LOGO VNBET
thượng đạo, cứ yêu mến pháp Tiểu thừa đặng một ít đã cho là đủ.
*
Phật chỉ tánh bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến của Như Lai tạng.
 
Đáp lại câu ông Phú-lâu-na hỏi vì sao các món địa thủy hỏa phong, tánh trái hẳn nhau, mà đều được cùng khắp pháp giới. Phật lấy cái hư không làm ví dụ. Cái hư không, khi có mặt trời thì sáng, khi nữa đêm không trăng thì tối, khi tạnh ráo yên lặng thì trong suốt, khi bụi bay thì mù mịt. Các tướng như vậy đều hiện ra nơi hư không, nhưng hư không vẫn không phải là các tướng ấy. Xét như khi có mặt trời, cả hư không đều hóa ra sáng thì cái sáng ấy là sắc tướng của mặt trời hay là sắc tướng của hư không. Nếu như là sắc tướng của mặt trời thì toàn thể hư không đều thành ra sắc tướng của mặt trời, làm sao còn thấy được mặt trời giữa hư không ? Còn như nói là sắc tướng của hư không thì cớ chi trong nữa đêm không trăng, hư không không tự sanh ra cái sáng. Xét như vậy thì biết cái sáng ấy, không thể chỉ đích là hư không hay là mặt trời, nhưng cũng không ngoài hư không, ngoài mặt trời mà tự có.
Như Lai tạng cũng theo các duyên mà hiện ra các tướng như hư không kia, nhưng không hề vì các tướng mà có thay đổi.
Các tướng do nhơn duyên hòa hiệp mà giả dối hiện ra, do nhơn duyên chia rẽ mà giả dối mất đi, chẳng khác gì hoa đốm giữa hư không; vì mắt lòa mà phát khởi, nên không thể

 

* Trang 371 *
device

chỉ đích nó là gì (như nước sông Hằng chư Thiên thấy là Lưu ly, người thấy là nước, ngạ quỉ thấy là lửa và cũng không cần hỏi vì sao địa, thủy, hỏa, phong lại tiêu diệt lẫn nhau. Lại địa, thủy, hỏa, phong tuy in tuồng khác nhau, nhưng xét ra đồng là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng; tánh diệu chơn như đâu phải là thủy hay hỏa, vậy cũng không nên hỏi vì sao các món kia lại có thể dung hòa lẫn nhau và đồng thời cùng khắp pháp giới.
Tánh diệu chơn như của Như Lai tạng theo duyên mà hiện ra các tướng, như trong tâm mình phát minh ra cái tướng địa thủy hỏa phong, thì có địa thủy hỏa phong hiện ra, phát minh một lần thì đều hiện ra đủ hết.
Như hai người xem bóng mặt trời dưới nước, rồi người đi qua phương Đông, người đi qua Tây, thì mỗi người đều có một cái bóng mặt trời đi theo. Không ai gạn hỏi vì sao mỗi người lại có được một cái bóng đi theo, vì sao một cái mặt trời lại chiếu ra nhiều bóng; chỗ hư vọng đối đãi mà hiện ra các tướng cũng in như vậy; không nên hỏi vì sao đồng một giòng nước mà chư Thiên thấy là Lưu ly, ngạ quỉ lại thấy là lửa. Vì các nhơn duyên hư vọng đối đãi hiện ra các tướng nên một nhơn duyên thay đổi, thời các tướng thay đổi, không chút gì là thiết thực.
Song cũng vì sự nhơn duyên đối đãi ấy nên chúng sinh phát ra tâm niệm phân biệt có sắc có không, thì Như Lai tạng cũng theo đó mà hiện ra không ra sắc; rồi cũng nhơn phân biệt mà hiện ra thân, ra cảnh, ra mình, ra người ra vật đáng ưa, ra điều đáng ghét, nhơn đó mà chúng sinh phát ra vô số trần lao phiền não. Còn Phật thì lấy trí diệu chơn như

 

* Trang 372 *
device

mà hiệp với Như Lai tạng thì Như Lai tạng chỉ là diệu chơn như tánh, không có thời gian, không có không gian, không có hạn lượng, không có đối đãi, trong tánh diệu chơn như ấy, một và nhiều, nhỏ và lớn đều bình đẳng; nhơn đó nên Phật có thể hiện tam thiên đại thiên thế giới trên đầu sợi lông, lại cũng có thể vào trong một vi trần mà chuyển pháp luân cho vô lượng Thánh chúng.
Mà thật ra thì Như Lai tạng viên dung vô ngại, ly tất cả các pháp tướng, dù là các pháp thế gian như tứ đại, lục căn, lục trần, lục thức, dù là các pháp xuất thế gian như Tứ đế, Thập nhị nhơn duyên, Lục độ, vạn hạnh, vô lượng công đức, vì Như Lai tạng tùy duyên mà không thay đổi.
Tánh diệu chơn như của Như Lai tạng cũng tức là hết thảy các pháp thế gian và các pháp xuất thế gian; vì Như Lai tạng không thay đổi, nhưng vẫn tùy duyên mà hiện ra các pháp.
Thật ra bản tánh của Như Lai tạng là bất khả tư nghì, chính cái ly cái tức đã nói trên mà cũng đều ly, đều tức được; chúng sinh cần phải tiêu trừ sở tri chướng mới có thể chứng nhận, chớ nếu còn bị che lấp với chướng sở tri, bị ràng buộc trong đường ngôn ngữ thì không thể nào nhận được tri kiến của chư Phật.
Chúng ta hiện sẵn có Như Lai tạng tâm, cũng như người sẵn có đờn tốt, có thể phát ra những tiếng hay; nhưng nếu không biết đờn thì cái đờn chỉ phát ra những tiếng dở, chúng ta sãn có Như Lai tạng tâm mà không biết dụng tâm một cách hoàn toàn, thì khi khởi niệm lên đã thấy đầy những trần lao phiền não; trái lại nếu chúng ta tu theo chánh đạo,

* Trang 373 *
device

phát minh chánh tri biết Như Lai tạng tâm một cách hoàn toàn thì dở tay dở chân cũng toàn là trí huệ.
*
Ông Phú-lâu-na thưa : “Cái Chân tâm viên giác diệu minh của con và của Như Lai đều cùng khắp đầy đủ, không hai không khác; nhưng con lúc xưa bị các vọng tưởng vô thỉ, lâu đời ở trong luân hồi, hiện nay tuy nghe đặng Thanh văn thừa nhưng chưa rốt ráo; còn đức Thế Tôn thì hết thảy các vọng tưởng đều diệt trọn, duy cái diệu dụng của tánh chơn thường, con dám hỏi đức Như Lai, hết thảy chúng sinh vì nhơn gì mà có vọng, tự che tánh diệu minh của mình và phải chịu chìm đắm như vậy ?”
Phật bảo Phú-lâu-na : “Ông tuy đã trừ đặng lòng nghi, song những điều lầm chưa dứt hết. Nay Ta chỉ lấy các việc hiện tiền của thế gian mà hỏi ông đây; ông không nghe ở trong thành Thất-la-phiệt có tên Diễn-nhã-đạt-đa buổi mai sớm lấy gương soi mặt, bỗng nhiên ưa cái đầu trong gương vì thấy có con mắt, có thấy lông mày hẳn hoi, giận trách cái đầu mình sao không thấy mặt và cho là loài ly mỵ yêu quái rồi không cớ gì phát điên bỏ chạy. Ý ông nghĩ sao ? Vì nguyên nhân gì mà người ấy không cớ chi lại phát điên bỏ chạy ?”
Ông Phú-lâu-na thưa : “Vì cái tâm người ấy điên chớ không có cớ chi khác.”
Phật dạy : “Tánh diệu giác sáng suốt viên mãn bản lai vẫn là diệu minh cùng khắp, mà đã gọi là vọng thì làm sao còn có nhơn ! Nếu thật có nhơn thì lẽ nào còn gọi là vọng !

 

* Trang 374 *
device

Do chỉ tự nơi các vọng tưởng xoay vần làm cái nhơn cho nhau, theo cái mê mà chứa mãi cái mê trong những kiếp số như vi trần, đến nỗi cái mê trong những kiếp số như vi trần, tuy Phật đã phát minh ra mà cũng không biết tự xét trở lại. Cái mê như vậy là nhơn mê mà tự có, hễ biết cái mê vốn không có nhơn, thì cái vọng cũng không còn nương vào đâu, thật không có cái gì đáng gọi là sanh, huống nữa có cái gì đáng gọi là diệt; các bậc đã chứng đặng Bồ-đề cũng như người đã thức dậy mà nói lại những việc trong chiêm bao, nơi tâm tuy vẫn rõ ràng nhưng không thể còn nhơn duyên gì mà lấy được những vật trong chiêm bao, huống chi cái mê vốn không có nhơn, vốn không thật có.
Cũng như tên Diễn-nhã-đạt-đa trong thành kia, đâu có nhơn duyên gì mà tự sợ cái đầu mình mà bỏ chạy; nếu bỗng nhiên hết điên thì cái đầu vẫn có sẵn, không phải tự ngoài đưa tới, dù cho chưa hết điên thì cũng nào có mất đầu đi đâu. Này Phú-lâu-na, tánh của cái vọng như vậy, nhơn đâu mà gọi là tồn tại được.
Ông chỉ đừng theo tập quán mê lầm mà phân biệt ba món tương tục về thế gian, nghiệp quả và chúng sinh; ba cái duyên (phân biệt) đã đoạn hết, ba cái nhơn (đẳng lưu nhơn của ba món tương tục) cũng không sanh, thời cái tánh điên của tên Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm ông tự hết, hết tức là tâm tính trong sạch sáng suốt Bồ-đề, bản lai cùng khắp pháp giới, chẳng phải tự người mà đặng, nào cần gì phải nhọc nhằn tu chứng.
Ví như có người cột một hạt châu như ý trong đó của mình mà không tự biết, cùng khổ rách rưới nơi phương xa,

 

* Trang 375 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm