LOGO VNBET
có lặn; nhận thức có tình dục, thì có bào thai; cho đến nhận thức có thay đổi, thì có hóa sinh, nhận thức có ngăn ngại, thì có loài hữu sắc.
Nói tóm lại, 12 loài chúng sinh, đều do tâm tính chịu sự huân tập của các vọng tưởng phân biệt điên đảo, mà biến hiện như huyễn, như hóa, không có thật thể; nếu biết tất cả đều do tự tâm biến hiện, thì khi sinh không có gì đáng gọi là sinh, khi diệt không có gì đáng gọi là diệt, điên đảo hết sạch, chân như hiện tiền, rồi mới rõ tâm tính bản lai là như vậy, không hề thay đổi, nơi chư Phật cũng không thêm, nơi chúng sinh cũng không bớt; chỉ vì cách dụng tâm sai lầm, làm cho chúng sinh giả dối, phải chịu luân hồi đau khổ, nên chư Phật từ bi chỉ dạy các phương tiện tu hành, để cho hết khổ, để cho trực nhận được tâm tính bình đẳng của nó, chứ không phải thật có cái chân phải tìm, thật có cái vọng phải bỏ.
*
(Quyển VIII)
Kết luận về bản nhân điên đảo để khởi mối cho ý nghĩa tiệm thứ tu tập.
 A-nan, như thị chúng sinh … cam lộ.
- Giải thích : Phật kết luận, do nhận thức mê lầm của chúng sinh, mà có những tâm niệm điên đảo, phân biệt ra có năng, có sở, có thân, có cảnh, có ngã, có pháp, có thời gian, có không gian, cho đến có 12 loài chúng sinh. Ví như dụi con mắt, thì đủ thứ hoa đốm sinh ra; khi chúng sinh

* Trang 539 *
device

dùng những vọng tưởng phân biệt, mà huân tập bản lai tự tính, thì bản lai tự tính theo sự huân tập đó hiện ra nhiều cảnh giới sai khác.
Nguyên do của việc biến hiện như thế là vọng tưởng. Tất cả cảnh giới, do vọng tưởng huân tập biến hiện ra, đều như cảnh chiêm bao, vốn không có gì. Nhận thức được tất cả sự vật biến hiện, đều chỉ là nhất tâm, không có sai khác, thì diệt trừ được vọng tưởng và chứng được bản lai tự tính; chừng đó mới biết bản lai tâm tính không sinh, không diệt, như như bình đẳng, nơi chư Phật cũng không thêm, nơi chúng sinh cũng không bớt và mới biết chúng sinh bản lai đã thành Phật rồi, bản lai không có hư vọng phải trừ, không có chân như phải chứng; điều cốt yếu, là phải chuyển nhận thức sai lầm, thành nhận thức đúng đắn mà thôi.
Song, vì tâm tính của chúng sinh bị huân tập lâu đời theo các vọng tưởng, nên cần phải huân tập lâu ngày theo chính pháp, mới lần lượt diệt trừ được những thói quen vọng tưởng; do đó, cần lập ra ba tiệm thứ, để gột rửa những thói quen hư vọng. Ba tiệm thứ này, không phải có những vị trí cố định và căn cơ của mỗi mỗi chúng sinh cũng khác nhau nhiều; có người thì đốn tu và đốn ngộ, có người thì đốn tu mà tiệm ngộ, có người thì tiệm tu mà đốn ngộ, có người thì tiệm tu và tiệm ngộ. Giác ngộ sâu hay cạn, tùy theo việc chuyển nhận thức sâu hay cạn; và việc chuyển nhận thức này, một phần lớn, cũng tùy sự huân tập theo chính pháp thật đúng đắn hay chưa thật đúng đắn.

 

* Trang 540 *
device

Phật ví dụ, tâm tính chúng sinh như một khí mảnh trong sạch, nhưng lại đựng mật độc vọng tưởng. Cần phải đổ hết mật độc vọng tưởng đi, dùng nước sôi và các thứ tro, các chất thơm, rửa khí mảnh cho sạch sẽ, nghĩa là, phải diệt trừ hết ngã chấp, pháp chấp, không còn mảy may vọng tưởng nữa, thì về sau mới có thể đựng nước cam lộ, tức là vô lượng công đức của chư Phật.
Khai thị ba tiệm thứ
 Vân hà danh vị … tu hành tiệm thứ.
- Giải thích : Muốn tiêu diệt hoàn toàn các vọng tưởng và đầy đủ vô lượng công đức, thì người tu hành có thể chia con đường tu làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là tu tập trừ những cái nhân giúp đỡ cho vọng tưởng tăng trưởng; giai đoạn thứ hai, là thuận theo chân tính mà tu hành, diệt trừ cội gốc của vọng tưởng; giai đoạn thứ ba, là tăng tiến tu hành, chuyển cái nghiệp dụng của chúng sinh, thành cái diệu dụng của chư Phật. Nếu giải thích ba giai đoạn này theo cái ví dụ “khí mảnh sạch, đựng mật độc” trước kia, thì giai đoạn đầu là giai đoạn tu tập đoạn trừ các niệm phân biệt, các phiền não, luôn luôn làm tăng trưởng những tư tưởng hư vọng của chúng sinh; nói một cách khác, là cần phải giữ giới luật Bồ-tát cho thật thanh tịnh, đi đến cái tâm thanh tịnh, đi đến cái tâm không sát, cái tâm không đạo, cái tâm không dâm, không vọng, cái tâm không tham, sân, si v.v…, bằng cách phát lòng chính tín, tu phép quán không, hay là phép như huyễn Tam-ma-đề, hết giai đoạn nầy, đã đổ hết mật độc, chỉ còn một ít dính trong khí mảnh mà thôi. Giai đoạn thứ hai, thì thuận theo chân tính mà tu

* Trang 541 *
device

hành, trừ bỏ cội gốc của vọng tưởng, bằng cách quán giả hoặc đi sâu vào như huyễn Tam-ma-đề. Trong giai đoạn này, phân biệt ngã chấp, phân biệt pháp chấp; tuy đã trừ hết, nhưng câu sinh ngã chấp, câu sinh pháp chấp vẫn còn, nên cần phải dùng chính quán luôn luôn huân tập tự tâm, để cho giống chính trí càng ngày, càng mạnh hẳn lên, đi đến ngăn chận hẳn, không cho câu sinh ngã chấp và câu sinh pháp chấp hiện hành nữa; đến khi cả hai chấp câu sinh đều diệt trừ, chỉ còn sở tri ngu vi tế, thì chứng được Nhất chân như tâm, lên Đệ bát địa.
Giai đoạn thứ ba, là giai đoạn tăng tiến tu hành, phát khởi cái diệu dụng của chân như, hiện thân trong các loài để hóa độ chúng sinh, chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển sinh diệt thành Niết-bàn, đi đến chứng được thật tướng của các pháp, đầy đủ vô lượng công đức và nhập một với pháp giới tính. Chừng đó, mới biết “phiền não tức Bồ-đề, chúng sinh tức Phật” là sự thật hiển nhiên, chứ không phải chỉ là những lý luận khuyến khích chúng sinh tu hành. Khi ấy, toàn thể nghiệp dụng mê lầm của chúng sinh, đều chuyển thành diệu dụng độ sinh của chư Phật và Nhất thiết chủng thức cũng chuyển thành Nhất thiết chủng trí.
Ý nghĩa của ba tiệm thứ thực tế là như vậy, nhưng lòng từ bi của Phật lại giải thích một cách đơn giản hơn, để giúp đỡ cho những căn cơ thấp kém, có thể lần lượt từng bước một, rồi cũng đi đến thành đạo chứng quả. Vì thế, về “trừ trợ nhân”, Phật dạy trước nhất, cần phải dứt khoát không ăn năm thứ rau cay là hành, hẹ, tỏi, mụa (nén) và

* Trang 542 *
device

và hưng cừ. Hưng cừ là một thứ củ ở Ấn Độ, mà người Ấn Độ thường dùng để làm đổi gia vị. Các giống rau cay này kích thích rất mạnh, ăn chín thì phát lòng dâm, ăn sống thì thêm lòng giận, lại thường làm cho người ăn đắm trước các vị, nên cần phải dứt bỏ.
Trong đoạn này, Phật có nhắc lại rằng, chúng sinh đều do bốn cách ăn mà sống. Bốn cách ấy là :
1. Đoàn thực : Ăn các đồ ăn rồi tiêu hóa, để bồi dưỡng thân thể.
2. Xúc thực : Là do các cảm xúc mà duy trì sự sống; xúc trần là cảnh của thân căn; căn và cảnh đối đãi với nhau mà có, nếu thiếu xúc trần, thì thân căn không thể tự mình được an toàn; vì thế, khi mất cảm xúc ở một bộ phận lớn của lớp da bọc thân thể, như khi bị phỏng da rộng, thì người ta phải chết.
3. Tư thực : Là nhờ tư tưởng mà duy trì sự sống. Vì thế, những người đau bệnh tương tư, mất hết hy vọng, không muốn sống nữa, thì thường phải chết.
4. Thức thực : Là cái Đệ bát thức duy trì sự sống còn của thân thể. Đệ bát thức là cái làm cho sống, nên khi Đệ bát thức rời bỏ thân thể, thì thân thể phải chết. Sự phân tách có bốn cách ăn như thế là rất tỉ mỉ; nó cắt nghĩa tại sao, nhiều người phải chết, trong lúc bộ máy thân thể vẫn còn có thể hoạt động như thường.
Về phần “nạo chính tính”, Phật dạy cần phải trì giới nghiêm chỉnh, nắm giữ cái thân không phạm, nắm giữ cái tâm không móng lên, làm cho thân tâm đều được thanh

 

* Trang 543 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm