LOGO VNBET
Phật khai thị hai nghĩa quyết định trong đường tu Đại thừa.

Ngài A-nan nghe Phật chỉ dạy, được ngộ tướng chơn thật của các pháp, ngộ được chơn tâm cùng khắp mười phương ba đời; nhưng tuy nơi lý thì đã giải ngộ rõ ràng, mà nơi sự thì không biết do đâu mà thật chứng; chẳng khác gì một người được người cho một cái nhà sơn, nhưng không biết cửa đâu mà vào. Vì vậy nhơn Phật khuyên bảo tu tập, ngài A-nan mới xin Phật khai thị phương pháp tu hành để dẹp trừ lòng phan duyên và chứng được tri kiến của Phật.
Trước khi thiết thực chỉ đường tu của Đại thừa, Phật nêu ra hai nghĩa quyết định, hai nghĩa ấy nếu thiếu một thì không thể chứng được tri kiến của Phật.
Nghĩa thứ nhất là cần phải xét kỹ chỗ phát tâm trong lúc tu nhơn và chỗ giác ngộ trong lúc chứng quả là đồng nhau hay khác nhau. Nếu như lấy cái sanh diệt làm cái nhơn tu hành thì quyết định không thể đặng cái quả bất sanh bất diệt.
Do lý nhơn quả, người tu hành cần phải xét tất cả các pháp giữa thế gian; cái gì đã có sanh tức là có diệt, đã có làm ra thì phải hư nát, duy có cái không sanh, không bị làm ra là không diệt, không hư nát mà thôi.
Chúng sinh trong lúc mê lầm, nhận tứ đại làm thân của mình (vật chất ngăn ngại là địa đại, hòa hiệp thấm ướt là thủy đại, sức nóng biến hóa là hỏa đại, sức mạnh lay động là phong đại) rồi nương theo thân phát sanh ra cảm giác, chia các chơn tâm thanh tịnh ra cái thấy, cái nghe, cái biết,

* Trang 386 *
device

cái xúc, che lấp chơn tánh thành ra năm lớp đục vẩn gọi là ngũ trược. Cũng như nước trong với đất bùn, thể tánh khác nhau, nên lấy đất bùn bỏ vào nước trong sạch, hòa ra thứ nước đục vẩn; chơn tâm thanh tịnh vốn không có phân biệt như tứ đại; đem chơn tâm mà buộc vào thân tứ đại thì nào khác chi lấy đất bùn mà quăng vào nước trong, nhơn đó thành ra năm lớp mê lầm gọi là ngũ trược.
1. Kiếp trược : Như khi chúng ta không phân biệt hình tướng sự vật thì chỉ thấy hư không; nhưng cũng đã chia ra hai phần : một phần tâm là thấy, một phần cảnh là hư không; đó là cái lớp mê lầm thứ nhất gọi là kiếp trược.
2. Kiến trược : Đến khi chúng ta đã nhận cái thân tứ đại này làm thân của mình, thì do sự đối đãi của thân này tạo thành cái vũ trụ có hình chất; cảnh đối với thân, thân đối với cảnh, sanh ra các cảm xúc; tuy chưa phân biệt sự này vật khác, nhưng nơi các vật có hình chất đã nhận cái thân là năng giác và cái cảnh là sở giác; đó là cái lớp mê lầm thứ hai gọi là kiến trược.
3. Phiền não trược : Thân đối với cảnh, cảnh đối với thân, thành ra các cảm xúc : ý thức lại nương theo các cảm xúc còn nhớ lại trong lúc quá khứ hiện phân biệt trong lúc hiện tại, trù định trước trong thời vị lai, tạo thành ra tánh cách ấy mà tạo cái tướng, mà đặt cái tên cho sự sự vật vật. Có tên có tướng rồi, ý thức nương theo đó chia ra những vật đáng ưa, những vật đáng ghét, phát ra những lòng tham, sân, si, mạn, làm cho tâm tánh mờ tối khổ sở; đó là cái lớp mê lầm thứ ba gọi là phiền não trược.

 

* Trang 387 *
device

4. Chúng sinh trược : Nhơn trót nhận cái thân là mình, trót nhận có cảnh vật đáng ưa, đáng ghét, nên dính chặt với thân thể, đắm chấp theo hoàn cảnh. Tuy tâm niệm sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, mãi mãi không dừng, nhưng mỗi niệm mỗi niệm đều ghi nhớ chuyện cũ, tiếp tục theo con đường mê lầm từ trước, trông mong sống mãi đặng giữ gìn cái hay biết ấy đời đời kiếp kiếp. Song thân thể có sanh thì có diệt, nghiệp báo có nhân thì có quả; cái thân đã có sống có chết, cái hay biết phân biệt cũng khó nỗi bảo toàn, nhơn đó thân này chết thì theo nghiệp thọ sanh đặng sống với thân khác, cái hay biết phân biệt này hết thời phát khởi cái hay biết phân biệt theo thân khác, luân hồi mãi mãi trong ba cõi : đó là cái lớp mê lầm thứ tư gọi là chúng sinh trược.
5. Mạng trược : Đã trót làm chúng sinh thì sống với thân nào là dính với thân ấy, thấy với mắt, nghe với lỗ tai, tuy bề trong vẫn đồng một tánh biết, nhưng bề ngoài bộ phận nào có chuyên trách bộ phận nấy, không thể đổi dời làm cho cái hay biết vô lượng vô biên của chơn tâm bị nghiệp báo hạn chế : đó là cái lớp mê lầm thứ năm gọi là mạng trược.
Ngày nay chúng ta đã biết các mê lầm làm cho chúng ta bị luân hồi khổ sở nhiều đời nhiều kiếp; vậy trước hết chúng ta cần phải bỏ hết các mê lầm ấy đi, và chỉ nương theo tánh bất sanh diệt của chơn tâm chúng ta mà tu trì thì mới nhận được cái tâm tánh viên mãn thanh tịnh của chúng ta; nhận được tánh ấy rồi, chúng ta nương theo tánh ấy mà dung hiệp tất cả các tâm niệm sanh diệt về nơi giác

 

* Trang 388 *
device

tánh để chứng được cái bản tánh, bất sanh bất diệt. Lấy cái bản tánh bất sanh bất diệt làm cái nơi nhơn địa thì về sau mới có thể tu chứng đến cái quả viên mãn thường trú của chư Phật. Chúng ta tu hành như vậy chẳng khác gì người lóng nước đục, lấy nước đựng vào trong ly, để yên một chỗ, để yên mãi không hề lay động, thì bùn đất tự chìm xuống, nước trong tự hiện ra; khi đó tức đã bắt đầu dẹp được khách trần phiền não; Đến khi gạn bùn bỏ hết, chỉ toàn nước trong, thì đã đoạn hết cái gốc vô minh; đã đoạn hết vô minh thì dù biến hiện điều gì cũng không thể sanh ra phiền não và đều hiệp với đức tánh nhiệm mầu thanh tịnh của chư Phật; cũng như nước đã gạn bùn rồi thì dù lay động đến đâu cũng không thể hóa thành nước đục.
 *
“Cái nghĩa thứ hai là các Ông chắc muốn phát Bồ-đề tâm đối với Bồ-tát thừa, sanh lòng rất mạnh mẽ quyết định bỏ hết các tướng hữu vi, thì nên xét kỹ cội gốc  phiền não,xét chính nơi phát nghiệp (vọng động mà phát ra nghiệp dụng là phát nghiệp vô minh), nhuận sanh (đắm chấp ưa ghét, là nước tưới cây vô minh đâm chồi mọc nhánh nên gọi là nhuận sanh vô minh), từ vô thủy đến nay là ai làm ai chịu.
Này A-nan, Ông tu đạo Bồ-đề, nếu không xét rõ cội gốc phiền não thì không thể biết chỗ nào là chỗ điên đảo của các căn trần luống dối; cái chỗ còn không biết thì làm sao hàng phục được những điên đảo mà đến địa vị Như Lai.
Này A-nan, Ông xem những người mở gút trong thế gian, nếu không thấy gút ở chỗ nào thì làm sao biết mở;

 

* Trang 389 *
device

nhưng ông chưa nghe hư không bị ông làm hư nát, vì cớ sao? Vì hư không không hình tướng, không cột, không mở. Thì nay hiện tiền sáu căn nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý của Ông làm mối cho giặc, tự cướp gia bảo của Ông, do nơi đó mà từ vô thủy sanh các ràng buộc nơi chúng sinh thế giới, làm cho không thể vượt khỏi khí thế gian (thế gian có vật này vật khác).
Này A-nan, thế nào gọi là chúng sinh, thế giới ? Thế là thiên lưu (tiếp tục đổi dời) giới là phương vị (địa vị phương hướng), nay Ông nên biết phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới và giới; quá khứ, vị lai, hiện tại là thế; phương vị thì có mười số, thiên lưu thì có ba; hết thảy chúng sinh dệt các vọng mà thành (vọng thân, vọng cảnh), nơi sự dời đổi trong thân thể và giới can thiệp cùng nhau. Mà cái tánh của cái giới ấy tuy là mười phương, song những địa vị nhất định có thể chỉ rõ, thì trong thế gian chỉ nhận phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc; phía trên, phía dưới thì không có vị, phía giữa thì không chỗ nhất định. Số bốn đã rõ rồi, giao thiệp cùng với tam thế, ba lần bốn, bốn lần ba, xoay vần được số mười hai : lưu biến ba lần, một thành trăm, mười thành ngàn, tóm quát đầu đuôi, trong mỗi mỗi căn có thể được đến một ngàn hai trăm công đức.
Này A-nan, trong ấy Ông lại xét định chỗ hơn chỗ kém. Như con mắt xem thấy, phía sau tối, phía trước sáng; phía trước toàn sáng, phía sau toàn tối; ngó xiên hai bên, ba phần chỉ thấy được hai phần; tóm xét chỗ làm công đức

 

* Trang 390 *
device

không trọn; trong ba phần công đức đã nói trên kia, một phần thật không công đức; vậy nên biết nhãn căn chỉ có tám trăm công đức. Như lỗ tai nghe khắp mười phương không sót; động thì in tuồng gần xa, tịnh thì không có ngằn mé, nên biết nhĩ căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Như lỗ mũi ngửi hương, suốt cả khi thở ra khi thở vào; khi thở ra thở vào thì có, mà khi hai cái hơi thở đương giao tiếp thì không; nghiệm nơi tỉ căn, ba phần
thiếu một, vậy nên biết tỉ căn chỉ có tám trăm công đức.
Như cái lưỡi phô bày suốt cả các trí thế gian và xuất thế gian; lời nói có chừng hạn, nhưng lý không cùng tột; vậy nên biết thiệt căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Như cái thân biết các cảm xúc thuận nghịch, khi hiệp lại thì biết, khi rời ra thì có một, khi hiệp lại thì hai phần; nghiệm nơi thân căn, ba phần thiếu một, vậy nên biết thân căn có tám trăm công đức.
Như cái ý thậm thâm dung nạp hết thảy các pháp thế gian trong mười phương ba đời, cả Thánh cả phàm, không pháp gì không bao dung cùng tột ngằn mé; vậy nên biết ý căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Này A-nan, Ông nay muốn ngược dòng sanh tử, xoay về cho một cội gốc lưu chuyển, đến chỗ bất sanh diệt, thì nên nghiệm trong sáu căn hiện đương thọ dụng ấy, cái gì là hiệp, cái gì là ly, cái gì là sâu, cái gì là cạn, cái gì là viên thông (viên mãn thông suốt) cái gì là không viên mãn.
Nếu Ông có thể ngộ được cái căn viên thông nơi ấy, trở ngược cái dòng nghiệp dệt vọng từ vô thủy kia, đặng theo

* Trang 391 *
device

tánh viên thông, thì hiệu quả tu hành đối với cái căn không viên thông xấp bội nhau, như một kiếp đối với một ngày.
Ta nay đã chỉ đủ số lượng công đức của sáu căn như vậy, Ông nên tùy ý lựa chọn đành rành; nên do căn nào ngộ được tánh viên thông, Ta sẽ chỉ vẽ rõ ràng để cho Ông tu hành tinh tấn.
Các đức Như Lai mười phương, nơi thập bát giới, tu giới nào cũng đều viên mãn Vô thượng Bồ-đề, trong ấy không có gì là hơn là kém; chỉ vì căn cơ Ông thấp thôi, chưa có thể viên mãn trí huệ tự tại trong ấy được, nên Ta chỉ bảo Ông phải theo một căn môn mà giác ngộ cho triệt để; giác ngộ nơi một căn môn không còn vọng tưởng, thì sáu căn khác kia đồng một thời đều được thanh tịnh.
*
Phật dạy nghĩa quyết định thứ nhất, đã chỉ rõ thập phương chư Phật chứng quả Bồ-đề, đều lấy cái không sanh diệt làm cái nhơn tu hành, thì về sau mới được quả thường trú; còn chúng sinh vì lấy cái sanh diệt làm nhơn nên phải luân hồi tam giới. Xưa nay lắm người không biết chỗ ấy, chỉ ở nơi vọng tâm sanh diệt mà tu trì, không biết rèn luyện tâm tánh hằng ngày, không biết đổi thói quen mê lầm sanh diệt thành thói quen giác ngộ không sanh diệt thật không khác gì người trong chiêm bao nói chuyện chiêm bao, khó bề chứng đặng thánh quả. Vậy trừ các bậc tái lai mới nghe một câu kệ đã giác ngộ hoàn toàn, những người tu hành đều cần hằng ngày quyết nhận cái không sanh diệt làm tâm tánh của mình, cho đến khi thật chứng
 

* Trang 392 *
device

tánh không sanh diệt ấy để làm chỗ tu nhơn, thì về sau mới chắc được kết quả thường trú.
Còn nghĩa quyết định thứ hai là cần phải xét rõ cội gốc mê lầm mà lựa bỏ cho hết, để cho tâm tánh viên mãn sáng suốt.
Cũng như ở giữa đời, người nào bị trói hai chân, muốn mở trói phải do nơi gút mà mở; nếu không biết cái gút ở chỗ nào, dù hết sức kéo qua kéo lại cũng không thể mở được. Chúng ta hiện bị phiền não ràng buộc, thì cần phải xét tìm đầu dây mối nhợ cho rõ ràng, chính nơi cái gút mà mở mới khỏi ràng buộc. Đầu dây mối nhợ của các phiền não chính là vô minh; chúng ta nên xét từ nơi phát nghiệp vô minh cho đến nhuận sanh vô minh, hẳn thật ai làm ai chịu.
Phát nghiệp vô minh là vọng động phân biệt; nhuận sanh vô minh là ưa ghét cố chấp. Chúng ta nên xét kỹ nơi sáu căn trần đối diện cùng nhau, thế nào là vọng động phân biệt, thế nào là ưa ghét cố chấp, đặng mở cái gút ấy ra, thì mới có thể lần đến địa vị không cột không mở và chứng được tâm tánh bản lai thanh tịnh.
Hiện nay, vì sáu căn của chúng ta tiếp xúc với sáu trần sanh ra các sự phân biệt, các điều ràng buộc, làm cho chúng ta phải luân hồi nhiều đời nhiều kiếp; chúng ta cần nên xét rõ công năng hiện tiền của sáu căn chúng ta ra thế nào; rồi chính nơi một căn, quyết trái ngược lại cáigiòng mê lầm sanh diệt, cho đến chỗ không sanh diệt để làm cái nhơn tu tập. Muốn cho đệ tử lựa chọn một căn mà tu trì, Phật dạy cho biết : nhãn căn có 800 công đức, nhĩ căn có

 

* Trang 393 *
device

1200 công đức, tỷ căn có 800 công đức, thiệt căn có 1200 công đức, thân căn có 800 công đức, ý căn có 1200 công đức.
Về thiệt căn, Phật không lấy tánh biết vị mà lấy sự phô bày ý kiến bằng lời nói, là muốn riêng chỉ cái dụng rộng lớn của thiệt căn, vì tánh biết vị chỉ được độ 800
công đức mà thôi.
Nhưng tuy chỗ thụ dụng hiện thời có khác, mà bản tánh của sáu căn thật không khác; người tu hành diệt trừ được các tướng mê lầm rồi, thì căn nào cũng viên thông, không có hơn kém. Nếu trừ được các tướng mê lầm, nhận được cái căn tánh viên thông và theo tánh viên thông mà tu hành, thì đường tu chứng rất mau có hiệu quả.
Trong sáu căn chỉ cần tu nơi một căn; trừ được cội gốc mê lầm nơi một căn thì sáu căn đều được thanh tịnh cả.
 *
Ông A-nan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, làm sao ngược dòng mê lầm, chứng rõ nơi một căn, lại có thể làm cho sáu căn đồng thời đều đặng thanh tịnh ?”
Phật bảo A-nan : “Ông nay đã đặng quả Tu-đà-hoàn, đã diệt trừ được kiến sở đoạn hoặc (các sự mê lầm được diệt trừ trong lúc kiến đạo) của chúng sinh thế gian trong ba cõi, nhưng Ông còn chưa biết các tập khí hư vọng vô thỉ, chứa nhóm phát khởi trong các căn; các tập khí kia cốt phải nhờ tu đạo mới đoạn được, huống chi các tướng sanh trú dị diệt, phân ra bằng chừng ấy số mục ở trong đó.

 

* Trang 394 *
device

Nay Ông hãy xét hiện sáu căn đó là một hay là sáu. Này A-nan, nếu như nói là một thì lỗ tai tại sao không thấy, con mắt sao không nghe, đầu sao không đi, chân sao không nói. Còn nếu sáu căn ấy quyết định là sáu, vậy như trong Hội này, khi Ta chỉ dạy các pháp môn nhiệm mầu cho Ông, thì trong sáu căn của ông, cái gì đến lãnh thọ ?”
Ông A-nan đáp : “Con dùng lỗ tai mà nghe.”
Phật dạy : “Lỗ tai Ông tự nghe, có dính dấp gì đến thân, đến miệng của ông, mà cái miệng lại hỏi nghĩa và cái thân thì đứng dậy cung kính vâng lời ? Vậy Ông nên biết rằng : Chẳng phải là một mà sau thành ra sáu, cũng không phải là sáu mà sáu thành ra một, hay vốn là sáu. Này A-nan, Ông nên biết cái căn ấy không phải một, không phải sáu, chỉ vì sự đắm chấp trái ngược từ vô thủy nên nơi tánh viên trạm (cùng khắp yên lặng) có những nghĩa một, nghĩa sáu sanh ra. Ông nay được quả Tu-đà-hoàn, tuy đã tiêu đặng cái sáu rồi, mà còn chưa quên cái một.
Tánh viên trạm cũng như thái hư không tham hiệp với các khí mảnh, do hình khí mảnh khác nhau mà gọi là hư không khác nhau; bỏ khí mảnh mà xem hư không; thì nơi hư không là một, chớ cái thái hư không kia làm sao vì Ông mà thành đồng hay không đồng, huống nữa là gọi rằng một hay không phải một !
Sáu căn hay biết hiện Ông đương thọ dụng cũng in như vậy; do hai thứ, như sáng và tối, phát hiện ra nhau trong tánh diệu viên, làm dính tánh trạm (tánh đứng lặng) phát ra cái thấy; tánh thấy đối chiếu với sắc, kết cái sắc thành

* Trang 395 *
device

thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại (giống tứ đại vô hình) nhơn gọi dáng của nhãn căn như trái bồ đào; sáu trần của phù căn (căn thịt) dong ruỗi chạy theo sắc.
Do hai thứ như động và tịnh, phát khởi ra nhau trong tánh diệu viên, làm dính dáng trạm phát ra cái nghe; tánh nghe đối chiếu với tiếng, cuốn cái tiếng thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại, nhơn gọi dáng của nhĩ căn như lá mới cuốn; bốn trần của phù căn dong ruỗi chạy theo tiếng.
Do hai thứ thông và tắt, phát khởi ra nhau trong tánh diệu viên, làm dính tánh trạm, phát ra cái ngửi; tánh ngửi đối chiếu với hương, lãnh nạp cái hương thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại, nhơn gọi dáng tỷ căn như hai móng tay chỉ xuống; bốn trần của phù căn dong ruỗi chạy theo hương.
Do hai thứ như điềm (không vị) và biến (có vị) tham hiệp cùng nhau trong tánh diệu viên, làm dính tánh trạm, phát ra cái nếm, tánh nếm đối chiếu với vị; thưởng cái vị thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại, nhơn gọi dáng của thiệt căn như mặt trăng mới khuyết; bốn trần của thiệt căn dong ruỗi chạy theo vị.
Nhơn hai thứ ly và hiệp, can thiệp cùng nhau trong tánh diệu viên, làm dính tánh Trạm, phát ra cái biết xúc; tánh biết ấy đối chiếu với xúc, nắm cái xúc thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại, nhơn gọi dáng của thân căn như dáng trống lưng; bốn trần của phù căn dong ruỗi chạy theo xúc.

 

* Trang 396 *
device

Do hai thứ như sanh và diệt, tiếp tục với nhau trong tánh diệu viên, làm dính tánh Trạm, phát ra cái biết; tánh biết đối chiếu với pháp, ôm cái pháp thành ra căn; gốc của căn thì cho là thanh tịnh tứ đại, nhơn gọi ý tứ như thấy trong phòng tối; bốn trần của phù căn dong ruỗi chạy theo pháp.
Này A-nan, sáu căn như vậy, do tánh giác minh (tánh minh của bản giác) kia có phát minh ra minh giác (lấy cái minh làm giác ngộ là minh giác) làm mất tánh tịnh liễu (tánh giác minh), dính tánh Trạm mà phát ra cái biết; vậy nên ông hiện nay rời cái tối rời cái sáng thì không có tánh thấy; rời cái động rời cái tịnh thì không có tánh nghe; không có thông, không có tắc (nghẹt) thì tánh ngửi không sanh; không có điềm (không vị) không có biến (có vị) thì tánh nếm không phát ra; không có ly (rời ra) không có hiệp thì tánh biết xúc vốn không; không có diệt không có sanh, thì tánh hay biết không biết là đâu nữa.
Ông chỉ không thuận theo 12 tướng hữu vi : động, tịnh, hiệp, ly, điềm, biến, thông, tắt, sanh, diệt, sáng, tối như kia; do đó rút một căn ra cho khỏi dính và trở vào trong; trở về tánh bản chân phát ra tánh sáng suốt bản lai; tánh sáng suốt đã phát minh thì năm chỗ dính khác kia đều được viên thoát (hết dính); không do tiền trần mà khởi ra hay biết; thì cái sáng suốt không theo với căn, chỉ gá nơi căn mà sáng suốt phát hiện; do đó sáu căn xoay đổi dùng thế nào cho nhau được.
Này A-nan, Ông há không biết hiện trong Hội này, ông A-na-luật-đà mù mắt mà thấy, rồng Bạt-nan-đà không tai mà nghe, thần nữ Căng-già không mũi mà biết hương, ông

* Trang 397 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm