LOGO VNBET
Bảo giác chắc như Kim cang vương,
Không nhiễm tịnh như Diệu liên hoa,
Gảy móng tay vượt hàng Vô học.
Cái pháp không thể so sánh ấy,
Là đường vào Niết-bàn duy nhất,
Của các đức Thế Tôn mười phương”.
*
Phật dạy triền phược và giải thoát không hai

 
Ngài A-nan tuy nhờ Phật dạy, biết hiện sẵn có tánh chơn thường nơi sáu căn, nhưng tự xét phàm muốn dứt trừ cội gốc phiền não chứng tánh viên thường, trước cần phải phân biệt nguồn gốc triền phược một cách rõ ràng, rồi mới mong gỡ ra các điều triền phược và được giải thoát. Cũng như một người bị trói, muốn mở trói thì trước hết phải biết đường gút ở chỗ nào; nếu không biết đầu gút, dằng bậy kéo càng thì chỉ thêm nhọc nhằn mà rốt cuộc không thể mở trói. Hiện ngài A-nan và Đại chúng cũng vậy; tuy nhận hiểu tâm tánh, nhưng thói quen mê lầm nhiều đời nhiều kiếp vẫn đồng sanh đồng diệt với tâm niệm, nên dẫu giải ngộ Phật pháp mà vừa giác đã mê, chưa được giải thoát; như người đau rét cách ngày, dù không đau luôn nhưng thật chưa lúc nào lành mạnh hẳn.
Nhơn đó ngài A-nan và Đại chúng xin Phật từ bi khai thị cho biết nguồn gốc triền phược của thân tâm hiện ở nơi nào ? Và do đâu trừ hết triền phược và được giải thoát.
Phật vì thương xót Đại chúng và tất cả chúng sinh trong đời vị lai, muốn chỉ rõ chỗ bí yếu trong đường tu

 

* Trang 410 *
device

hành Phật pháp, nên lấy tay rờ đầu ngài A-nan, phát hiện thắng lực làm rung động cả vũ trụ và làm cho Đại chúng thấy thập phương chư Phật đồng phóng hào quang, từ các thế giới đến rừng Kỳ-đà, rọi đảnh đức Phật Thích Ca, tỏ rằng các đức Phật đồng một chánh đạo, đồng một đại Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm tam muội, không hai không khác. Đại chúng lại nghe thập phương chư Phật đồng dạy một lời rằng : “A-nan, muốn biết cu sanh vô minh làm cho Ông bị ràng buộc trong đường luân hồi sanh tử thì nó chỉ là sáu căn của Ông chớ không phải vật gì khác; Ông lại muốn biết cái Vô thượng Bồ-đề làm cho Ông an vui diệu thường thanh tịnh thường trú như chư Phậ, thì nó cũng chỉ là sáu căn của Ông, chớ không phải vật gì khác”.
Thập phương chư Phật dạy như vậy, cốt để ông A Nan nhận biết cội gốc mê lầm hiện tại, đừng loanh quanh lẩn quẩn tìm đầu dây mối nhợ nơi khác. Chư Phật dạy chính sáu căn hiện tiền là cu sanh vô minh, và cũng chính vì nó là cu sanh vô minh nên nó cũng tức là Vô thượng Bồ-đề. Như giá tức là nước, nước tức là giá, không có sai khác.
Cội nguồn từ vô thỉ, chúng sinh theo dòng sanh diệt, bỏ tánh viên thường, đắm chấp sanh ra phiền não mê lầm, nên không phải căn cũng gọi là căn, không phải trần cũng gọi là trần, không phải thức cũng gọi là thức, mà không nhận toàn thể các pháp đồng là Như Lai tạng tánh. Nếu chính nơi căn trần thức ấy, chúng sinh nhận rõ các pháp đều duyên nhau mà phát khởi, không có sai khác, thì toàn thể đều tức là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng. Hễ chính chỗ mê mà hết mê tức là ngộ, không cần tìm đâu xa nữa.

 

* Trang 411 *
device

Do đó nên pháp nào cũng là cu sanh vô minh, pháp nào cũng là Vô thượng Bồ-đề; miễn nơi một pháp, nhận được cái mê lầm mà bỏ di, đó tức là giác; mà đã giác thì toàn thể các pháp, dù căn, dù trần, dù thức, đều là Như Lai tạng tánh, không sai không khác.
Song đối với ngài A-nan là bậc Đa văn, đối với chúng sinh ở cõi Ta bà, đem tánh nghe mà lãnh thọ Phật pháp, thập phương như Phật tùy duyên hóa độ mà chỉ pháp duy căn; thật ra duy căn, duy trần, duy thức, đều tức là Như Lai tạng tánh.
Ngài A-nan chưa rõ lý duy căn, nhờ Phật từ bi khai thị thì Phật dạy rằng : Sáu căn sáu trần đồng một nguồn Như Lai tạng tánh, tùy duyên biến hiện; chúng sinh không biết là đồng một Như Lai tạng tánh, vọng chấp căn là năng tri, trần là sở tri, sanh ra phân biệt chấp trước thì gọi là ràng buộc; các đức Như Lai rõ được căn trần đồng một Như Lai tạng tánh, không chấp căn là năng, trần là sở, chính nơi phân biệt là sự giải thoát; nhưng dù giải thoát, dù ràng buộc cũng không ngoài Như Lai tạng tánh, nên cũng không hai không khác.
Xét cho kỹ thì căn và trần đối đãi với nhau mà thành; ngoài căn có gì đáng gọi là trần, ngoài trần có gì đáng gọi là căn, căn và trần đều không tự tánh, đều như huyễn như hóa, không phải thật có, chỉ do Như Lai tạng bất biến tùy duyên mà phát khởi. Căn và trần đã không thành năng thành sở thì cái thức nương theo căn trần mà phát hiện, quyết không phải thật có và cũng chỉ là Như Lai tạng tánh.

 

* Trang 412 *
device

Song Như Lai tạng tánh bất biến tùy duyên hiện ra căn trần thức, vẫn không có gì đáng chia rẽ phân biệt; vậy cái thức phân biệt vốn là hư vọng như hoa đốm giữa hư không. Biết căn và trần đối đãi thành lập như hình lau gác nhau, như huyễn như hóa thì nhận được cái thức Phân biệt là hư vọng và toàn thể các pháp đều tức là sự tùy duyên biểu hiện của Như Lai tạng tánh.
Vậy nếu chính nơi tri kiến tùy duyên biến hiện ấy, lập ra có năng minh, sở minh tức là cội gốc vô minh; còn nếu nơi tri kiến ấy mà không có phân biệt, không có năng hay sở, thì tức là thanh tịnh Niết-bàn; vô minh cũng nơi nấy, Niết-bàn cũng nơi ấy, triền phược cũng nơi ấy, giải thoát cũng nơi ấy, đâu phải có điều gì khác”.
Về sau đức Thế Tôn đọc một bài kệ để nói lại nghĩa ấy cho rõ. Bài kệ này tóm tắt diệu lý của toàn bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm nên cũng có thể gọi là câu chú Thủ Lăng Nghiêm của Hiển giáo.
Bốn câu kệ đầu :
“Nơi chơn tánh, hữu vi là không,
Vì duyên sanh nên in như huyễn,
Vô vi vì không sanh không diệt,
Chẳng thật như hoa đốm hư không.”
cốt chỉ rõ rằng chơn tánh của các pháp hữu vi và vô vi là không thật có.
1. Pháp hữu vi tức là pháp do duyên giả hợp mà thành, không có thật thể, vì pháp đó là duyên sanh nên in như các đồ huyễn.

 

* Trang 413 *
device

2. Pháp vô vi cũng chẳng thật, vì nó không sanh không diệt như hoa đốm giữa hư không.
Pháp hữu vi gồm cả các pháp thế gian, pháp vô vi gồm cả các pháp xuất thế gian, thì đủ rõ các pháp đều không tự tánh.
Hai câu kệ sau :
“Nói vọng để chỉ rõ cái chơn.
Vọng chơn ấy, cả hai đồng vọng.”
cốt để chỉ rõ chơn tánh mà Phật đã dạy đó là chơn tánh tuyệt đối, chứ đối với vọng mà nói là chơn thì cái chơn ấy cũng là pháp đối đãi; mà đã là pháp đối đãi thì chẳng những vọng là vọng, mà cái chơn ấy cũng là vọng.
Còn bốn câu sau nữa :
“Còn không phải chơn với phi chơn
Làm sao có năng kiến sở kiến,
Thức ở giữa không có thật tánh
Vậy in như hình lau gác nhau.”
cốt chỉ rõ diệu chơn như tánh là tuyệt đối, còn không phải là chơn hay phi chơn, sao còn có được cái căn năng kiến và cái trần sở kiến; nội căn ngoại trần đã không, thì cái thức chặng giữa cũng không, tất cả đều không thật tánh; như hình lau gác nhau, tuy in tuồng có hình trạng, nhưng một cây lau lay động đã thay đổi hình khác, không có gì là chắc thật.
Sáu câu kệ sau :

 

* Trang 414 *
device

“Cột và mở đồng một sở nhơn,
Thánh và phàm không có hai đường,
Ông hãy xét tánh hình lau gác,
Đâu phải là có hay là không
Mê mờ đó tức là vô minh,
Phát minh ra liền được giải thoát.”
cốt chỉ rõ là căn, trần, thức đã không tự tánh, thì dù ràng buộc hay giải thoát cũng đồng nhơn nơi ấy, và dù Thánh hay phàm cũng không phải hai đường. Thử xét lại căn tánh của hình lau gác nhau : nói rằng không thì không đúng, mà nói rằng có thì lấy gì làm thật có; không phải có, không phải không, tức là lý Trung đạo. Mê mờ cái lý ấy, chấp là có, chấp là không thì bị ràng buộc, thì gọi là vô minh; phát minh cái lý ấy, ra ngoài các sự có không, tức là giải thoát. Vô minh là phàm, giải thoát là Thánh; nhưng phàm dẫu mê, chơn tánh cũng không bớt; Thánh dẫu ngộ, chơn tánh cũng không thêm; chơn tánh vẫn y nguyên, không hề sai khác.
Trong bốn câu sau :
“Mở gút phải nhơn theo thứ lớp,
Mở cả sáu thì một cũng quên,
Nơi căn lựa chơn tánh viên thông,
Nhập lưu thì thành bậc Chánh giác.”
Phật chỉ dạy tuy chơn tánh không hề sai khác mà đã có cột tức phải tu hành phương tiện mà mở; về lý tuy có thể ngộ liền, về sự thì phải tuần tự mà bước tới; cứ theo lớp mà mở lần, từ lớp thô phù cho đến lớp vi tế; mở được cả sáu là hết vọng, quên luôn cái một là không chơn; chính nơi sáu căn

* Trang 415 *
device

nhận cho được tánh viên thông, tức là vào được giòng pháp tánh mà thành bậc Chánh giác.
Về bốn câu sau nữa :
“Thức Đà-na vi tế khó nhận,
Giòng tập khí thành giòng nước dốc
E mê là chơn hay phi chơn
Nên ta thường chẳng khai diễn đến.”
Phật chỉ rõ đệ Bát A-đà-na thức, huân tập về các vọng tưởng đã lâu đời, cầu phải nương theo chánh pháp luôn luôn khởi các chánh niệm để đối trị các tập khí hư vọng, mới chắc được giải thoát; nên tuy về lý có thể ngộ liền mà về sự phải lần lần tu tập mới được. đệ Bát thức chấp trì tất cả chủng tử, biến hiện tất cả các pháp, viên dung cùng khắp, không phải ngã mà tức là tâm, không phân biệt mà thật có biết, nên Phật ít khi khai diễn đến, vì e chúng sinh mê là vọng ngã mà bỏ hẳn đi tìm nơi khác. A-đà-na-thức cũng như dòng nước, tất cả các pháp cũng như sóng, chơn tánh cũng như tánh nước; nói là chơn thì chính nó là cội gốc sanh tử, chính nó hiện đương sôi nổi các sóng hư vọng, nhưng nói là phi chơn thì ngoài giòng nước ra tìm sao cho đặng tánh nước.
Năm câu sau :
“Tự tâm lại chấp lấy tự tâm
Tánh phi huyễn mới thành pháp huyễn
Không chấp trước thì không phi huyễn
Phi huyễn mà còn không sanh thay
Pháp huyễn làm sao an lập được.”

* Trang 416 *
device

cốt chỉ rõ tuy đương mê cần phải tu tập, nhưng thật ra chơn tánh dĩ nhiên, chỉ vì tự tâm trở lại duyên lấy tự tâm mà cho là ngoại cảnh, nên bản tánh phi huyễn mới thành các sự vật huyễn hóa. Nên người tu hành rõ biết hết thảy các pháp đều không tự tánh, đều là Như Lai tạng tánh không sanh chấp trước; cái tướng phi huyễn còn không sanh, huống nữa còn lập được những pháp huyễn hóa !
Trong bảy câu kệ sau :
“Ấy gọi như huyễn Tam-ma-đề
Bảo giác chắc như Kim Cang vương,
Không nhiễm tịnh như Diệu liên hoa
Gảy móng tay vượt hàng Vô học.
Cái pháp không gì so sánh ấy,
Là đường vào Niết-bàn duy nhất,
Của các đức Thế Tôn mười phương.”
Phật chỉ danh hiệu và diệu dụng của pháp Thủ Lăng Nghiêm Tam muội. Pháp ấy gọi ấy là Như huyễn tamma-đề; lấy tánh như huyễn mà gồm tóm tất cả các pháp hữu vi và vô vi, an trú nơi Trung đạo, nên gọi là như huyễn Tam-ma-đề. Pháp ấy tức là Diệu Trí Bát-nhã, cũng cứng chắc như Kim Cang vương, đụng cái hữu thì cái hữu tận, đụng cái không thì cái không mất, nên gọi là Kim Cang vương Bửu giác. Lại pháp ấy không an trú hữu vi, không an trú vô vi, không có nhiễm tịnh, như hoa sen sanh dưới bùn mà không dính bùn, nên gọi là Diệu Liên Hoa. Tu theo pháp ấy không đọa sanh tử, không lạc Nhị thừa nên gảy móng tay đã vượt biết Phật tánh trên các bậc Vô học A-la-hán. Pháp ấy là cái pháp tuyệt đối,
 

* Trang 417 *
device

không thể so sánh và không có gì so sánh, là con đường độc nhất vào cửa Niết-bàn của thập phương chư Phật; ngoài cái pháp Trung đạo ấy ra, quyết định không thể thành được quả Phật.
*
Bấy giờ Tôn giả A-nan và cả Đại chúng nghe lời từ bi dạy bảo của Phật, kệ tụng, xen lộn, đạo lý trong suốt, nên tâm trí khai ngộ, đồng tán thán là pháp chưa từng có.
Tôn giả A-nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật : con nay nghe được pháp chơn thật, vô giá Đại Bi, tánh tịnh diệu thường của Phật, song tâm còn chưa rõ thứ lớp mở gút, trong khi mở cả sáu mà quên cái một, xin Phật từ bi thương xót trong đại hội này và những kẻ tương lai, bố thí cho pháp âm để rửa sạch chỗ cấu nhiễm trầm trọng của chúng con.
Liền khi ấy, đức Như Lai, nơi Sư tử tọa, sửa áo Niếtbàn tăng, kéo áo Tăng-già-lê, vịn ghế Thất Bảo, đưa tay nơi ghế, lấy cái khăn bông của cõi trời Kiếp-ba-la cúng cho Ngài, rồi ở trước Đại chúng cột thành một gút đưa cho Ngài A-nan xem và bảo rằng : “Cái này gọi là gì ?” Ngài A-nan và Đại chúng đều đáp : “Cái ấy tên là cái gút.” Khi ấy đức Như Lai cột thêm cái khăn bông kép ấy thành một gút nữa rồi lại hỏi ngài A-nan: “Cái này gọi là gì ?” Ngài A-nan và Đại chúng lại bạch Phật rằng : “Cái ấy tên là cái gút.” Phật tuần tự cột cái khăn bông như vậy, tóm thành sáu gút; mỗi khi cột thành một gút đều đưa cái gút này gọi là gì ? thì ngài A-nan và Đại chúng đều thứ lớp

* Trang 418 *
device

đáp lại câu hỏi của Phật như trước rằng : Cái ấy tên cái gút.
Phật bảo ngài A-nan: “Trong lúc Ta bắt đầu cột khăn thì các Ông gọi là cái gút; cái khăn bông kép này trước thật chỉ một cái; cớ sao lần thứ hai, lần thứ ba, các Ông cũng gọi là cái gút ?”
- Thưa Thế Tôn, cái khăn thêu dệt bông kép quí báu này tuy vốn một thể, nhưng theo ý con suy nghĩ, hễ đức Như Lai cột một lần thì được gọi là một gút, nếu cột một trăm lần thì tóm lại phải gọi là trăm gút; huống chi cái khăn này chỉ có sáu gút, không lên đến bảy, không dừng nơi năm, làm sao đức Như Lai chỉ cho lần cột ban đầu là gút, còn lần thứ hai, lần thứ ba lại không gọi là gút ?
Phật bảo ngài A-nan : “Cái khăn bông báu này, ông biết khăn này vốn chỉ một cái mà khi tôi cột sáu lần thì gọi là có sáu gút. Ông hãy xem xét cho kỹ; bản thể cái khăn là đồng, nhơn các gút mà thành có khác. Ý Ông nghĩ thế nào ? Khi cái gút ban đầu mới cột thành thì gọi là cái thứ sáu, nay tôi muốn đem cái tên gút thứ sáu làm thành gút thứ nhất có đặng không ?”
- Thưa Thế Tôn không phải vậy; nếu còn sáu gút thì cái tên thứ sáu rốt cuộc không phải là thứ nhất; dù cho con hết sức biện bạch suốt đời cũng không thể làm cho sáu gút đổi tên đặng.
Phật dạy : “Như vậy là phải. Sáu gút chẳng đồng, song xét lại bổn nhơn vẫn một cái khăn tạo ra, mà muốn khiến nó xáo lộn, rốt cuộc không thể thành đặng. Sáu căn của

* Trang 419 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm