LOGO VNBET
Phật chỉ bản tánh của Thất đại là giả dối, thật ra chỉ là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng

 
Ngài A-nan nghe Phật bác cả lý nhơn duyên sanh ra lý tự nhiên sanh, không rõ mật ý của Phật nên lại xin Phật khai thị để Ông nhận biết thế nào là Trung đạo liễu nghĩa. Nhơn trong lời hỏi, Ông A-nan có nói đến lý nhơn duyên hòa hiệp của tiểu thừa cho rằng tất cả sự vật đều do địa, thủy, hỏa, phong gọi là tứ đại hòa hiệp mà thành, nên Phật mới chỉ bổn tánh của các bốn đại đều là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Xem như Địa đại, lớn thành đại địa, nhỏ thành vi trần, gồm đủ các loại có thể chất, có cái tác dụng nắm giữ che chở, thì toàn thể địa đại đều có thể phân chất rất nhỏ cho đến lân hư trần; nếu chẻ cái lân hư trần ra nữa, thì thành ra hư không, không còn hình tướng gì cả. Lân hư trần đã có thể chẻ thành hư không, thì tất nhiên hư không cũng có thể hiệp lại thành ra lân hư trần, cho đến thành ra các sắc tướng khác. Nhưng Sắc là Sắc, Không là Không, chẻ Sắc ra vì sao lại thành Không, hiệp Không lại cách nào cho ra thành Sắc. Nhưng Sắc đã có thể biến ra thành Không, thì Sắc không thể quyết định là Sắc, Không không thể quyết định là Không, chỉ vì do mắt thấy được thì gọi là Sắc, không thấy được thì gọi là Không mà thôi. xét như vậy thì biết rằng Sắc không phải là thật Sắc, tánh Sắc vốn là chơn không. Không không phải thật Không, tánh Không vốn thật Chơn sắc, đâu đâu cũng có thể là Sắc, đâu đâu cũng có thể là Không, chỉ theo tầm con mắt, theo tâm phân biệt của mọi loài chúng sinh mà phát hiện; phát hiện như vậy

 

* Trang 332 *
device

là phát hiện huyễn hóa, có chi đáng gọi là nhơn duyên, có chi đáng gọi là tự nhiên và những lối nói nhơn duyên hay nói tự nhiên cũng đều là lối so đo phân biệt của thức tâm, chỉ là những danh tướng, chớ không có gì chơn thật cả.
*
“Này A-nan, tánh của hỏa đại không có tự thể nên chỉ dựa nơi các duyên mà phát hiện; Ông xem các nhà chưa ăn ở trong thành, khi muốn nhúm bếp thì tay họ cầm kính hiển vi, đưa trước ánh nắng mặt trời mà lấy lửa.
Này A-nan, phàm gọi là hòa hiệp cũng như Ta cùng với các Ông 1250 Tỳ-kheo hiện nay, hòa hiệp làm một chúng; chúng tuy là một song gạn nơi căn bản thời mỗi người đều có thân, đều có danh tự họ hàng sanh ra, như Xá-lợi-phất là chủng tộc Bà-la-môn, Ưu-lâu-tần-loa là chủng tộc Ca-diếp-ba, cho đến A-nan là chủng tộc Cù-đàm.
Này A Nan, nếu cái tánh của hỏa đại là do nhơn hòa hiệp mà có, thì khi tay người kia cầm kính lấy lửa nơi mặt trời, cái lửa ấy lại là từ nơi gương mà ra, từ nơi bùi nhùi mà ra, hay từ nơi mặt trời mà đến ?
A-nan, nếu lửa từ mặt trời mà đến, lửa ấy tự mình đã đốt được bùi nhùi trong tay Ông, những rừng cây mà lửa ấy đã trải qua lẽ ra đều phải bị đốt. Nếu từ trong kính mà ra, thì lửa ấy đã tự mình có thể ở nơi kính đi ra đốt cháy bùi nhùi, nhưng cái kính kia sao lại không cháy, ngay cả tay Ông cầm kính còn không có chút gì nóng nảy, làm sao kính lại cháy cho được; nếu sanh nơi bùi nhùi thì cần gì phải có ánh sáng mặt trời và kính tiếp nhau, rồi sau lửa mới sanh ra.

 

* Trang 333 *
device

Ông hãy xét cho kỹ : kính do tay cầm, mặt trời từ trên trời dọi đến, bùi nhùi vốn từ đất sanh ra, vậy cái hỏa đại nó ở phương nào mà đi đến nơi chỗ ấy. Mặt trời và cái kính xa nhau không phải hòa, không phải hiệp, lại không lẽ ngọn lửa kia không do đâu mà tự có.
Ông còn không biết : trong Như Lai tạng, tánh hỏa là Chơn không, tánh không là Chơn hỏa, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp pháp giới, theo tâm chúng sinh, đáp ứng với hạn lượng có thể biết.
Này A-nan, Ông nên biết người đời, một chỗ cầm kính thì một chỗ sanh lửa, khắp pháp giới cầm kính thì đầy thế gian nổi lửa, nổi khắp thế gian đâu có chỗ ở, chỉ theo nghiệp mà phát hiện; thế gian không biết, lầm là tánh nhơn duyên và tánh tự nhiên, đều là lối so đo phân biệt của ý thức, chỉ có lời nói, toàn không thật nghĩa.
Này A-nan, tánh nước không nhất định, khi chảy khi đứng không thường, như trong thành Thất-la-phiệt, các nhà Đại huyễn sư như bọn Tiên-ca-tỳ-la, Tích-ca-la và bọn Bát-đầu-ma, A-tát-la thảy, cầu tinh thái âm để dùng hòa các thuốc huyễn thuật, thì các nhà huyễn sư ấy, nơi bóng sáng trăng trong, tay cầm hạt châu phương chư để hứng nước trong ánh mặt trăng. Vậy, nước ấy là từ nơi hạt châu mà ra, từ nơi hư không mà tự có, hay là tự mặt trăng mà đến ? Này A-nan, nếu tự mặt trăng mà đến thì ở nơi phương xa còn có thể làm cho hạt châu chảy ra nước, những rừng cây đã trải qua lẽ đều phải phun nước cả; nếu phun nước thì sao phải đợi có hạt châu phương chư mới chảy ra; nếu

* Trang 334 *
device

nếu không phun nước thì rõ ràng nước kia không phải từ mặt trăng chảy xuống.
Nếu từ hạt châu mà ra, thì nơi hạt châu ấy lẽ ra thường phải chảy nước, sao phải đợi đến nửa đêm hứng dưới ánh sáng mặt trăng tròn. Nếu từ hư không sanh, hư không không ngằn mé thì nước cũng không bờ bến; và từ cõi người cho đến cõi trời thảy đều phải chìm ngập cả, làm sao còn có thủy, lục, không, hành ?
Ông hãy xét cho kỹ : Mặt trăng từ trên trời đi ngang qua, hạt châu thì do tay cầm; mâm hứng nước hạt châu vốn do người ta bưng để, vậy nước từ phương nào mà chảy rớt nơi đó. Mặt trăng và hạt châu xa nhau, không phải hòa, không phải hiệp, không lẽ nước không do đâu mà tự có.
Ông còn không biết : trong Như Lai tạng, tánh thủy là chơn không, tánh không là chơn thủy, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp pháp giới, theo tâm chúng sinh, đáp ứng với hạn lượng có thể biết; một chỗ cầm hạt châu thì một chỗ ra nước, khắp pháp giới cầm hạt châu thì đầy pháp giới sanh nước, sanh đầy cả thế gian đâu có chỗ ở, nhưng đó chỉ theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm là tánh nhơn duyên và tánh tự nhiên, đều là lối so đo phân biệt của thức tâm, chỉ có lời nói, toàn không thật nghĩa.
*
Lại như hỏa đại, chỉ nương nơi các duyên mà có, chớ kỳ thật không thể chỉ cái gì là hỏa đại. Hỏa đại gồm các năng lực làm cho các chất biến đổi và thành thục, như hiện không có lửa; nếu ra giữa mặt trời đưa gương hiển vi lấy ánh sáng

* Trang 335 *
device

mặt trời dọi trên một cục bùi nhùi (hoặc thuốc cứu) thì cục bùi nhùi nóng lần, rồi cháy ra lửa. Cái lửa đó không thể nói là do mặt trời sanh ra, hay do bùi nhùi sanh ra; vì riêng từng món không thể phát sanh ra lửa.
Còn như nói ba món duyên với nhau mà sanh ra, thì cái hỏa đại chỉ là một tướng hòa hiệp, không có tự tánh, cũng y như nhiều người hiệp thành một chúng. Xét ra thì cái năng lực biến hóa thành thục gọi rằng hỏa đại, vẫn cùng khắp cả pháp giới, chỉ theo nhơn duyên mà phát biến cái tướng lửa như huyễn như hóa mà thôi. Mà đã cùng khắp cả pháp giới thì đâu đâu cũng là hỏa đại, và không một cái gì riêng là hỏa đại, ly nhất thế tướng, tức nhất thế pháp, chỉ một tánh diệu chơn như của Như Lai tạng. Cái lửa diệu chơn như ấy thật là chơn không, cái không diệu chơn như ấy thật là chơn hỏa, chỉ theo tâm duyên của chúng sinh, theo lường hay biết của chúng sinh và theo nghiệp mà phát hiện, không thể đem những danh tướng phân biệt như nhơn duyên, như tự nhiên mà bày được.
Còn như thủy đại, hiện tướng ra các thứ nước, gồm đủ các món có tánh lưu chuyển không định. Các nhà huyễn sư thường đem ngọc phương chư lấy nước mù sương, gọi rằng thái âm tinh trong lúc trăng tròn để hòa các thuốc huyễn thuật. Cái nước như vậy, không phải từ mặt trăng đến, không phải từ hột châu ra, cũng không phải nhơn hư không sanh ra; vì riêng mỗi mỗi món không thể phát sanh ra nước. Xét ra cái tánh lưu chuyển không dừng vẫn cùng khắp cả pháp giới, tùy theo nhơn duyên giả dối hiện ra tướng nước, thật ra vẫn là bất sanh bất diệt, vẫn là tánh

 

* Trang 336 *
device

diệu chơn như của Như Lai tạng. Tánh diệu chơn như thanh tịnh bản nhiên, theo tâm chúng sinh, theo lường hay biết của mỗi loài, theo chỗ khởi nghiệp mà hiện ra tướng nước. Cái tướng nước đó chỉ là cái tướng nước do nghiệp thức của mỗi loài biến hiện, không phải thật có; như sông hằng hà đối với loài người là sông, nhưng đối với cá là chỗ ở, đối với chư Thiên là lưu ly, đối với ngạ qủy là lửa, không thể nhất định là nước hay không phải nước.
Vậy nên cái tánh thủy là chơn không, cái tánh không là chơn thủy, đâu đâu cũng có thể là nước, đâu đâu cũng có thể không phải là nước, thật ra chỉ một tánh diệu chơn như, chỉ một bất khả tư nghì cảnh giới.
*
“Này A-nan, tánh của phong đại, không hình thể, khi động khi tịnh chẳng thường. Ông thường khi sửa áo vào trong Đại chúng, chéo áo Tăng-già-lê động đến người ở gần bên thời có chút gió phất mặt người kia; gió ấy lại từ nơi chéo áo cà-sa mà sanh ra, từ nơi hư không mà khởi hay từ nơi mặt người kia mà sanh ? Này A-nan, nếu gió ấy từ nơi chéo áo cà-sa mà sanh ra, thời chính nơi Ông phất gió, áo Ông lay động, phải bay rơi khỏi ông. Nay Ta thuyết pháp, thả áo rủ xuống trong hội này, Ông thử xem trong cái áo của Ta, gió ở chỗ nào, không lẽ trong áo lại có chỗ đựng gió. Còn nếu gió ấy sanh bởi hư không, thì áo Ông không động, vì nhơn gì lại không phát gió ? Tánh hư không là thường trú thì lẽ đáng gió phải thường sanh, và nếu không có gió thì hư không phải diệt; mà gió diệt có thể thấy, chớ hư không diệt hình trạng thế nào ? Lại nếu

* Trang 337 *
device

sanh diệt thời không gọi được hư không, và đã gọi là hư không thì vì cớ gì phát sanh ra gió ? Còn như nếu gió ấy tự sanh ra từ nơi cái mặt bị phất, thì gió đã từ mặt người kia sanh ra, lẽ phải phảy lại Ông, sao tự ông sửa áo mà trở lại phất mặt người kia ? Ông hãy xét cho kỹ : Sửa áo là do nơi Ông, cái mặt thuộc về người kia, hư không thì vắng lặng, không thể lay động, vậy gió tự phương nào mà lay động tới nơi đó. Tánh của gió và tánh của hư không cách xa nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ làn gió kia không từ đâu mà tự có. Ông thật không biết trong Như Lai tạng, tánh phong là chơn không, tánh không là chơn phong, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp cả pháp giới, theo tâm chúng sinh, đáp ứng với lượng hay biết. Này A-nan, như một mình ông hơi động cái áo, thì có chút gió sanh ra, nếu khắp pháp giới đều phất, thì đầy các cõi nước sanh ra gió, cùng khắp cả thế gian đâu có chỗ ở, chỉ theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết lầm là nhơn duyên và tánh tự nhiên, đều là lối so đo phân biệt của ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chơn thật.
Này A-nan, tánh hư không là không hình, nhơn sắc tướng mà tỏ bày ra. Như trong thành Thất-la-phiệt, chỗ cách sông xa, các người dòng Sát-lỵ, dòng Bà-la-môn, dòng Tỳ-xá Thủ Đà, dòng Phả-la-đọa, dòng Chiên-đà-la v.v… khi mới lập chỗ ở đào giếng lấy nước, đào đất ra một thước thì nơi đó có một thước hư không, cho đào ra đất như vậy, ra được một trượng thì nơi đó có một trượng hư không. Hư không cạn hay sâu tùy đào nhiều hay ít. Cái hư không đó lại là nhơn đất sanh ra, nhơn đào mà có, hay không nhơn chi mà tự sanh ? Này A-nan, nếu như cái không đó

* Trang 338 *
device

đó không nhơn chi mà tự sanh, thì trước khi đào đất sao chỗ đó lại không vô ngại mà chỉ thấy đất liền, không chút thông suốt ? Nếu nhơn đất mà ra thời khi đất ra lẽ phải thấy hư không vào. Nếu như đất ra, không có hư không vào, thì làm sao gọi cái hư không ấy nhơn đất mà ra ? Nếu không ra vào, thì hư không với đất vốn không có nhơn gì khác nhau, không khác tức là đồng, thời khi đất ra, sao hư không lại không ra. Nếu nhơn đào mà ra, thời lẽ phải đào ra hư không chớ không đào ra đất; nếu không nhơn đào mà ra, thời tự đào đất ra, làm sao lại thấy hư không ? Ông lại xét kỹ nghiệm rõ xét chín, đào là tự nơi tay người, tùy theo cách mà vận chuyển, đất nhơn dưới đất dời đi; vậy cái hư không nhơn đâu mà ra ? Cái không là hư, cái đào là thật, chẳng ứng dụng với nhau đặng, không phải hòa không phải hiệp, không lẽ cái hư không không từ đâu mà ra. Còn nếu tánh của cái hư không đã đầy đủ cùng khắp, vốn không lay động, thì nên biết cái hư không với các món địa thủy hỏa phong hiện tiền đều gọi là ngũ đại, tánh thật viên dung đều là Như Lai tạng, vốn không sanh diệt. Này A-nan, tâm Ông mê muội không ngộ tứ đại vốn là Như Lai tạng, ông hãy xét cái hư không đó là hay vào, hay là không phải ra vào. Ông toàn không biết trong Như Lai tạng, tánh giác là chơn không, tánh không là chơn giác, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp pháp giới, theo tâm chúng sinh đáp ứng với hạn lượng có thể biết.
Này A-nan, như một cái giếng rỗng không thì hư không sanh ra từ một giếng, cho đến hư không trong mười phương cũng lại như vậy, đầy đủ mười phương, đâu có nơi chốn, chỉ theo nghiệp tuần hoàn mà phát hiện.

 

* Trang 339 *
device

Thế gian không biết cứ lầm là nhơn duyên và tánh tự nhiên, đều là lối so đo phân biệt của ý thức, chỉ có lời nói, toàn không thật nghĩa.”
*
Lại như tánh của phong đại nghĩa là tánh lay động giữa thế giới, do gió làm tiêu biểu, khi động khi tịnh, không có nhất định. Như một người khoát áo thành có hơi gió phất mặt người khác. Xét ra gió ấy không phải tự cái áo sanh ra, không phải từ hư không sanh ra, cũng không phải từ mặt người khác sanh ra. Vì nếu gió từ cái áo sanh ra, thì sao trong lúc bình thường, không sanh ra gió ? Nếu từ hư không sanh, thì hư không còn mãi; vậy sao khi có gió khi không gió ? Nếu từ mặt người kia sanh ra, thì mặt người kia sanh ra gió lẽ phải thổi chỗ khác, sao hơi gió lại phất vào mặt người ấy ? Nhưng xét cho kỹ thì gió cũng không từ đâu mà ra. Suy cùng nghĩ chín, gió đó cho đến toàn thể phong đại đều do các duyên giả hiệp hợp lại mà phát ra cái động lực gọi là gió, không phải do tự nhiên sanh, cũng không phải do nhơn duyên sanh, vì không có nhơn nào là thiết thật sanh ra gió. Gió như vậy là giả dối chứ không có tự tánh, chỉ theo mỗi một nghiệp (tuần hoàn) mà phát hiện. Theo mỗi một nghiệp lưu chuyển mà phát hiện nên gọi là diệu, không có tự tánh nên gọi là Như; bản tánh của phong đại chỉ là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Lại như cái không đại có hình tướng, không thể thấy được, chỉ do sự đối đãi các loại hữu hình (sắc) mà phát hiện ra. Vì lý do đó, cho nên khi đào đất ra một thước thì

 

* Trang 340 *
device

nơi ấy thấy được một thước hư không, đào đất ra một trượng thì nơi ấy thấy một trượng hư không. Nhưng đất và cái mai đào đất đều là vật hữu hình (sắc), không lẽ sanh ra hư không, và hư không ấy cũng không phải tự nhiên sanh ra. Đất không sanh hư không, cái mai đào cũng không sanh ra hư không, mà khi chưa đào đất thì không thấy hư không, vậy cái hư không kia từ đâu mà đến ? Xét cho kỹ, hư không ấy chỉ đối đãi với các món hữu hình mà được phát hiện; chỗ có loại hữu hình thì gọi rằng sắc, chỗ không có loại hữu hình thì gọi rằng không; hư không ấy chỉ là một tướng giả dối, không có tự tánh. Huống chi sắc đâu phải quyết định là sắc, chỉ vì đối đãi với thân này, với cái nghiệp của người này nên gọi là sắc; không đâu quyết định là không, chỉ vì đối đãi với cái thân này, với cái nghiệp người này nên gọi là không. Cái không của một nghiệp có thể là cái sắc của một nghiệp khác, không có gì là chắc thật. Xét như vậy thì biết bản tánh của không đại chỉ theo nghiệp mà được phát hiện, không có tự tánh, nên thật ra chỉ là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
*
“Này A-nan, cái thấy có giác quan mà không có phân biệt, nhơn các thứ sắc không mà có.
Như nay Ông ở nơi rừng Kỳ-đà, buổi sớm mai thì sáng, buổi chiều hôm thì mờ, như ở vào lúc nửa đêm, trăng tròn thì sáng, trăng mờ thì tối, những tướng sáng tối như vậy, nhơn cái thấy phân biệt ra. Cái thấy ấy lại cùng các tướng sáng tối và hư không là đồng một thể, hay chẳng phải một thể, hoặc cũng đồng hoặc cũng chẳng phải đồng, hoặc cũng

* Trang 341 *
device

khác hoặc cũng chẳng phải khác ! Này A-nan, cái thấy ấy, nếu vốn một thể với cái sáng, với cái tối hay với cái hư không thì hai thể sáng và tối diệt mất rồi, khi tối không sáng, khi sáng không tối; nếu đồng một thể với cái tối, thì khi sáng cái thấy phải mất, nếu đồng một thể với cái sáng thì khi tối cái thấy phải diệt. Đã diệt thời làm sao thấy sáng thấy tối ? Nếu sáng tối khác nhau, còn cái thấy không sanh diệt, thời cái lý đồng một thể làm sao mà thành lập ? Nếu cái thấy ấy không phải đồng một thể với cái tối hay cái sáng, ông hãy xét cho kỹ, ngoài cái sáng cái tối với cái hư không, riêng chỉ cái thấy là hình tượng gì ? Ngoài cái sáng, cái tối, và cái hư không, cái thấy ấy vốn đồng như lông rùa sừng thỏ; riêng ngoài ba sự sáng, tối và hư không thì từ đâu mà thành lập cái thấy ? Sáng và tối trái nhau, cái thấy làm sao có thể đồng được ? Ngoài ba sự sáng tối và hư không, cái thấy vốn không tự tánh, làm sao có thể khác được ? Chia cái không với cái thấy, vốn không có giới hạn, làm sao gọi rằng không phải đồng ? Thấy sáng, thấy tối, tánh vẫn không dời đổi, làm sao gọi rằng không phải khác ? Ông hãy xét kỹ, soi xét cho chín chắn rõ ràng, xét cho chắc, xét cho thấu cái sáng từ nơi mặt trời mà có, cái tối từ nơi trăng mù mà ra, thông suốt thuộc về hư không, ngăn ngại thuộc về đại địa; còn cái thấy như vậy do đâu mà có ? Cái thấy có cảm giác, cái không không cảm giác, chẳng phải hòa chẳng phải hiệp, không lẽ cái thấy không từ đâu tự phát ra ! Nếu cái tánh thấy nghe hay biết viên dung cùng khắp, vốn không lay động, thì nên biết cái thấy, cùng với cái hư không bất động không ngằn mé và bốn thứ địa thủy hỏa phong thường lay động, đều gọi là sáu thứ đại, tánh thật viên dung, đều là

* Trang 342 *
device

là Như Lai tạng, vốn không sanh diệt. Này A-nan, tánh Ông chìm đắm không ngộ được cái thấy nghe hay biết của ông vốn là Như Lai tạng. Ông hãy xét cái thấy nghe hay biết ấy là sanh là diệt là đồng là khác, chẳng phải sanh diệt hay là không phải đồng khác. Ông chưa từng biết trong Như Lai tạng cái thấy của tự tánh là cái tính minh của bản giác, cái tính minh của bổn giác phát lộ ra nơi cái thấy bản nhiên thanh tịnh cùng khắp pháp giới, theo tâm chúng sinh đáp ứng với lượng hay biết. Như nơi nhãn căn, cái thấy cùng khắp pháp giới, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái biết xúc, cái biết pháp, nhiệm mầu sáng suốt, cùng khắp pháp giới đầy khắp hư không mười phương, đâu có chỗ ở theo nghiệp mà phát hiện; thế gian không biết lầm là nhơn duyên hay là tự nhiên đều là lối so đo phân biệt của thức tâm, chỉ có lời nói, toàn không thật nghĩa.”
*
Lại như cái Kiến đại, nghĩa là cái tánh Năng kiến, cái tánh thấy; và chỉ nhơn cái món sở kiến, nghĩa là các đối tượng được thấy, như Sắc như Không được phát hiện ra. Cái Kiến đại như vậy không có phân biệt vật này vật khác, chỉ có thấy suông mà thôi. Như hiện nay chúng ta ban ngày thì thấy sáng, giữa đêm không trăng thì thấy tối; chỗ có các vật thì thấy hình tượng, chỗ không có chi thì thấy trống không. Vậy cái thấy ấy đối với các đối tượng được thấy kia là đồng một thể thì sáng tối khác nhau, Sắc và Không khác nhau; đồng một thể với sáng thì không thể đồng một thể với tối; đồng một thể với Sắc thì không thể đồng một thể với Không. Lại khi sáng thì không tối, khi tối

* Trang 343 *
device

tối thì không sáng. Nếu đồng một thể với tối, thì khi sáng cái tối diệt mất, cái thấy cũng phải diệt mất; vậy cái thấy đã diệt mất rồi thì lấy cái gì để mà thấy cái sáng ? Còn nếu như cái thấy khác hẳn với cái sáng và cái tối, thì ngoài cái sáng và cái tối ra, còn nương vào đâu mà nhận được cái thấy ? Cái thấy thấy sáng, cái thấy thấy tối, cái thấy thấy Sắc và cái thấy thấy Không, các đối tượng được thấy khác nhau, song cái thấy vẫn một, nên không thể gọi là đồng. Nhưng cái thấy và cái bị thấy đối đãi với nhau mà thành lập, ngoài cái được thấy ra, không có cái gì đáng gọi là thấy, nên cũng không thể nói là khác được. Nói là khác cũng không đúng, nói là đồng cũng không nhằm; lại cái năng kiến có cảm giác, cái sở kiến không cảm giác, không thể có sự hòa hiệp cùng nhau; vậy cái tánh thấy kia từ đâu mà phát hiện ? Xét như vậy thì biết, cái tánh thấy cho đến cái tánh nghe, tánh ngửi v.v… đều không có tự tánh, chỉ theo nghiệp mà phát hiện. Các đối tượng đó gọi là Kiến đại hay là Căn đại, đều là viên dung cùng khắp, đều là Như Lai tạng tánh. Như Lai tạng tức là bản giác, thường vi diệu, thường sáng suốt; cái tánh sáng suốt ấy biểu lộ ra nơi các Căn nên có Căn đại. Căn đại không sanh không diệt, cùng khắp mười phương, không chia Năng Sở, chỉ theo tâm lượng, theo nghiệp lưu chuyển (tuần hoàn) của chúng sinh mà phát hiện. Phát hiện tùy theo duyên nên gọi là Diệu; bản lai thanh tịnh nên gọi là Như; thật ra Căn đại chỉ là diệu chơn như tánh.
 
*

* Trang 344 *
device

“Này A-nan, tánh của thức không có nguồn gốc, nhơn nơi 6 thứ căn trần giả dối hiện ra. Nay ông xem Thánh chúng trong hội này, nếu Ông dùng mắt ngó quanh thời mắt Ông thấy khắp, cũng như bóng hiện trong gương, không chia chẻ ra cái này cái khác. Cái thức của Ông trong đó theo thứ lớp chỉ bày : đây là ông Văn Thù, đây ông Phú-lâu-na, đây là ông Xá-lợi-phất. Sự hay biết của thức như vậy, lại là sanh nơi cái thấy, sanh nơi cái tướng, sanh nơi hư không, hay không nhơn gì mà bỗng nhiên sanh ra ? Này A-nan, nhược bằng cái thức Ông sanh nơi cái thấy, nếu như không có sáng tối và sắc không, thì cũng không còn cái thấy của Ông; chính cái tánh thấy còn không có, thì do đâu mà phát cái thức ? Nếu cái thức Ông sanh nơi các tướng chớ không do cái thấy sanh ra, thì không thấy sáng, cũng không thấy tối; sáng và tối không thấy thì không có sắc và không; các tướng kia còn không có, vậy cái thức do đâu mà phát được ?
Nếu sanh nơi không, không dính gì đến các tướng và cái thấy, vậy không có thấy thì không cảm giác, tự không thể biết thế nào là sáng, là tối, là sắc, là không; không có sắc tướng thì ngoại duyên tiêu diệt, các thứ thấy nghe hay biết không chỗ nào mà an lập. Cái thức đã không phải cái thấy, đã không phải cái tướng, nếu nó là không, thì cũng đồng như không có; nếu nó là có, lại không phải đồng với các vật, vậy dẫu phát ra cái thức Ông, lại đem ra mà phân biệt cái gì ? Còn như nếu cái thức không nhơn gì bỗng nhiên mà phát ra, thì vì sao lúc giữa ngày lại không riêng phân biệt mặt trăng sáng. Ông hãy xét kỹ, xét soi chín chắn, cái thấy gá vào trong con mắt Ông, như cái tướng thì

* Trang 345 *
device

thì cho về phần tiền cảnh; còn cái có thể chỉ hình trạng; thì thành ra có; cái không có tướng, thì thành ra không; còn cái thức duyên như vậy, nhơn đâu mà phát ra.
Cái thức thì lay động, cái thấy thì đứng lặng, không phải hòa, không phải hiệp; các cái ngửi, nghe, hay biết đều cũng như vậy, không lẽ cái thức duyên kia không từ đâu mà tự ra.
Nếu cái thức tâm ấy vốn không từ đâu thì nên biết các tánh phân biệt và thấy nghe hay biết đều vắng lặng cùng khắp, tánh không phải do các món sở duyên, và gồm với hư không và địa thủy hỏa phong kia đều gọi là bảy món đại, tánh thật viên dung, đều là Như Lai tạng, vốn không sanh diệt. Này A-nan, tâm Ông thô thiển, không được cái tánh rõ biết, phát minh ra nơi sự thấy nghe, vốn là Như Lai tạn; Ông hãy xét cái thức tâm nơi sáu chỗ căn trần là đồng là khác, là có là không, là không phải đồng khác hay là không phải có không ? Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, cái tánh thức tức là cái tánh minh, bản giác, cái tánh minh bản giác là cái chơn thức, tánh diệu giác lặng yên cùng khắp pháp giới, ẩn hiện khắp mười phương, đâu có nơi chốn, theo nghiệp lưu chuyển (tuần hoàn) mà phát hiện. Thế gian không biết, cứ lầm là tánh nhơn duyên và tánh tự nhiên, đều là lối so đo phân biệt của thức tâm, chỉ có lời nói, toàn không thực nghĩa.”
Bấy giờ ngài A-nan với Đại chúng, nhờ lời chỉ bày nhiệm mầu của đức Như Lai, thân tâm phẳng lặng không điều ngăn ngại. Các người trong Đại chúng ấy, mỗi mỗi tự biết cái tâm khắp cả mười phương, thấy hư không mười

 

* Trang 346 *
device

phương như thấy cái lá, cái vật nắm trong bàn tay, hết thảy các vật sở hữu trong thế gian đều là cái tâm tính “Bồ-đề nhiệm mầu” sáng suốt.
Cái tâm tính đã cùng khắp viên mãn, trùm chứa mười phương, trở lại xem cái thân cha mẹ sanh ra cũng in như thổi một mảy bụi trong hư không mười phương kia, dù còn dù mất, cũng in như trôi một bọt nước trong biển lớn yên lặng, mặc dù sanh diệt; rõ tự biết đặng cái tâm bản diệu thường trú không diệt, lễ Phật, chấp tay, đặng cái chưa từng có; ở trước Như Lai, nói lời kệ tán Phật : “Pháp Thủ Lăng Nghiêm của đức Diệu trạm tổng trì bất động, trong đời thật ít có; làm tiêu cái vọng tưởng điên đảo trong ức kiếp của chúng con và làm cho chúng không trải qua đường tu hành ba lần a-tăng-kỳ kiếp, mà chứng đặng Pháp thân. Nay chúng con chứng quả, thành vị Bửu Vương, nguyện trở lại độ như vậy cho những chúng sinh như cát sông Hằng. Đem cái thâm tâm này phụng sự các sát độ như số vi trần, ấy mới gọi là báo ơn Phật. Cúi xin đức Thế Tôn chứng minh cho, con thề xin vào trước trong ngũ trược ác thế, như một chúng sinh chưa thành Phật, hẳn không chứng Niết-bàn nơi ấy.
Đức Đại hùng, Đại lực Đại từ bi, mong lại xét trừ những điều lầm nhỏ nhiệm, cho chúng con mau lên bậc Vô thượng giác, ngồi nơi đạo trường thuyết pháp các thế giới mười phương, tánh hư không kia có thể tiêu mất, tâm chắc chắn này không hề lay động.”
*
Còn như thức đại, nghĩa là cái tánh hay biết, phân biệt sự này vật khác; nó vốn không tự thể, chỉ nhơn căn
 

* Trang 347 *
device

đối với trần, trần đối với căn mà giả dối phô bày. Như ông A-nan lấy con mắt xem cả đại chúng, chỗ con mắt thấy chỉ như gương hiện ra bóng, không chia chẻ người này người khác. Trong các bóng hiện ra đó, cái thức đem ra phân biệt ông này là Văn Thù, ông này là Phú-lâu-na v.v… Phân biệt như vậy xét ra không phải phát sanh nơi cái thấy, không phải phát sanh nơi các tướng, không phải phát sanh nơi hư không, cũng không phải không duyên cớ gì tự nhiên mà sanh.
Như nói sanh nơi cái thấy thì ngoài các món sáng tối, sắc không, vốn không cái gì đáng gọi là cái thấy; cái thấy còn không có, làm sao phát sanh ra được cái thức. Như cái thức kia sanh nơi sắc tướng, không can thiệp với cái thấy thì đã không thấy sáng tối, sắc, không, cái thức do đâu mà phân biệt. Nếu sanh nơi hư không, không can thiệp gì đến sắc tướng và đến cái thấy, thì đã không có cái thấy, lại không có tướng, cái thức dù phát ra cũng không thể do đâu mà phân biệt; đã không phân biệt thì nương vào đâu mà gọi là thức. Còn như tự nhiên sanh ra, thì sao khi đứng bóng không phân biệt mặt trăng, khi trời tối không phân biệt màu xanh, màu đỏ. Xét cùng nghĩ tột, thấy là về căn, tướng là về trần, có thể chỉ bày mới gọi rằng có, không thể chỉ bày thì cũng như không, vậy cái thức phân biệt như kia tự đâu mà ra. Cái thức thì phân biệt sự này sự khác, biến động không chừng; các căn thì không phân biệt, hai cái không thể hòa hiệp cùng nhau, không lẽ cái thức phân biệt
kia không từ đâu mà tự phát ra; vậy thì biết cái thức kia viên dung cùng khắp, không có năng sở, như sáu món đại đã kể trước đồng một tánh. Như Lai tạng, không sanh

 

* Trang 348 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm