LOGO VNBET
không diệt, từ cái thức phân biệt sắc tướng cho đến cái thức phân biệt các tiếng, các pháp v.v… đều ly hết thảy tướng, tức hết thảy pháp, không thể nói là đồng, là dị, là không, hay là có.
Cái bản giác Như Lai tạng vẫn diệu vẫn minh, cái tánh thức tức là tánh biết của bản minh, cái tánh bản giác diệu minh thật là cái thức, theo nghiệp duyên mà phát khởi cùng khắp pháp giới mà vẫn như như bình đẳng, không có năng sở. Theo duyên mà phát khởi nên gọi là Diệu, bình đẳng cùng khắp nên gọi là Như. Cái tánh của Thức đại, thật ra chỉ là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
*
Ngài A-nan và Đại chúng ngộ được chơn tâm và tán Phật phát nguyện.

Khi Phật đã chỉ rõ thường trú chơn tâm và quy nạp tứ khoa thất đại về một tánh diệu chơn như của Như Lai tạng, thì các sự chấp trước của ngài A-nan và Đại chúng đều được tiêu trừ, toàn thể nhận rõ sự sự vật vật đều là diệu chơn như tánh, không có sai khác; nhơn đó nhận biết thường trú chơn tâm cùng khắp mười phương, xem tất cả pháp giới đều là những sự vật hiển hiện trong tự tâm, và không một vật nào là không phải tự tâm. tự tâm cùng khắp pháp giới, trở lại xem thân cha mẹ sanh ra không khác chi giữa hư không bay ra một chút bụi, dù mất dù còn vẫn không quan hệ gì đến tánh thường trú bất sanh bất diệt của tự tâm. Ng A-nan và Đại chúng đã rõ được thường trú chơn tâm viên mãn cùng khắp, mới lễ Phật tạ ơn dạy bảo, nói

* Trang 349 *
device

bài kệ tán thán công đức của Phật và phát nguyện độ sanh theo gương của Phật, y như thể rộng lớn của thường trú chơn tâm.
Trong bài kệ câu đầu : “Diệu trạm tổng trì bất động tôn” cốt để tán thán công đức của Phật. Diệu là tức hết thảy pháp, Trạm là ly hết thảy tướng. Diệu là chiếu, Trạm là tịch, Diệu là tùy duyên, Trạm là bất biến, tức nơi Diệu mà Trạm, tức nơi Trạm mà Diệu, nên gọi là Diệu trạm. Đó là lời khen ngợi pháp thân của Phật. Tổng trì là tóm giữ, là tóm thâu; lấy đức Diệu trạm gồm đủ hết thảy pháp, hết thảy pháp môn, hết thảy các diệu hạnh, hết thảy các công đức nên gọi là tổng trì; đó là lời tán thán báo thân của Phật. Bất động tôn là bực Chí tôn không lay động: lấy đức Diệu trạm Tổng trì, tùy duyên tiếp độ tất cả chúng sinh mà nơi thực tế vẫn không đặng một pháp, như như bình đẳng không hề lay động, nên gọi là Bất động tôn. Đó là lời tán thán ứng hóa thân của Phật.
Câu thứ hai “Thủ Lăng Nghiêm vương thế hy hữu”, cốt để tán thán pháp Thủ Lăng Nghiêm mà Phật vừa khai thị. Pháp Thủ Lăng Nghiêm tức nơi tục mà chơn, tức nơi vọng tưởng điên đảo mà chỉ thường trú chơn tâm, rất cao siêu huyền diệu; đối với các pháp khác như vua đối với thần dân, nên gọi là Thủ Lăng Nghiêm vương. Trong thế gian gặp Phật ra đời truyền pháp đã là ít có, đủ nhơn duyên cho Phật dạy pháp Thủ Lăng Nghiêm lại càng ít có, nên gọi là thế hy hữu. Câu thứ ba và câu thứ tư “Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng, bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân” cốt để tán thán cái diệu dụng của Pháp Thủ Lăng Nghiêm đã làm

* Trang 350 *
device

cho Đại chúng tiêu diệt những vọng tưởng điên đảo trong vô số kiếp và chứng thường trú chơn tâm tức là pháp thân. Phàm người tu hành theo các pháp khác thường phải tu đến ba lần vô số kiếp mới đặng pháp thân; nay trong giây lát, lãnh được pháp Thủ Lăng Nghiêm thì đã chứng đặng pháp thân. Thế đã biết diệu dụng pháp Thủ Lăng Nghiêm là chừng nào.
Các câu :
“Nguyện kim đắc quả thành Bửu vương”
Hoàn độ như thị hằng sa chúng”
Tương thử thâm tâm phụng trần sát”
Thị tắc danh vi báo Phật ân.”
là lời phát nguyện độ sanh để báo ơn Phật. Đồng một thường trú chơn tâm, xưa nay không thể sai khác; Phật đã trải lòng đại bi cứu độ cho chứng được pháp thân, thì tất nhiên chúng ta mới báo đáp được ơn dày của Phật. Thâm tâm là cái tâm chắc chắn, rộng lớn sâu sắc, quyết tu tập đủ muôn hạnh muôn đức. Đem cái tâm đó mà dâng cho chúng sinh, lấy cái tâm đó mà cứu vớt chúng sinh, vẫn cái tâm ấy mà cúng dường, mà làm lợi ích cho chúng sinh, thế mới gọi là báo ân Phật.
Các câu :
“Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh,
Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập”
Như nhất chúng sinh vị thành Phật”
Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.”

* Trang 351 *
device

là lời xin Phật chứng minh cho cái bi nguyện của mình, quyết định nguyện vào ngũ trược ác thế mà độ sanh. Còn một chúng sinh chưa giác ngộ là còn làm Phật sự, dù khó khăn bao nhiêu cũng không thối thác. Nê Hoàn tức là Niết-bàn. Niết-bàn tiểu thừa là quả vô vi, đến như Niếtbàn các bậc Đại thừa thì chính nơi chỗ không có năng vi, sở vi mà vẫn làm sự lợi ích cho chúng sinh mãi mãi. Còn một chúng sinh chưa thành Phật là còn làm, quyết không chịu hưởng quả vô vi của Nhị thừa.
Các câu :
“Đại hùng đại lực đại từ bi
Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc
Linh ngã tảo đăng vô thượng giác
Ư thập phương giới tọa đạo trường.”
cốt để xin Phật phá sự nghi hoặc nhỏ mọn hãy còn, để cho giác hạnh mau được viên mãn, mà hóa độ chúng sinh, vào tam ác đạo mà độ sanh không hề thối thác, nên gọi là Đại hùng. Phật đủ thập lực, rõ biết thế gian và xuất thế gian nên gọi là Đại lực. Phật thương chúng sinh như con và cứu vớt chúng sinh khỏi các khổ não không phân biệt thân, sơ thiện ác, nên gọi là Đại từ bi. Các vị Bồ-tát tu tập muôn hạnh muôn đức, đến khi giác hạnh viên mãn, thì gọi là Vô thượng giác. Khi ấy mới đủ năng lực ứng hóa khắp mười phương cho đến thị hiện thành bậc Đẳng chánh giác mà hóa độ quần sanh.
Hai câu sau :

 

* Trang 352 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm