trú nơi nhất cảnh, tâm duy một cảnh thì goi là xa-ma-tha; chỉ với quán có khác, song về lối tu liễu nghĩa, thì thường tịch thường chiếu, tịch chiếu bất nhị, chỉ với quán đồng tu một lần, chỉ tức là quán, quán tức chỉ là không thể rời nhau, nên định Thủ

 

* Trang 272 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm