LOGO VNBET
Phần Tựa Chung
 
Theo kinh Trường bộ thuộc kinh tạng Pàli, trước khi đức Phật sắp Niết-bàn, Tôn giả A-nan-da có thưa với Phật nhiều Phật sự cần làm sau khi Ngài Niết-bàn, trong đó có việc kiết tập kinh điển thì nên để câu gì trước tiên … Phật dạy nên để câu : “Như vậy tôi nghe, một thời Phật ở tại … có bao nhiêu thính chúng dự nghe, họ là những ai …” để chứng thực kinh ấy là có thực và có nhiều người nghe biết. Kinh Thủ Lăng Nghiêm này cũng vậy, Ngài nói kinh này ở tại Tinh xá Kỳ-hoàn, trong thành Thất-la-phiệt, Đại chúng gồm có 1250 vị Tỳ-kheo đã chứng A-la-hán. Trong chúng này có các vị Trưởng lão là Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên … lại có các vị Duyên Giác, các hàng Bồ-tát, trong đó có ngài Văn-thù-sư-lợi là vị đại Bồ-tát làm thượng thủ. Ngoài ra còn có vô số Bích-chi Phật, các hàng Tỳ-kheo mãn hạ từ 10 phương đến hầu Phật xin Ngài giải quyết nghi hoặc. Tất cả đều thỉnh cầu được nghe Phật giảng nghĩa lý thâm mật của kinh.
Phần Chánh kinh
Câu đầu là Như thị ngã văn…
 Như vậy tôi nghe, một thời Đức Phật ở tại thành Thất-la-phiệt, tinh xá Kỳ Hoàn cùng với đại chúng Tỷ-kheo 1250 người đông đủ, đều là bậc Đại A-la-hán vô lậu, là những vị Phật tử trú trì, khéo vượt qua các cõi, ở nơi các

* Trang 59 *
device

quốc độ thành tựu oai nghi, theo Phật chuyển pháp luân, khéo kham nhận lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm trì giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho tam giới, ứng thân vô lượng độ thoát chúng sinh, cứu vớt vị lai, vượt khỏi trần lụy. Những vị đó là đại trí Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Câu-hy-la, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử, Tu-bồ-đề, Ưu-ba-ni-sa-đà làm bậc thượng thủ.
Lại có vô số Bích-chi vô học và hàng sơ tâm đồng đến chỗ Phật.
Nhằm ngày Tự tứ của các thầy Tỳ-kheo mãn hạ, các vị Bồ-tát từ mười phương đến xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng đức Từ nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật.
Đức Như Lai trải tọa cụ, ngồi khoan thai, vì các người trong hội chúng, tỏ bày nghĩa sâu. Cả hội chúng thanh tịnh, đặng pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim Ca-lăng-tần-già, nghe khắp mười phương. Các bậc Bồ-tát nhiều như số cát sông Hằng, đều đến đạo tràng, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.
Một số từ nên biết : Phật Đảnh là tướng tốt trên đảnh Phật. Kinh này cao siêu hơn các kinh khác nên ví dụ với đảnh tướng của Phật. Mật Nhơn là nhơn kín nhiệm. Liễu Nghĩa là nghĩa rõ ràng rốt ráo. Thủ Lăng Nghiêm (tiếng Phạn : Sùramgama) nghĩa là rốt ráo bền chặt, tức là một loại định rất cao thâm không thể lay động của đạo Phật. Sa-môn (Sramana), nghĩa là siêng năng tu hành chánh đạo, dứt trừ phiền não, tức chỉ cho các người xuất gia. Kỳ Hoàn tinh xá là nhà của Phật và Tăng chúng ở, được dùng làm nơi để giảng kinh, tọa lạc trong rừng (Vana) của thái tử Kỳ

 

* Trang 60 *
device

Đà (Jeta). Tỳ-kheo (Bhiksu) gồm 3 nghĩa : Khất sĩ, các thầy đi khất thực, cầu pháp; Bố Ma, làm cho tà ma hãi sợ; Phá ác, là dẹp trừ tội ác. Vô lậu (Anàsrava) nghĩa là không mê lầm. Phật tử nghĩa đen là con Phật, vì nhờ Phật giáo hóa, chứng đặng pháp tánh về sau noi dấu thành Phật, nên gọi là Phật tử. Chư hữu nghĩa là các cõi có danh tướng. Giải thoát (Mukti) là không bị gì ràng buộc. Uy nghi là  những hành vi đúng đắn của tu sĩ, gồm đủ tám vạn bốn ngàn uy nghi. Bánh xe Chánh pháp : Chánh pháp của Phật vẹn toàn không khuyết, hay phá dẹp các thứ phiền não, tà ngoại nên ví dụ với bánh xe; chuyển bánh xe chánh pháp tức là tuyên truyền chánh pháp của Phật. Di chúc nghĩa là lời dặn cuối cùng. Phật di chúc cho các đệ tử gắng sức hoằng truyền Phật pháp để hóa độ chúng sinh. Tam giới là ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc giới. Hiện thân là hóa thân này hoặc thân khác theo cơ cảm của các loài. Trần lụy là sự ràng buộc của trần cảnh. Thượng thủ là bậc trưởng thượng trong hội chúng. Bích-chi nghĩa là Duyên giác. Vô học nghĩa là dứt vọng chứng chơn không tu học nữa. Sơ tâm là người mới phát tâm. Tự tứ là ngày các thầy Tỳ-kheo ra hạ, được phép cùng nhau chỉ những sự lỗi lầm cho nhau sau khi mãn ba tháng trong mùa hạ. Hạ nghĩa là thời kỳ ở yên tu hành lúc mùa hạ. Hạ từ 16 tháng 4 đến rằm tháng 7, các thầy Tỷ-kheo ở tu nơi chùa không đi đâu xa. Từ nghiêm nghĩa là cha hiền lành, vì Phật thương chúng sanh như con nên xưng Phật là Từ nghiêm. Nghĩa thâm mật là nghĩa lý thâm sâu nhiệm mầu. Tọa cụ là đồ để lót ngồi. Pháp chưa từng có là sau khi nghe Phật dạy mới chứng đặng pháp ấy. Ca-lăng-tần-già (Kalavinka) là thứ chim ở xứ Ấn Độ,
 

* Trang 61 *
device

tiếng kêu thanh tao dịu dàng hơn các loài khác. Sông Hằng (Gangà) là một con sông lớn nhất ở Ấn Độ, lòng sông có nhiều thứ cát nhỏ như bột, khó nỗi kể xiết. Đạo tràng (Bodhimandala) nghĩa là chỗ tu học và giảng kinh pháp. Sau đây tôi sẽ đi vào nội dung của kinh.
Như thị ngã văn : Theo ngài Thiên Thai, đề Tựa chung của các kinh gồm có 6 chứng tín. Như thị, ngã văn, nhất thời, Phật, tại đâu và chúng Tỷ-kheo bao nhiêu vị. Đây là một cách nói, lời Phật ở đây nói là hết sức xác đáng, chứ không nói theo lối mặc khải, không phải nói theo lối tôi nằm mộng tôi nghe (nằm mộng nghe thì không có chuyện này). Ở đây có nơi, có chốn, có lúc, có chúng nghe đàng hoàng.
Thường thường trong kinh khi vào đầu kinh có phần tựa, chánh tông và lưu thông. Trong phần tựa có hai : phần tựa chung và phần tựa riêng. Phần tựa chung là kinh nào cũng có phần tựa như vậy, còn phần tựa riêng là do duyên gì để Phật nói lên kinh đó. Kinh Lăng Nghiêm cũng có 2 phần như vậy.
Ở đây tôi đang nói về Phần Tựa Chung.
Phật ở nơi thành Thất-la-phiệt, tinh xá Kỳ Hoàn. (Có 2 tinh xá mà Phật thường trú nhiều nhất là tinh xá Kỳ Hoàn và tinh xá Trúc Lâm). Nơi đó có chúng Đại Tỷ-kheo (chữ đại có khi có nghĩa nhiều, có khi được dùng để chỉ cho những vị trưởng thượng, Tỷ-kheo lớn gọi là đại) gồm 1250 vị. Nên nhớ đệ tử của Đức Phật gồm mấy ngàn chứ không phải 1250 người, nhưng người ta thường nêu tiêu biểu 1250 là có lý do của nó. Các vị này đều là A-la-hán, các lậu đã

* Trang 62 *
device

sạch. Những vị đó là những vị Phật tử trú trì. (Phật tử nghĩa là tùng Phật khẩu sanh, tùng pháp hóa sanh, đắc Phật pháp phần. Hai chữ này ở trong kinh Pháp Hoa đã có nói). Cho nên sau này các kinh phần nhiều dùng chữ Phật tử trong kinh Pháp Hoa để cắt nghĩa. Hàng Phật tử đây là hàng hộ trì chánh pháp. Thiện siêu nghĩa là khéo vượt qua. Chư hữu là 3 cõi. Thiện siêu chư hữu là ngụ ý chỉ cho chúng Đại Tỷ-kheo này đã khéo vượt qua các cõi, (vượt qua các cõi này cũng khéo lắm, tinh tấn lắm mới vượt, chứ nằm ngủ cả ngày thì không vượt được, vụng về không vượt được, giải đãi không vượt được, lêu lõng, nhác nhớm càng không vượt được). Nghĩa thứ hai là vượt 3 cõi không có nghĩa là bỏ chạy trốn, ngay trong 3 cõi đó mà vượt khỏi 3 cõi nên gọi là Thiện siêu chư hữu, thành tựu oai nghi của mình nơi các quốc độ và theo Phật chuyển pháp luân. Chữ theo Phật chuyển pháp luân ở đây có 2 nghĩa. Một là đi theo Phật để nghe lời của Phật, nghe pháp luân của Đức Phật chuyển nói; và cũng có nghĩa là giúp cho Đức Phật chuyển pháp luân. Có những trường hợp giữa đại chúng không ai hỏi được, thì họ có khả năng đứng dậy phát biểu xin thỉnh hỏi. Lối hỏi như vậy cũng giúp Phật chuyển pháp luân. Ngài có cớ để giải đáp câu chuyện đó, pháp đó, cho nên cũng có nghĩa là giúp Phật
chuyển pháp luân. Chữ tùng Phật chuyển pháp luân này có 2 nghĩa như vậy.
Diệu kham di chúc, chúc pháp linh tuyền, chúc sanh linh độ (di chúc của Đức Phật là di chúc như vậy). Ngài di chúc truyền bá chánh pháp và di chúc độ thoát chúng sinh (cứu độ chúng sinh). Đó là một lời di chúc lớn lao, theo cái hạnh nguyện : thượng cầu hạ hóa. Khéo kham nhận được

* Trang 63 *
device

lời di chúc đó nên gọi là Diệu kham di chúc. Di chúc là truyền pháp một cách rất khéo và độ chúng sinh cũng rất khéo chứ không phải độ chúng sinh rồi để chúng sinh độ lại !
Nghiêm tịnh Tỳ-ni : Nghiêm trì giới luật, thanh tịnh, làm Thầy mô phạm rộng rãi cho 3 cõi, mực thước, khuôn mẫu cho ba cõi noi theo. Ứng thân vô lượng (ứng thân không có ngằn mé, không lường, độ thoát chúng sinh, cứu vớt đời vị lai). Vượt khỏi trần lụy (vượt khỏi cái hệ lụy của trần lao). Những vị đó là đại trí Xá-lợi-phất (Sàriputra), Đại Mục-kiền-liên (Mahàmaudgalyàyana) Đại Câu-hy-la (Mahàkausthila).
Lại có vô lượng hàng Bích-chi vô học và những người mới phát tâm cầu đạo đồng đến chỗ Phật.
Những vị này thuộc vào các hàng Tỷ-kheo sau khi hạ An cư (Varsa hoặc Varsàvasana) xong Tự tứ (Pravàrana).
Đây là Bồ-tát thừa : Và 10 phương Bồ-tát cầu hỏi để giải quyết các nghi ngờ trong tâm. Kính vâng đức Nghiêm từ, xin cầu nghĩa bí mật. Liền khi ấy đức Như Lai trải tọa ngồi thư thái, vì trong các hội chúng tuyên thị nghĩa thâm áo, các pháp hội chúng thanh tịnh đó được điều chưa từng có, nghe Đức Phật dạy những điều chưa từng được nghe. Cái tiếng Ca-lăng-tiên (Kalavinka) (Ca-lăng-tầng-già là một loài chim mà nó đủ các đức tính rất tốt, tiếng hót êm dịu, ngọt ngào, thanh tao, rõ ràng, vang dội khắp. Loài chim này khi còn ở trong trứng mà nó đã kêu tiếng hay hơn các loài chim khác). Ở đây ví cho âm thanh của Phật

 

* Trang 64 *
device

như là âm thanh của Ca-lăng-tầng-già, biến khắp 10 phương. Câu này ta nhớ khi Đức Phật nói lý Tứ đế thì âm vang của Ngài khắp đến cõi trời 33 và chư Thiên truyền lên đến Phạm thiên. Hằng sa Bồ-tát đều nhóm đến đạo tràng (khi nghe âm thanh vang dội thì các hàng Bồ-tát đều nhóm đến đạo tràng).
Ngài Văn-thù Sư Lợi (Mãnjusrì) làm bậc thượng thủ trong hàng Bồ-tát đó.
Đó là hết Phần Tựa Chung (tức Phần Mở đề).

 
*

* Trang 65 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm