LOGO VNBET
Phần Tựa Riêng
 
Chư Phật ra đời thuyết pháp đều do nhân duyên. Khi Phật nói pháp gì, dù cao hay thấp đều tùy theo căn cơ của người nghe, cốt là chỉ rõ những điều mê lầm và dạy bảo cho họ phương pháp để tu hành cho thích hợp.
Trong Phần Tựa Riêng này của Kinh Thủ Lăng Nghiêm, có kể việc Tôn giả Ananda đi khất thực một mình, bị mắc phải tà chú của Ma-đăng-già, suýt phá giới
thể. Phật biết và sai Bồ-tát Văn Thù đem chú đến cứu thoát. Sau khi được Phật cứu thoát, Tôn giả tự giận mình học rộng nghe nhiều mà không đủ định lực chống lại tà thuật của ngoại đạo, nên khẩn thiết cầu Phật chỉ cho phương pháp tu hành để mau thành Chánh quả. Đó là lý do riêng biệt phát khởi ra Kinh Thủ Lăng Nghiêm này.
Lúc ấy vua Ba-tư-nặc (Prasenajit) [một vị vua sau trở thành đệ tử thuần thành của Phật, ông có bà vợ là Mạtlợi phu nhân cũng là một đệ tử tại gia thuần thành, hết sức mộ đạo, vua và hoàng hậu có một người con gái là Thắng Man (Màlysrì) phu nhân, dựa vào thần lực của Phật thuyết kinh (Thắng Man), nhân ngày húy nhật của phụ vương, sửa soạn trai nghi, thỉnh Phật đến cung cấm (hậu cung, thâm cung) tự mình đón rước Phật, thiết đãi nhiều thứ diệu vi, trân báu tối thượng, đồng thời cũng đích thân mời các vị đại Bồ-tát khác đến cung cấm thụ trai.

 

* Trang 66 *
device

Trong thành lúc ấy còn có các hàng trưởng giả cư sĩ đồng thời cũng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật mới bảo Văn-thù phân lãnh chúng Bồ-tát và A-la-hán ứng đến các trai chủ. (Vì không phải vua mời mà còn các trưởng giả cư sĩ cũng mời nữa). Cho nên Phật mới sai Ngài Văn-thù phân chia chúng Bồ-tát và A-la-hán đi các chỗ mời đó.
Duy chỉ có Tôn giả A-nan trước đã nhận lời thỉnh riêng (biệt thỉnh : có trai chủ thỉnh trước và đã nhận lời rồi), đi xa chưa trở về, nên không kịp theo hàng Tăng chúng. Khi đi A-nan đã không có vị Thượng tọa và A-xà-lê đi theo, giữa đường trở về một mình, ngày đó không có ai cúng.
Bây giờ A-nan cầm bình bát đi đến nơi thành, thứ lớp tuần tự khất thực, trong tâm ban đầu chỉ mong cầu có hàng đàn-việt cuối cùng, xưa nay chưa từng bố thí để làm trai chủ, không kể sang hèn, dòng Sát-đế-lỵ hay Chiên-đàla. Ông đang thực hành từ tâm bình đẳng, (đó là dòng Sátlợi tôn quí hay là Chiên-đà-la. A-nan nghĩ rằng mình thực hành tâm từ bi bình đẳng chứ không lựa chọn sang hèn), phát tâm muốn làm thành tựu viên mãn tất cả chúng sinh  đều đặng vô lượng công đức. A-nan đã biết đức Như Lai Thế Tôn quở trách ngài Tu-bồ-đề và ngài Đại Ca-diếp làm A-la-hán mà tâm không công bằng, nên ông kính ngưỡng lời dạy vô giá của đức Như Lai đặng khỏi mọi điều chê bai nghi hoặc. Trải qua trong thành hoàng kia bước từ từ vào cửa, nghiêm chỉnh oai nghi cung kính giữ pháp hóa trai.
Bấy giờ A-nan nhơn khi đi khất thực qua nhà dâm nữ, gặp phải chú đại huyễn thuật Ma-đăng-già nữ, dùng chú

 

* Trang 67 *
device

Sa-tì-ca-la Tiên Phạm thiên, thâu nhiếp vào nơi dâm sàng, đích thân vuốt ve sắp hủy phá giới thể của A-nan.
Một số từ nên biết : Ba-tư-nặc (Prasenajit) là Vua thành Thất-la-phiệt. Thượng tọa là vị Tỷ-kheo tu hành nhiều hạ hơn mình. A-xà-lê dịch là Quỉ phạm sư, nghĩa là thầy làm khuôn phép cho trong chúng. Phàm Tỳ-kheo đi xa, theo luật phải có hai thầy cùng đi, đặng phòng sự lỗi lầm. Đàn Việt nghĩa là người thí chủ. Sát-đế-lỵ (Ksatriya) là dòng quí tộc. Chiên-đà-la (Sùdra) là người hàng thịt, là dòng hèn hạ. Từ tâm bình đẳng nghĩa là lòng thương yêu chúng sanh như nhau, làm cho tất cả chúng sanh đều được an vui. Chẳng quân bình : nghĩa là chẳng cân bằng, như ông Tu-bồ-đề cứ xin nhà giàu, ông Ca-diếp chỉ xin nhà nghèo, cả hai đều còn thiên vị. Vô giá nghĩa là không ngăn ngại. Chê bai nghi hoặc : thấy xin nhà giàu thì chê bai, thấy xin nhà nghèo thì nghi hoặc. Phép hóa trai nghĩa là những lễ phép phải giữ trong khi đi khất thực. Gần phá giới thể nghĩa là bấy lâu gìn giữ giới luật, nay bị dâm nữ gần muốn phạm giới, nhưng chưa phạm. Hóa thân của Phật, nghĩa là vị Phật của đức Thích-ca biến hóa ra cũng đủ tướng tốt và đi đứng nói năng như Phật.
(Tôn giả vì thọ biệt thỉnh tức thỉnh từng người, tùy theo các tín đồ hay từng sự việc biệt thỉnh).
Hôm đó Tôn giả thọ biệt thỉnh cho nên không kịp đi về để cùng với Tăng chúng đi thụ trai ở trong cung vua, hay trong các nhà trưởng giả. Lúc A-nan đi không có vị Thượng tọa và cũng không có A-xà-lê cùng đi. Tôn giả chỉ đi một mình đơn độc (Ta biết trong kinh Đức Phật dạy cho

 

* Trang 68 *
device

các Tỷ-kheo khi đi hoằng hóa thì cứ hai người một đoàn mà đi). Sau khi Đức Phật thuyết pháp cho các đệ tử ở Lộc Uyển xong, Ngài khuyến cáo các vị nên đi hoằng hóa và cùng đi khất thực để mang thực phẩm về cho người ở lại trong Lộc Uyển. Bây giờ A-nan đi một mình chứ không có ai theo. Ngày đó cũng không có ai cúng, vì vua và các trưởng giả cư sĩ bận cúng dường Phật và Tăng chúng, có ai ngờ A-nan đã nhận lời đàn-việt cúng riêng. Do đó A-nan mới cầm bình bát đi vào trong một thành, thứ lớp khất thực, trong tâm lúc đầu không mong gì hơn là làm sao có vị đàn-việt tối hậu để làm trai chủ. (Chữ đàn-việt tối hậu có nghĩa là tất cả những người đàn việt họ đã thiết trai cúng cả rồi. Nếu ai phát tâm cúng nữa thì thật là tối hậu, đó là người sau cùng. Mong có một người nào sót lại để cúng mà thôi, không kể người đó là tịnh hay uế thuộc về  dòng tôn quí Sát-lợi hay dòng hạ tiện Chiên-đà-la. Một mặt thực hành tâm từ bi bình đẳng, chứ không lựa chọn kẻ sang người hèn. Phát ý làm sao để viên mãn thành tựu vô lượng công đức cho tất cả chúng sinh. A-nan chỉ cốt chừng ấy thôi, ai cúng dường được thì có công đức, không kể Sát-đế-lỵ, không kể Chiên-đà-la. Tôn giả A-nan đã biết Đức Thế Tôn quở trách ngài Tu-bồ-đề và Đại Ca-diếp là A-la-hán mà tâm không công bằng, đi khất thực thì một ngài cứ lựa nhà giàu mà hóa trai, một ngài cứ chọn nhà nghèo mà đến. Ngài Tu-bồ-đề hay tới nhà giàu vì nghĩ họ giàu, họ mới có để cúng, chứ nghèo quá thì lấy gì mà cúng, nếu có cúng thì cũng bức rức thêm tội. Còn ngài Cadiếp chuyên tới nhà nghèo vì nghĩ rằng thiếu phước nên mới nghèo. Giờ mình tới khất thực để họ làm phước, sau này cầu cho

* Trang 69 *
device

họ giàu lên, khá lên. Cả hai ý nghĩ đều tốt hết, nhưng mất tâm bình đẳng, vì vậy sinh ra cái nghi, cái báng. Nghi là thế nào ? Có người sẽ nghĩ : À, Ông này có dính líu chi nơi nhà đó, vì nhà đó nghèo mà Ông cứ tới lui mãi, chắc cũng có cái gì đây nên nghi. Còn báng thì thấy người ta giàu cứ tới mãi; vì vậy bị Đức Phật quở.
Tôn giả A-nan biết chuyện đó nên không dám làm theo chuyện nghi báng đó nữa, tuần tự đi trong thành với một dáng vẻ nghiêm chỉnh, oai nghi cung kính theo pháp hóa trai, (chứ không phải vừa đi, vừa cười, vừa nói, vừa giỡn, vừa huýt gió). Nhưng không ngờ trong khi đi khất thực, ngang qua nhà dâm nữ, gặp đại huyễn thuật Ma-đăng-già dùng chú Sa-tì-la (là chú của ông này truyền lại cho dòng họ đó) thu hút, bắt Tôn giả A-nan đi vào nơi dâm phòng. Từ cái thân mình dâm dục của nàng vuốt ve, để A-nan phá giới thể. (Tướng phá giới thể là chưa phá, nếu cứu không kịp thì chưa biết sự thể ra thế nào).
Bữa trước tôi cũng có nói chuyện Tôn giả A-nan rồi. A-nan đi khất thực như vậy thì gặp một cô, cô này thấy Tôn giả đẹp trai quá nên cứ đi theo đến tinh xá mà đợi. Hễ Tôn giả đi đâu thì cô nàng cứ đi theo đến nỗi Phật phải dùng xảo trí dụ cho cô này nghe pháp. Sau khi nghe pháp, cuối cùng người nữ này cũng xin đi tu luôn.
Hai chuyện về Tôn giả là vì nữ nhân mê sắc đẹp của Tôn giả, mà cả hai lần Phật đều ra tay cứu mới thoát. Cả 2 cùng giống nhau và đó là duyên cớ để Phật nói kinh này.
Chuyện đầu khi A-nan gặp người dâm nữ, nàng thích A-nan, Phật kêu hỏi, nàng ưa gì ở A-nan ? Nàng nói, con

 

* Trang 70 *
device

ưa cặp mắt. Phật nói, cặp mắt có khi cũng bài tiết hôi hám có gì mà ưa ! Cô ưa gì nữa ? Ưa lỗ mũi. Nhưng nàng có biết hai lỗ mũi bài tiết đồ bất tịnh, có gì mà ưa. Ngài nói cho cô nàng biết, cuối cùng cô nàng ngán ngẫm và hết yêu. Đây cũng là chuyện của A-nan, nhưng ý rằng nhân chuyện A-nan, Phật lấy làm duyên khởi cho cái lý nghĩa mà Phật sắp nói là bộ Lăng Nghiêm này.
Đức Như Lai biết A-nan bị dâm chú dâm thuật gia hại, cho nên thọ trai xong liền quay trở về tinh xá. Vua và đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật nguyện nghe pháp yếu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn từ trên đảnh phóng ra hào quang vô úy trăm báu, trong hào quang ấy xuất sanh sen báu ngàn cánh, trên mỗi hoa sen ấy có Đức Phật hóa thân, kiết già phu tọa tuyên nói thần chú, sắc bảo Văn-thù-sư-lợi đem thần chú đó đến cứu độ, làm cho thần chú hung ác của Ma-đăng-già bị tiêu diệt, dắt dẫn đem A-nan về và Ma-đăng-già cũng đến chỗ Phật.
Ở đây Ngài sai Văn-thù dùng thần chú để đem A-nan về. Trong chuyện trước thì Phật dùng lối phân tích, Ngài nói : Thôi được, ngươi muốn lấy A-nan làm chồng cũng được, nhưng A-nan cạo đầu mặc áo Ca-sa, mà ngươi để đầu tóc như thế này coi sao được. Vậy muốn lấy A-nan thì phải cạo đầu, đổi áo và về thưa cha mẹ cho phép mới được. Cô ta về thưa mẹ thì bà la làng không chịu. Bà nói nếu con sa vô ảo thuật của Cù-đàm lỡ cạo đầu tu luôn thì sao ? Nhưng nàng yêu A-nan quá nên bất chấp lời can của mẹ, chịu cạo đầu để đi theo A-nan và đến tinh xá hầu

* Trang 71 *
device

Phật. Một thời gian nghe pháp và liễu đạo và sau đó quả thật nàng tu luôn. Cả hai cùng dùng thần chú, Ma-đăng-già dùng thần chú để thỏa mãn tính dâm của mình, trái lại, Ngài dùng thần chú để kéo Tôn giả ra khỏi cảnh dâm, đưa A-nan đến bờ giải thoát. Chú của Ngài dùng gọi là Vô kiến đảnh tướng.
Vô kiến đảnh tướng ở đây muốn nói tự thể tính không lay động, tự thể tính thanh tịnh, mà thể tính không lay động này chúng sinh đang mê muội. Vì mê tự thể tính đó nên bị chú thuật khác lôi cuốn. Nếu ngộ được tự thể tính đó thì tự chính nó phát quang, tự nó có thần lực, sẽ làm cho chú thuật tà vọng của Ma-đăng-già phải tiêu tan. Chú thuật này phải tùy theo thời mà nói. Ví như mình nói một câu, câu nói đó có hiệu nghiệm cũng là một chú thuật. Chú thuật đây khi đọc người ta thấy có vẻ thiêng liêng mầu nhiệm nên gọi là chú thuật. Khi mình đọc chú, vậy chú gồm ý gì ? Chú ấy phải thiêng liêng, mầu nhiệm, cải hóa được ta; nó dẹp trừ ác loạn. Vậy thì một câu nói mà dẹp được sự hung ác thì cũng gọi là thần chú. Cho nên Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh cũng gọi là thần chú. Nói như vậy để hiểu câu chú của Phật nói trong này.
Sự thuyết pháp của Phật là Pháp thân thuyết, Báo thân thuyết và Hóa thân thuyết. Cả ba thân đều thuyết. Nhưng pháp thân thuyết cho ai ? Báo thân thuyết cho ai ? Hóa thân thuyết cho ai ? Tùy theo mỗi căn cơ mà Phật thuyết pháp khác nhau. Ở đây là hóa thân Phật thuyết thần chú trong trường hợp đối địch lại loại ma chú, ma thuật của Ma-đăng-già.

 

* Trang 72 *
device

 A-nan về trông thấy Phật cúi đầu đảnh lễ buồn khóc, ân hận từ vô thỉ đến nay, một mặt học rộng nghe nhiều, chưa toàn đạo lực, ân cần thưa thỉnh những pháp
Sa-ma-tha, Tam-ma và Thiền-na (Thiền định) là phương tiện tối sơ của 10 phương Như Lai đắc thành Bồ-đề. Bấy giờ lại có hằng sa Bồ-tát và 10 phương Như Lai đắc thành A-la-hán, Bích-chi Phật v.v… đều mong muốn nghe Phật dạy, lui ngồi tại chỗ mình, lặng thinh để mong nghe thánh chỉ.
Khi A-nan được đem về trước Đức Phật rồi, bấy giờ đầu lễ buồn khóc, hận cho mình từ vô thỉ nhất hướng đa văn, chưa toàn đạo lực, nhưng lúc này chỉ là đa văn chứ không toàn đạo lực được. Cho nên đa văn, không thể tránh được Ma-đăng-già, cũng chưa biết nhiều khi cái đa văn đây là cái mồi, là phương tiện để Ma-đăng-già dễ bắt.
Bữa trước đài BBC nói có một vị sư nào đó, nhờ đài BBC ca một bài theo lời yêu cầu của vị ấy tặng cho người bạn gái 10 năm về trước. (Chắc lúc chưa tu). Vị sư mà yêu cầu như rứa, lạ chưa ! Mà lại còn nhờ đài ngoại quốc đưa tin. Không biết tàm quí ra sao mà họ làm vậy, tôi cũng không hiểu nỗi, chịu thua. Trình độ và tâm tư học đạo của vị ấy ra sao mà làm vậy, tôi cũng quá ngán ! Chuyện làm sai với pháp với luật của Phật mà vị ấy muốn cho cả thế giới biết mới là chuyện lạ ! Họ tu cái hạnh gì mà tôi đọc kinh, luật, luận từ trước tới nay không thấy có trong kinh, hay có lẽ họ nghĩ tặng cho cô bạn gái thuở xưa mới là lợi tha. Cái lợi tha đó chắc chỉ có dưới cõi địa ngục, chứ thế gian này người có tu e không dung nỗi. Đài BBC là đài thông tin của người thế gian, họ có nhiều chương trình

 

* Trang 73 *
device

trong đó có chương trình nhạc yêu cầu, nên khi được yêu cầu thì nó đọc, chứ có biết tu sĩ hay không tu sĩ gì đâu. Rồi lại có một vị sư khác, mê đá banh quá, vị sư già không cho coi nên vị ấy nằm mớ và đá vào vách chợt chân, sưng cẳng và câu chuyện cũng gởi cho đài BBC. Tâm lý của các vị sư trên không biết có tụng kinh học kinh không, và mùi đạo không biết có dính nơi họ không ? Tôi chắc những vị ấy khi được hỏi về việc bảo vệ và hoằng dương đạo pháp, thì chắc là đạo pháp theo kiểu mê đá bóng như trên thì thật là lung tung, ngụy tặc vô cùng, hết chỗ nói. Nên chúng ta không học Kinh, Luật, Luận là nguy hiểm vô cùng. Các vị này xét một mặt nào đó, họ cũng đa văn chứ không phải không đa văn đâu, nhưng đa văn theo vô minh. Trái lại những vị không đa văn thì họ không có thì giờ để viết cho đài BBC đâu, và chắc cũng không biết địa chỉ của BBC ở đâu mà gởi. Như vậy họ cũng tinh vi lắm, gởi đúng địa chỉ của đài BBC. Như vậy các vị trên cũng là hạng đa văn chứ không phải không đa văn ! Nhưng đa văn theo kiểu phàm phu ngu muội của thế gian.
Trở lại với Tôn giả A-nan, Tôn giả nghĩ đa văn không làm sao mà địch nghiệp lực được. Cho nên trong kinh có câu : Thông minh bất năng địch nghiệp lực (thông minh không thể địch nghiệp lực), chỉ có tu mới địch được nghiệp lực. Nhiều khi cái thông minh thế trí biện thông nó đẻ ra nghiệp nữa, đã không địch rồi mà nó còn mánh lối đẻ thêm, nhiều nghiệp hơn nữa mà không ai chỉ huy được, có nói thì chỉ nói loanh quanh thôi, chả trúng vào đâu cả. Cho nên có câu thông minh bất năng địch nghiệp, đừng ỷ sức thông minh của mình muốn sao thì muốn. Trường hợp của

 

* Trang 74 *
device

Tôn giả A-nan cũng vậy, nên Tôn giả ân hận lắm, cứ nghĩ rằng mình là đa văn mà chưa toàn đạo nghiệp. Nên ân cần xin Phật, xin cái gì ? Xin cái phương tiện tối sơ là Sa-matha (định) (Tam-ma, thiền-na) mà mười phương đức Như Lai, nương nơi đó được thành Bồ-đề. Sámatha, là định nhơn, Samàdhi là định tự tướng, nó khác nhau ở chỗ Samatha là định nhơn, Samàdhi là định tự tướng, và Dhyàna là định quả tướng, tất cả đều là định hết. Sámatha là nhơn (mới bắt đầu), Samàdhi = định, chính ngay tự tướng ở Samàdhi.
Định nhơn tướng, định tự tướng, định quả tướng, trong Duy thức phần A-lại-da-thức, Tạng thức thì cũng có 3 chữ đó để cắt nghĩa sự khác nhau của cái định. Định là từ chung nhưng khi phân tích có phần nhơn, phần tự tướng (chính nó, nó đủ cả nhơn cả quả). Quả tướng nó nặng về quả. Nhơn tướng nó nặng về nhơn, tự tướng gồm đủ cả nhơn cả quả. Chính cái định là phương tiện tối sơ mà thập phương Như Lai dựa vào đó đắc thành Bồ-đề, nên Tôn giả A-nan bây giờ ân hận đa văn, chưa toàn đạo nghiệp, mong Phật chỉ cho cái tối sơ phương tiện mà thập phương chư Phật dựa vào đó để trở thành Bồ-đề. Bấy giờ có hằng sa Bồ-tát và các vị A-la-hán đều mong muốn nghe, đều lui về chỗ ngồi của mình yên lặng để chờ nghe Đức Phật thuyết pháp.
Khi thưa thỉnh như vậy rồi, Phật mới nói có Pháp Sámatha (là định tự tướng, chữ ấy tức gồm cả ba chữ trên). Trước xin hỏi 3 chuyện, ở đây Phật nói một chuyện. Mà một chuyện đó tức gồm cả 3 chuyện. Trong

 

* Trang 75 *
device

đó có Định tự tướng. Định tự tướng tên là Đại Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm đầy đủ muôn hạnh, 10 phương Như Lai từ nơi một cửa đó mà ra là tướng Diệu trang nghiêm, từ nơi một cửa đó mà siêu xuất. (Định Thủ Lăng Nghiêm đầy đủ muôn hạnh đó là con đường Diệu trang nghiêm mà 10 phương đức Như Lai từ chính cửa đó mà được ra khỏi tam giới. A-nan cúi đầu đảnh lễ Phật xin nghe.
 
(Đến đây là hết Phần Tựa, Tựa Chung, Tựa Riêng.)

*

* Trang 76 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm