LOGO VNBET
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
(Quyển I)

 
Thông thường một cuốn kinh bao giờ cũng có 3 phần :
- Thông tựa : Tựa chung mà kinh nào cũng có.
- Biệt tựa : Tựa riêng.
- Chánh tông : Hiển bày Như Lai tạng diệu chơn như tánh. Viên tam đế lý (đủ cả 3 đế lý). Ba đế lý là : Không, giả, trung. (Không đế, Giả đế, Trung đế).

 
Giải thích đề kinh
 
Đề kinh này có 19 chữ là “Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhơn tu chứng liễu nghĩa, chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm” mà sao lại chỉ nói ba chữ Thủ Lăng Nghiêm ?
Thủ Lăng Nghiêm
Vì ba chữ Thủ Lăng Nghiêm là tôn chỉ của kinh này. Thủ Lăng Nghiêm (Súramgama) là tên của cái thể thường định của chơn tâm; toàn cả bộ kinh chỉ dạy về định Thủ Lăng Nghiêm, cho nên đề mục tuy dài, mà cốt lõi ở ba chữ Thủ Lăng Nghiêm mà thôi.
Định Thủ Lăng Nghiêm rốt ráo bền chặt không thể lay động, không thể dời đổi, không phải như các định

* Trang 49 *
device

khác, khi nhập định thì có hiện, đến khi xuất định thì không có hiện.
Định Thủ Lăng Nghiêm là tánh bản nhiên của chơn tâm chúng ta. Chơn tâm vẫn ra ngoài phạm vi của không gian và thời gian, không có lớn nhỏ, không có xưa nay, không phải vì nhiếp niệm mà định, cũng không phải vì không nhiếp niệm mà không định; dầu cho chúng ta mê lầm theo cảnh giới luân hồi mãi mãi trong ba cõi, nhưng cái tánh bản nhiên thường định của chơn tâm chúng ta cũng chẳng vì cái mê lầm kia mà tán loạn.
Đại Phật đảnh
Định Thủ Lăng Nghiêm huyền diệu rộng lớn như vậy nên lấy đảnh tướng của Phật mà ví dụ : Tướng trên đảnh Phật, con mắt chúng sanh không thể thấy được.
Như Lai Mật Nhơn
Các đức Phật đều nhơn nơi định Thủ Lăng Nghiêm mà tu hành cho đến quả Phật. Tâm chúng ta vẫn có định Thủ Lăng Nghiêm, chỉ vì vọng tưởng ngăn che nên không tự biết; nhưng đến khi trừ hết vọng tưởng rồi, thì định Thủ Lăng Nghiêm của tâm chúng ta hiện ra liền, không có gì là bí mật cả.
Tu chứng liễu nghĩa
Đã được định Thủ Lăng Nghiêm, tu cũng tu theo nghĩa duy tâm là nghĩa rốt ráo; chứng cũng chứng theo nghĩa duy tâm là nghĩa rốt ráo; từ khi phát tâm cho đến khi
thành Phật, toàn là một thể duy tâm, chẳng còn thối thác, chẳng

* Trang 50 *
device

còn nghi ngờ, không bị ma ngoại quấy rối và cũng không mắc vào từng bực nào cả.
Chư Bồ-tát vạn hạnh
Đã tu chứng theo lý duy tâm thì người người cũng là tâm, vật vật cũng là tâm, nên thường hành động đủ cách đặng làm lợi cho tất cả chúng sanh. Tuy làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhưng không thấy ai làm, không thấy làm việc gì, không thấy làm lợi ích cho ai; vì muôn sự muôn vật đều là do tâm, ngoài tâm ra không có một sự nào, một vật nào cả.
Biết tâm mình có định Thủ Lăng Nghiêm là thành Phật, không biết tâm mình vốn sẵn có định Thủ Lăng Nghiêm là chúng sanh; mê ngộ khác nhau nhưng tâm của
chúng sanh cũng tức là tâm của Phật.
Phần Thông tự
Trong hội Niết-bàn, trước khi Phật nhập diệt, Ngài A-nan bạch Phật có hỏi rằng khi kiết tập kinh, trước đầu các kinh nên để những câu gì, thì Phật dạy phải đề : “Như thị ngã văn nhứt thời Phật tại, v.v…”, nghĩa là như vầy tôi nghe một thuở Phật ở chỗ nào, thính chúng là bực nào, v.v…, cho nên đầu các kinh, lệ phải có những câu như vậy, gọi là thông tự.
Như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm này, nói Phật ở thành Thất La Phiệt, nơi tinh xá ông Cấp-cô-độc lập ra, trong rừng của Thái tử Kỳ-đà; thính chúng thì có 1.250 vị Tỳ-kheo đã chứng quả A-la-hán, có những bực Duyên giác

 

* Trang 51 *
device

Vô học và Sơ tâm, và có các vị Đại Bồ-tát số kể không xiết từ mười phương đều nghe pháp.
Như thị
Trong thông tự cốt yếu nhất là hai chữ “Như thị”. Hai chữ này có ý nghĩa trùng trùng, dầu dịch nghĩa là “như vậy”, “như thiệt”, “thiệt như vậy” cũng không sao đúng được. Như là như như không khác, lớn nhỏ như nhau, dài ngắn như nhau, xưa nay như nhau, muôn sự muôn vật như 90 nhau, cho đến Phật với chúng sanh cũng như nhau không khác. Tuy chỉ một thể như nhau không khác, mà tùy theo nhơn duyên vẫn in tuồng hiện ra đủ muôn sự muôn vật. Tuy in tuồng hiện ra đủ muôn sự muôn vật mà thiệt ra cũng một thể như như không khác, ấy là lý chơn như của đạo Phật.
Thị là tướng chơn thiệt của chơn tâm, là tướng chơn thiệt của các pháp, không còn là những tướng giả dối, những thói quen mê lầm, những nguồn gốc mê lầm, dầu ngã chấp hay pháp chấp; ấy là thiệt tướng của đạo Phật.
Chơn như tức là thiệt tướng, thiệt tướng tức là chơn như; chơn như là thể như như của tướng chơn thiệt, thiệt tướng là tướng chơn thiệt của thể như như. Song chơn như có nhiều từng bực : Sanh không chơn như, Pháp không chơn như, Tuyệt đãi chơn như ; mà thiệt tướng là thiệt tướng, không bao giờ dời đổi. Vậy mới biết chơn như vị tất là thiệt tướng, thiệt tướng vị tất là chơn như. Học kinh cần phải xét lý, chẳng nên câu nệ nơi lời nói. Vì, dầu nói “như thị”, hay “thiệt tướng” cũng chỉ là lời nói, chớ không khi nào chỉ rõ được cái chơn như thiệt tướng của tâm ;

 

* Trang 52 *
device

vì thiệt tướng chơn như của tâm vẫn ra ngoài các tướng đối đãi (như tướng dài ngắn, tướng vuông tròn, tướng cao thấp v.v…).
Lại nữa, chữ “như thị” có ý nghĩa trùng trùng, nội hai chữ ấy là gồm đủ giáo lý của Phật. Toàn cả các bộ kinh, chữ nào câu nào cũng là “Như thị”. Như trong sáu chữ : “Như thị ngã văn nhứt thời …” mà cũng có thể chẻ ra là : “Như thị như”, “như thị thị”, “như thị ngã”, “như thị văn”, “như thị nhất”, “như thị thời”.
Như thị như là trong chơn như không còn cái chi là không như, như thị thị là trong tướng chơn thiệt không còn cái chi là giả dối; như thị ngã là lấy thể thiệt tướng chơn như làm ngã, trong cái ngã ấy không còn cái chi là không phải ngã; như thị văn là tuy không có năng văn (tánh có khả năng nghe) và cũng không có sở văn (được nghe) mà tùy theo nhơn duyên in tuồng là có nghe; như thị thời là không có lâu mau, không có xưa nay; một nháy mắt tức là không lường kiếp, không lường kiếp tức là một nháy mắt, toàn thể pháp giới đều là thiệt tướng chơn như, đều là thường trụ không thay không đổi.
Hai chữ “như thị” ý nghĩa vô cùng vô tận, dầu nói bao nhiêu cũng được, dầu nói thế nào cũng không đúng, nhưng thiệt ra không một tiếng nói nào, không một câu nói nào là không phải “như thị”.
Phần Biệt tự
Trong các kinh Phật nói, đều có chỗ sở do : như Phật nói kinh Hoa Nghiêm, chỉ rõ Phật tánh là vì Phật thấy

 

* Trang 53 *
device

chúng sanh đều có Phật tánh; Phật nói kinh A Di Đà, dạy phép niệm Phật là vì Phật thấy chúng sanh ở thế giới này đều có cơ duyên với đức Phật A Di Đà, v.v… Đến như kinh Thủ Lăng Nghiêm này là vì những bậc thông minh như ngài A-nan mà nói. Nguyên vua Ba-tư-nặc, nhơn ngày húy kỵ, đã thỉnh Phật, các vị Bồ-tát và cả Đại chúng vào trong vương cung để cúng dường. Ngày ấy ngài A-nan đi khỏi chưa về kịp nên phải đi khất thực một mình; vừa đi ngang nhà Ma-đăng-già, ngài bị nàng ấy dùng phép huyễn thuật bắt vào phòng, toan làm cho ông phá giới. Phật đương ở trong cung vua, biết ngài A-nan bị nạn, nên thọ trai rồi, liền về tinh xá, không thuyết pháp như lệ thường. Phật hiện thần thông, đọc chú Thủ Lăng Nghiêm, khiến ngài Văn Thù Bồ-tát đem thần chú đến diệt trừ tà thuật, dẫn A-nan cùng Ma-đăng-già đồng về chỗ Phật.
Lúc A-nan về đến nơi, giận mình học rộng nghe nhiều mà không đủ nội lực chống lại sức mê hoặc của tà thuật để đến nổi bị nạn, nên lạy Phật, tủi khóc, cầu Phật dạy cho phương pháp tu hành mau thành đạo quả.
Vì vậy mà có kinh Thủ Lăng Nghiêm này.
Bổn nguyện của ngài A Nan
Về việc A-nan bị nạn, theo ý kiến hẹp hòi của chúng ta thì tợ hồ A-nan là một bực tầm thường, nhưng thiệt ra không phải. Ngài A-nan là một vị Bồ-tát, vì thương xót chúng sanh, nên thị hiện ra những lầm lỗi để giúp đức Thích Ca khi thuyết pháp.

 

* Trang 54 *
device

Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói rằng : “Ông A Nan với Ta đồng thời phát tâm tu hành từ đời Đức Phật Không Vương; nay Ta thành Phật thì ông A-nan hộ trì Phật pháp vì bổn nguyện của ông là hộ trì chánh pháp của đức Phật”.
Như vậy thì biết ngài A-nan bị nạn, ngài hỏi Phật, Phật dạy bảo ngài A-nan, đều là một phương tiện để giáo hóa chúng sanh; nếu không có A-nan bày nạn phương
tiện, hoặc hỏi qua gạn lại thì chúng sanh khó bề hiểu được Phật pháp.
Vậy nên chúng ta phải đội ơn công đức của ngài A-nan mà không nên phán đoán sai lầm, mang lấy tội lỗi – (Kinh Lăng Nghiêm - Tâm Minh dịch, 1949)
 *
Trong kinh Lăng Nghiêm có hai chỗ phải chú ý, đó là Phật đề cập đến bảy chỗ gạn tâm và mười phen hiển tính thấy. Bảy chỗ gạn tâm hoặc bảy chỗ hỏi tâm ở đâu ? (Thất xứ trưng tâm). Nó tương đương với kinh Pháp Hoa ở chữ Khai. Trong kinh Pháp Hoa có 4 chữ : Khai, Thị, Ngộ và Nhập.
Ở đây tôi áp dụng chữ Khai vậy. Khai cái gì ? Khai cái vọng, có nghĩa quét bụi bặm nhơ nhớp của phiền não. Trong phần khai này có 7 đoạn. Bảy đoạn này Phật hỏi A-nan về cái tâm ở đâu ? Thứ nhất, Tôn giả A-nan chấp tâm ở trong thân. Phật bác cái chấp tâm ở nội thân, tức phá vọng chấp tâm ở trong thân. Thứ hai, chấp tâm ở ngoài thân. Phật bác luận chấp tâm ngoài thân. Thứ ba, chấp tâm núp sau con mắt, Phật bác. Thứ tư là phá chuyển kế tâm

 

* Trang 55 *
device

kiến nội (tức chấp nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong thân), cũng bị Phật bác. Thứ năm là phá chuyển kế tâm tùy sinh, tức chấp tâm hợp với chỗ nào thì liền có ở chỗ ấy, cũng bị Phật bác. Thứ sáu là phá chuyển kế tâm tại trung gian (chấp tâm ở trung gian, cũng bị Phật bác). Thứ bảy, phá chuyển kế tâm vô trước (chấp tâm không đắm trước chỗ nào hết) cũng bị Phật bát. Đó là 7 chỗ gạn tâm.
Mười phen hiển tính thấy : 1. Phóng hào quang nêu ra tính thấy viên mãn sáng suốt; 2. Chỉ hai thứ cội gốc để phân biệt mê và ngộ; 3. Nương cái thấy, gạn hỏi cái tâm; 4. Chỉ cái biết suy xét có thể tính; 5. Chỉ rõ tính thấy không phải là con mắt; 6. Gạn hỏi ý nghĩa hai chữ khách trần để chỉ ra cái thấy là chủ là không; 7. Chỉ tính thấy không sinh không diệt; 8. Chỉ chỗ trái ngược nhau; 9. Lựa bỏ tâm phan duyên để chỉ tính thấy không thể trả về đâu; và 10. Lựa riêng trần cảnh để chỉ tính thấy.
*
Kinh Lăng Nghiêm có 10 quyển, chia làm hai phần. Phần đầu là phần Lý ngộ gồm 4 quyển đầu. Phần thứ hai là Sự tu gồm 6 quyển sau.
Trong phần Lý ngộ của Lăng Nghiêm cũng y như trong kinh Kim Cương có hai câu mà ngài Tu-bồ-đề đã hỏi : “Vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm ?” Phật trả lời 2 câu hỏi đó bằng cách diễn dịch thành bộ kinh Kim Cương. Lý nghĩa trong đó là vậy. Nắm được yếu nghĩa như vậy, ta học Kim Cương sẽ nắm được yếu lý của kinh, nếu

* Trang 56 *
device

nếu không thì cứ từng câu từng câu mà học, nó mù mù mịt mịt, không biết đâu là điểm chính, đâu là phụ ở trong đó.
Trong kinh Lăng Nghiêm này cũng vậy, phần Lý ngộ cũng chỉ có 2 câu hỏi thôi. Thay vì trong kinh Kim Cương ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật thì trong Lăng Nghiêm
Phật hỏi tôn giả A-nan : “Tâm hà sở tại ? Dĩ hà vi tâm ?” Chỉ 2 câu đó thôi. Tâm hà sở tại nó tương đương như Tâm tại hà xứ (Tâm ở đâu). Câu Tâm ở đâu, đại khái trong Lăng Nghiêm là thất xứ trưng tâm (7 chỗ gạn tâm hay Phật 7 lần hỏi A-nan tâm ở đâu ?). Tôn giả A-nan nói loanh quanh 7 lần. Đó là câu hỏi thứ nhất. Câu hỏi thứ hai là Dĩ hà vi tâm ? (Lấy gì làm tâm ?). Chữ Hán gọi là Như hà thị tâm (Tâm như thế nào ?). Trong phần lý ngộ chỉ có 2 câu hỏi như vậy. Phụ theo 2 câu hỏi đó có những lý lẽ khác, nhưng những phần lý lẽ đó cũng cốt để diễn tả, để cắt nghĩa, giải thích 2 câu hỏi đó. Sau khi hiểu rõ tâm tại hà xứ, dĩ hà vi tâm xong rồi ngộ. Ngộ rồi thì tu. Áp dụng câu khai, thị, ngộ, nhập trong kinh Pháp Hoa qua đây, ta có thể nói rằng trong phần lý ngộ của Lăng Nghiêm tương đương với 3 chữ : Khai, Thị, Ngộ và đến tu là Nhập. Như vậy 6 quyển sau của Lăng Nghiêm là phần tu (sự tu) tương đương với trong kinh Pháp Hoa là nhập. Còn phần lý ngộ gồm : Khai, Thị, Ngộ.
Trong phần này : Tâm tại hà xứ gọi là phần Khai (mở). Nhưng khai cái gì ? Khai ở đây như vạch bờ, vạch đất, vạch cát ra, đừng để nó lấp khuất, lu mờ đi. Cho nên trong 7 chỗ hỏi tâm đó, Tôn giả A-nan trả lời ra sao Phật cũng đều bác hết. Tâm ở trong cũng bác, tâm ở ngoài cũng bác,

* Trang 57 *
device

tâm ở chặng giữa cũng bác, tâm vô trước cũng bác, tâm tùy theo tiếp xúc xuất hiện cũng bác … Bác như vậy có nghĩa là Khai. Tức là cái gì sai lầm, không cho nó
dính vào đó, vất nó đi. Khi hết sai lầm vọng tưởng, ô cấu rồi, mới hiển lộ sự sáng suốt, cái chơn chính, cái cần thiết ra gọi là Thị. Nhưng khi hiện ra rõ ràng như vậy mà hành giả cũng không biết, nên phải Thị. Hiện rõ ràng, ví như bao nhiêu đất cát, rác rê lấp trên thỏi vàng đã bị hất tung đi rồi, thì thỏi vàng hiện ra. Vàng hiện ra rồi nhưng hành giả cũng chẳng biết đó là vàng, nên phải Thị cho biết đích thị đó là vàng.
Trong kinh Lăng Nghiêm nhằm vào thập phiên hiển kiến (10 phen chỉ tánh thấy). Chữ hiển ở đây tương tợ như chữ thị trong kinh Pháp Hoa (thị Phật tri kiến, khai Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến). Thay vì trong kinh Pháp Hoa gọi là tri kiến thì trong kinh Lăng Nghiêm gọi là chơn tâm, là Như Lai tạng. Hiểu như vậy là có thể hiểu đại thể kinh Lăng Nghiêm.
Đó là đại ý kinh Lăng Nghiêm. Tóm lại, kinh Lăng Nghiêm gồm 4 quyển đầu là Lý ngộ, 6 quyển sau là Sự tu.

 
*

* Trang 58 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm