LOGO VNBET
theo tâm mà dit hết, 1 cái huyn hóa đó gi là các tướng mà cái tánh vn tht là tâm tính nhim mu sáng sut. Như vy cho đến 5 m, 6 nhp, 12 x, 18 gii, nhơn duyên hòa hip, gi như có sanh, nhơn duyên chia r gi di gi rng dit mà không biết rng sanh, dit, đến, đi, vn tht là tánh chơn như cùng khp, không lay đng, nhim mu sáng sut thường tr (thường trú diu minh) 2 của Như Lai tạng; trong tánh chơn thường 3 ấy, cầu những tướng đến, đi, mê, ngộ, sống, chết, rốt ráo không thể đặng.
*
Phật chỉ rõ cái kiến tánh là phi hòa hiệp sanh và phi bất hòa hiệp để khai thị cho biết rằng phải ly tất cả danh tướng hý luận của thế gian mới tự chứng đặng Như Lai tạng tánh.
Trong đoạn trước, Phật đã chỉ dạy cho ngài A-nan cái nghĩa phi nhơn duyên, phi bất nhơn duyên thì lẽ ra đến đoạn này Phật không cần phải chỉ lại cái nghĩa phi hòa hiệp;vì nhơn duyên sanh tức là hòa hiệp sanh nhơn duyên diệt tức
_______________________
1 Tùy xứ mà diệt hết : Là theo chỗ vọng niệm đó mà liền diệt với vọng niệm. Thì các tướng khi vọng niệm phân biệt phát sanh, thì liền theo mà sanh, khi vọng niệm phân biệt biến diệt, thì liền theo mà diệt, nên gọi rằng đương xứ mà phát sanh, tùy xứ mà diệt hết.
2 Tánh diệu chơn như bất động châu viên thường trú diệu minh : Tánh của Như Lai tạng không thể nghĩ ngợi được, nên gọi là diệu không có hư vọng, nên gọi là chơn, không có sai khac, nên gọi là như. Tánh diệu chơn như ấy không thể lay động, nên gọi là bất
động; trùm khắp mười phương, không có hạn lượng, nên gọi là châu viên; không thêm, không bớt, không sanh, không diệt, nên gọi là thường trú; không có bất giác, và thường tùy duyên biến hiện, nên gọi là diệu minh.
3 Tánh chơn thường : Chơn thường là tánh, tánh là chơn thường, chơn thường là chơn thường của diệu chơn như tánh : diệu chơn như tánh bản tánh là chơn thường, nên gọi là tánh chơn thường.

 

* Trang 285 *
device

là bất hòa hiệp diệt, chớ không chi khác. Tuy vậy nhưng khi nói nhơn duyên, phi nhơn duyên, thì phần nhiều nói về sanh tướng, diệt tướng; còn khi nói hòa hiệp, phi hòa hiệp, thì phần nhiều nói về trú tướng và dị tướng, nghĩa là nói về tự tướng, và cọng tướng của các pháp, nên dù chỉ lại một lần nữa cũng không phải là vô ích. Huống chi trong đoạn này Phật cốt phá chỗ ngài A-nan nghi rằng chứng tánh Bồ-đề là nhờ các công hạnh hòa hiệp mà phát khởi. Phật nhơn nơi kiến tinh chỉ rõ cái kiến tánh làphi hòa phi hiệp, để cho ngài A-nan nhận rõ rằng Như Lai tạng tánh đối với các công hạnh cũng là phi hòa, phi hợp.
Sau khi ngài A-nan nghe rõ cái nghĩa phi hòa hiệp rồi, thì ông lại nghĩ rằng Như Lai tạng tánh đối với các trần cảnh và đối với các tâm niệm là bất hòa hiệp. Muốn phá cái vọng chấp ấy. Phật lại nương nơi kiến tánh, mà chỉ rõ cái nghĩa phi cái bất hòa hiệp, để cho ngài A-nan nhận biết rằng Như Lai tạng tánh chỉ có thể ly ngôn tự chứng, chớ không thể đem các danh tướng hý luận của thế gian mà phân biệt được.
Lắm người nghe Phật bác nghĩa hòa hiệp và bất hòa hiệp như vầy, lại ngờ rằng những nhơn duyên, hòa hiệp là không đúng và cho rằng duy có cái nghĩa tự nhiên là đúng với sự thật. Nghĩ như vậy là sai lầm, vì chính cái nghĩa duyên khỉ là cái nghĩa tối thâm, tối diệu của đạo Phật; vì các pháp vốn duyên khởi, nên không thật có; vì các pháp vốn duyên khỉ, nên như huyễn; cái nghĩa duyên khỉ như huyễn không thật tức là đệ nhất nghĩa. Vì nhận rõ các pháp đều như huyễn không thật, nên không thể nương vào

* Trang 286 *
device

đâu mà gọi rằng có sanh; vì nhận rõ các pháp đều như huyễn không thật, nên không thể nương vào đâu mà gọi rằng có tánh; vì không có sanh nên Phật dạy là phi nhơn duyên; vì không có tánh, nên Phật dạy là phi tự nhiên, chớ không chi khác.
Muôn vật chỉ là cái tướng huyễn hóa, do các nhơn duyên giả dối hội hiệp in tuồng có sanh, do các nhơn duyên chia rẽ, in tuồng có diệt; sanh diệt, hội hiệp, chia
lìa, đều là giả danh, chớ thật ra thì muôn vật đều không thật có, đều là duyên khỉ như huyễn, không có tự tánh. Cái tánh “không có tự tánh” đó, tức là cái thực tánh của muôn sự muôn vật, cũng tức là cái tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Hàng nhị thừa không rõ diệu chơn như tánh, thấy các nhơn duyên của nghiệp “tham, sân, si” hòa hiệp tạo thành chúng sinh, thế giới, lấy các pháp “giới, định, tuệ”, diệt trừ những nhơn duyên ấy, mà làm cho giải thoát ra ngoài vòng chúng sinh, thế giới, nên hàng nhị thừa chấp rằng thật có mê, thật có ngộ, thật có sanh tử, thật có Niết-bàn, mà không rõ được cái nghĩa duyên khởi như huyễn.
Thật ra các pháp đều là duyên khởi, thì các pháp đều là không thật có, đều là không tự tánh, cho đến các nhơn duyên cũng đều là không thật có, cũng đều là không tự tánh vậy chính nơi giả dối hội hiệp mà sanh, thật không có gì đáng gọi là sanh, chính nơi giả dối chia rẽ mà diệt, thật không có gì là đáng gọi là diệt, chính nơi giả dối hội hiệp mà mê, thật có không có gì đáng gọi là mê, chính nơi giả dối chia rẽ mà ngộ, thật không có gì đáng gọi là ngộ; vậy

 

* Trang 287 *
device

sanh diệt, mê, ngộ, đều là duyên khởi như huyễn không có tự tánh; vì không có tự tánh, nên gọi rằng duy một tánh chơn như bất sanh bất diệt của Như Lai tạng.
Nói tóm lại, hàng nhị thừa chỉ tu nhơn giải thoát mà được quả giải thoát, chớ chưa hề nhận rõ nguồn gốc của nhơn quả, nghĩa là chưa hề nhận rõ cái tánh diệu chơn như duyên khởi của Như Lai tạng. Tánh diệu chơn như ấy, phải ly tất cả các danh tướng hý luận của thế gian mà tự chứng, nơi ấy sanh tức là vô sanh, huyễn tướng tức là thật tướng, không còn những lời chơn vọng đối đãi, những sự so đo phân biệt. Tánh diệu chơn như là thật tánh của tất cả các pháp, dù ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, cũng đồng một diệu chơn như tánh ấy.
*
Này A-nan, vì sao bản tánh của ngũ ấm vốn là tánh chơn như nhiệm mầu của Như Lai ?
Này A-nan, ví như có người đem con mắt trong sạch mà xem cái hư không sáng suốt yên lặng, thì người ấy chỉ thấy trống rỗng hẳn không có gì; người kia bỗng dưng ngó sững không nháy mắt, ngó chăm mãi mỏi mắt, thì ở giữa hư không lại thấy phát sanh ra những hoa đốm và những tướng giả dối lăng xăng lộn xộn; cho biết cái sắc ấm lại cũng như vậy.
Này A-nan, các hoa đốm lăng xăng đó, chẳng phải từ hư không mà đến, chẳng phải từ con mắt mà ra. Thật vậy A-nan, nếu hoa đốm từ hư không mà đến, thì sau nó phải trở vào lại trong hư không; nhưng nếu có vật đi ra đi vào,

 

* Trang 288 *
device

thì lại không phải là hư không; mà nếu hư không không phải là hư không, thì lại không thể để mặc cho hoa đốm khi sanh, khi diệt; cũng như cái thân thể của Ông không dung nạp được thêm một A-nan nữa.
Còn như hoa đốm từ con mắt mà ra, thì đã từ con mắt mà ra, tất nhiên phải trở lại lui vào con mắt. Hoa đốm đã từ con mắt mà ra, thì lẽ phải có tánh thấy, mà nếu có tánh thấy, thì khi đi ra làm hoa đốm giữa hư không, xoay trở lại tất nhiên phải thấy được con mắt; còn như không có tánh thấy, thì khi đi ra đã làm bóng lòa giữa hư không, đến khi trở về tất nhiên phải làm bóng lòa nơi con mắt; nếu vậy thì khi thấy hoa đốm lẽ ra con mắt không lòa, vì sao lại chỉ khi thấy hư không rỗng suốt mới gọi là con mắt trong sạch. Vậy ông nên biết rằng, cái sắc ấm là luống dối, vốn chẳng phải là tánh nhơn duyên sanh (1) , cũng chẳng phải là tánh tự nhiên (2).
Này A-nan, ví như có người, tay chân yên ổn, năm vóc điều hòa, bỗng như quên mình không có tánh trái, thuận (3) , người ấy bỗng dưng lấy hai bàn tay xoa nhau giữa hư không, thì ở nơi hai bàn tay ấy, lại giả dối sanh ra các tướng, nào rít, nào trơn, nào lạnh, nào nóng; cho biết cái thọ ấm cũng lại như vậy.
Này A-nan, những cái cảm xúc lạnh nóng kia, chẳng phải từ hư không mà đến, từ bàn tay mà ra. Thật vậy A-
_______________________-
1 Nhơn duyên sanh là do các nhơn duyên hiệp mà sanh ra.
2 Tánh tự nhiên là cái tánh tự mình cũng như các pháp vốn sẵn có như vậy.
3 Thoặt như quên mình không có tánh trái, tánh thuận : Nghĩa là mình yên ổn, toàn yên ổn, toàn là đồng thể, không có cảm giác gì đặc biệt lạnh nóng, trơn rít, v.v…



 

* Trang 289 *
device

nan, nếu các cảm xúc lạnh nóng từ hư không mà đến, thì đã sinh cảm xúc nơi bàn tay, sao lại không sinh cảm xúc nơi thân thể. Không lẽ cái hư không lại biết lựa chỗ mà sinh cảm xúc.
Nếu từ bàn tay mà ra, thì lẽ đáng lúc nào cảm xúc cũng cứ ra, không cần phải đợi hai tay hiệp lại mới có cảm xúc; lại nếu từ bàn tay mà ra, thì khi hiệp lại bàn tay biết có cảm xúc, đến khi rời nhau thì cái cảm xúc ấy tất phải chạy vào, và xương tủy trong hai cánh tay phải biết cái cảm xúc đi vào đến chỗ nào; lại phải có tâm hay biết lúc nào ra, lúc nào vào, rồi lại phải có một vật gọi rằng cảm xúc đi tới đi lui trong thân thể, chớ sao lại đợi đến khi hai tay hiệp lại phát ra hay biết mới được gọi là cảm xúc. Vậy Ông nên biết rằng cái thọ ấm là luống dối, vốn chẳng phải là tánh nhơn duyên sanh, cũng chẳng phải là tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người nghe nói trái mơ chua, thì trong miệng nước miếng đã chảy, nghĩ đến trèo lên dốc đứng, thời trong lòng bàn chân đã nghe đau mỏi; cho biết cái tưởng ấm lại cũng như vậy.
Này A-nan, câu chuyện mơ chua đó, chẳng phải tự trái mơ mà sanh, chẳng phải do cái miệng ông mà vào. Thật vậy A-nan, nếu từ trái mơ mà sanh, thì trái mơ cứ tự nói mình là chua, sao lại phải đợi người ta nói. Nếu do cái miệng mà vào, thì lẽ đáng cái miệng phải tự mình nghe tiếng, chớ sao lại cần có lỗ tai. Còn nếu riêng một mình lỗ tai nghe, thì sao nước miếng lại không chảy nơi lỗ tai ? Câu chuyện mình leo dốc mà mỏi trong lòng bàn chân cũng tương tợ như thế. Vậy ông nên biết rằng cái tưởng ấm là

 

* Trang 290 *
device

luống dối vốn chẳng phải là tánh nhơn duyên sanh, cũng chẳng phải là tánh tự nhiên.
A-nan, ví như dòng nước dốc, sóng mòi nối nhau, lớp trước, lớp sau, vẫn không vượt chảy lộn lạo; cho biết cái hành ấm (1) lại cũng như vậy.
Này A-nan, dòng nước như vậy chẳng phải nhơn hư không mà sanh, chẳng phải nhơn nơi nước mà có, chẳng phải là cái tánh của nước, cũng chẳng phải ra ngoài hư không và nước. Thật vậy A-nan, nếu dòng nước dốc nhơn nơi hư không mà sanh, thì cả hư không vô tận trong mười phương đều thành dòng nước vô tận, mà tất cả thế giới tự nhiên phải đều bị chìm đắm. Nếu nhơn nơi nước mà có thì tánh của dòng nước dốc ấy, lẽ ra chẳng phải là tánh nước, vì ngoài nước ra, cái tánh riêng của dòng nước, chắc phải có thể chỉ ra được một cách hiển hiện ! Còn nếu như dòng nước dốc đó tức là cái tánh của nước, thì trong lúc đứng trong, lẽ ra nước đứng đó không phải là nước nữa. Còn nếu như cái tánh dòng nước thật ra ngoài hư không và nước, thì đã không thể có cái gì ở ngoài hư không, mà ngoài nước ra cũng không thể có dòng nước. Vậy Ông nên biết rằng cái hành ấm là luống dối, vốn chẳng phải là tánh nhơn duyên sanh, cũng chẳng phải là tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người lấy cái bình tần già 2, bịt cả hai miệng bình, rồi vác đầy một bình hư không, đi xa ngàn
________________________
1 Hành ấm : Là cái ấm của sự chuyển biến của tâm niệm; sự chuyển biến đó tức như cái luồng tư tưởng niệm này diệt, niệm khác sanh, nối mãi không dứt, quán xuyến với nhau, thành ra thấy có sanh diệt thay đổi.
2 Bình Tần già : Là cái bình có hai lỗ, hình như con chim tần già.



 

* Trang 291 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm