LOGO VNBET
tha thiết bảo hộ người tu hành đến mức nào. Các vị Kim Cương Bồ-tát thường xuyên theo dõi hộ trì những người tu theo chính pháp. Người tu hành, nếu biết thuận theo tự tính mà huân tập, thì nhất định không có ma sự.
*
Khai thị những vị trí tu chứng trước sau

Ngài A-nan xin Phật khai thị về những danh mục thứ bậc tu hành.
 Anan tức tùng … trừng mộng chiêm ngưỡng.
- Giải thích : Ngài A-nan xin Phật chỉ dạy về các danh mục thứ bậc tu hành. Ông tuy đã giác ngộ, tự biết con đường thành đạo chứng quả, trong ấy, thật vốn không thứ bậc, nhưng vì trong lúc phá trừ mê lầm, huân tập chính pháp, thì những sự mê lầm càng ngày càng giảm bớt, do đó, nên có những danh mục các thứ bậc. Những danh mục ấy, ngài A-nan đã được nghe, nhưng chưa rõ sự thật thế nào, nên cầu Phật khai thị.
Khen ngợi và hứa sẽ chỉ trước cho
 Nhĩ thời Thế Tôn … mặc nhiên thọ giáo.
- Giải thích : Phật khen ngợi ngài A-nan, đã vì Đại chúng và tất cả chúng sinh, thỉnh cầu như thế, nên hứa sẽ chỉ trước những thứ bậc, trên đường tu hành, đi đến quả Đại Niết-bàn của Phật. Phật dạy như vậy, vì biết ngài A-nan đã giác ngộ tâm tính, tự mình đã rõ con đường tu hành và khi thỉnh cầu Phật khai thị, ông chỉ vì lợi ích của Đại chúng và của tất cả chúng sinh mà thôi.

 

* Trang 534 *
device

Khai thị hai cái nhân điên đảo
 Phật ngôn : A-nan … thập nhị chủng loại.
- Giải thích : Đáp lại lời thỉnh cầu của ngài A-nan, trước hết Phật dạy, vì sao có những danh mục. Bản lai tự tính vốn rất sáng suốt, vốn rất nhiệm mầu, biến hiện ra tất cả sự vật, mà tất cả sự vật đều là tự tính, không có các danh tướng, không có thế giới với lại chúng sinh. Chẳng những nơi Phật như thế, nơi chúng sinh cũng vẫn luôn luôn như thế, chỉ vì chúng sinh không nhận rõ được bản lai tự tính, giả dối phân biệt, nên có sinh, có diệt. Có sinh có diệt là vọng, hết vọng là chân, vì thế mà có cái danh hiệu Vô thượng Bồ-đề và Đại Niết-bàn của chư Phật. Song, mê ngộ đồng một thể, Phật và chúng sinh không có hai tính, chỉ vì Phật xoay cái vọng kiến lại, nên được Vô thượng Bồ-đề, xoay cái sinh diệt lại, nên được Đại Niếtbàn; danh, tuy khác, nhưng thể là một và tâm tính vốn không ngộ, không mê, không thêm, không bớt. Nhưng tuy tâm tính bản lai như thế, chúng sinh cũng cần phải y như tâm tính mà tu tập, thì mới ra khỏi luân hồi, thành đạo chứng quả. Muốn biết thế nào là giác ngộ, thì trước hết, cần phải biết thế nào là mê lầm. Khi nào trừ sạch mê lầm, tức là giác ngộ, chứ không phải gì khác.
Tâm tính bản lai vẫn thường bình đẳng, xa rời danh tướng, dù theo duyên mà biến hiện ra tất cả các pháp, nhưng sự thật chỉ là tâm tính, không có một pháp nào
khác; do đó, chưa hề có thế giới và chúng sinh. Chỉ vì chúng sinh không rõ tâm tính như thế, giả dối phân biệt có năng tri, có

* Trang 535 *
device

sở tri, nên mới có sinh, có diệt, làm cái nhân điên đảo giả dối thành ra thế giới chúng sinh.
Như thế, cái nhân điên đảo thành ra chúng sinh, là vì không nhận được tâm tính bình đẳng, theo duyên mà phát hiện, lại khởi ra phân biệt, sinh ra những nhận thức sai lầm; do đó, trong nhất tâm không có sai khác, không có một vật, thành ra có sai khác và có tất cả sự vật. Vọng tâm phân biệt là năng hữu, sự vật là sở hữu, cả cái năng hữu và cái sở hữu ấy, đều nhân nhận thức sai lầm mà có. Nhận thức sai lầm, không có căn cứ, không thể làm nhân cho cái gì, mà lại thành cái nhân của năng hữu sở hữu như thế; đó là phi nhân, mà lại làm nhân. Rồi đã có ra thì tức là có tướng; cái hay biết giả dối thành tướng năng trụ, những danh tướng giả dối thành tướng sở trụ; những tướng này đều nương nơi nhận thức sai lầm mà thành, nên rốt ráo không có cội gốc. Không có cội gốc, là không thể an trụ; nhưng lại dựa vào cái không an trụ ấy, mà lập thành thế giới và các chúng sinh. Nói tóm lại, chỉ vì mê lầm không nhận được bản tính viên mãn sáng suốt, nên sinh ra các thứ hư vọng; những thứ hư vọng như thế, không có thật thể, không có căn cứ. Biết tất cả tâm cảnh hư vọng, đều do nhận thức mê lầm sinh ra, thì đó là nhận thức đúng đắn. Nếu lại còn muốn tìm cái chân nữa, thì cái tâm niệm muốn chân này, đã trái với bản tính chân như. Và, nếu cầu trở về không đúng chân lý, thì nơi tính chân như sẽ hình thành những tướng giả dối; do đó, vốn không phải sinh, cũng gọi rằng sinh, không phải trụ, cũng gọi rằng trụ, không phải tâm, cũng gọi rằng tâm, không phải pháp, cũng gọi rằng pháp; rồi, cứ đem những tâm niệm phân biệt giả dối nhiễm

 

* Trang 536 *
device

ô đó mà phân biệt tâm tính, thì tâm tính theo sự huân tập ấy, hiện ra nghiệp dụng của chúng sinh. Khi đồng một nghiệp, thì thông cảm với nhau, thành ra có yêu, có ghét; yêu thì sinh nhau, ghét thì diệt nhau; đó là cái nhân điên đảo hiện ra chúng sinh.
Lại, cũng chính vì có cái sở hữu như thế, mà chia chẻ cái sở hữu ra từng phần, từng đoạn, do đó, nên không gian thành lập; song, cái năng hữu, sở hữu kia, chỉ nhân nhận thức mê lầm mà có, không có căn cứ thiết thực, nên nó dời đổi mãi mãi, không hề an trụ, do đó mà thời gian thành lập.
Thời gian có ba đời, không gian có 4 phương. Thời gian và không gian liên hệ mật thiết với nhau, hình thành 12 loài chúng sinh.
Cảnh giới duyên khởi vốn không nghĩ bàn, nhưng do nhận thức của mỗi loài chi phối, mà biến thành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đối với mỗi loài; vì thế mà cảnh giới, do nghiệp thức của các chúng sinh chi phối, biến đổi theo mỗi loài và nói chung, khi biến đổi nhiều nhất, cùng tột 12 cách, thì xoay trở lại một cách trước.
Cảnh giới của mỗi loài thay đổi, là do thân thể của mỗi loài khác nhau và trong thế giới, có thể chia ra thành những loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng; hoặc như không phải hữu sắc, không phải vô sắc, không phải hữu tưởng, không phải vô tưởng.
Phật chia chúng sinh ra 12 loài như thế, là theo khoa học hiện thời của Ấn Độ, vì đã phân tích sự tướng, thì tất

 

* Trang 537 *
device

phải theo học thuyết thế gian, trong lúc đương thời; điều cốt yếu là nhận biết có nhiều loài chúng sinh khác nhau, mỗi mỗi loài có cái thân khác nhau, có cái hay biết phân biệt khác nhau. Do đó, nên cảnh giới của mỗi loài, cũng phải khác nhau.
Chúng sinh chia ra có nhiều loài như thế, nhưng tất cả căn thân và khí giới của mỗi loài, đều do tâm tính theo huân tập mà biến hiện, nên khi được huân tập bằng những tư tưởng điên đảo của chúng sinh, thì hiện ra cảnh giới chúng sinh; khi được huân tập theo chính pháp, phù hợp với bản lĩnh bình đẳng của tâm tính, thì hiện ra cảnh giới của các bậc Nhị thừa và các vị Bồ-tát. Đứng về tâm tính mà nói, thì tất cả các cảnh giới, đều là tâm tính biến hiện theo huân tập, chẳng những chưa hề có chúng sinh thế giới, mà cũng chưa hề có Chính trí và Chân như, vì thế nên Phật thường dạy : “Tâm Phật và chúng sinh không có sai khác”, lại thường dạy : “Tâm tính bản lai không có ngộ, có mê, có thêm, có bớt”. Nhưng, đứng về phương diện biến hiện của tâm tính mà nói, thì do sự huân tập có khác, mà sự biến hiện của tâm tính cũng hóa ra hình như có khác.
Giải thích nguyên nhân của 12 loài, Phật chia ra có 12 thứ luân hồi, 12 thứ điên đảo và 12 thứ hòa hợp, cốt để chỉ rõ các vọng tưởng huân tập, thiên về mặt nào nhiều hơn, thì tâm tính hiện ra cảnh giới theo mặt ấy, chứ không phải nhất định thai sinh không có hư vọng luân hồi, hay noãn sinh không có tạp nhiễm luân hồi. Chẳng những thế, sự hình thành của 12 loài chúng sinh, còn do nhận thức của mỗi chúng sinh mà có, như nhận thức có động, thì có bay,

 

* Trang 538 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm