LOGO VNBET
Bốn câu “Nếu quán cái tính của thức đại … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Di Lặc Bồ-tát tu phép quán duy thức, ngộ được tất cả sự vật, đều do phân biệt biến hiện, không phải một, không phải khác, không phải có, không phải không; do đó, chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu về thức đại, thì gặp khó khăn, vì thức là sinh diệt, không phải thường trụ và thức có nhiều phân biệt hư vọng, không phải vô phân biệt; vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Tất cả các hành đều vô thường … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Đại Thế Chí Bồ-tát tu phép niệm Phật, luôn luôn phát ra những tưởng niệm giác ngộ huân tập tự tâm; do đó, chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu về pháp môn này, dễ mắc vào sự tướng, mắc vào các tưởng niệm sinh diệt, không biết niệm cái vô niệm, niệm cái vô sinh diệt, thì nhân cái sinh diệt ấy, khó đưa đến quả thường trụ; vì thế, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
*
Chọn lấy cái căn viên thông
 
“Con nay xin bạch đức Thế Tôn,
Phật ra đời trong cõi Ta-bà,
Trong cõi này, lối dạy chân thật,
Thanh tịnh, do chỗ nói và nghe;
Nay muốn tu chứng Tam-ma-đề,
Thật nên do cái nghe mà vào.”
 

* Trang 499 *
device

Hợp với giáo thể cõi Ta Bà
Sáu câu “Con nay xin bạch đức Thế Tôn … … thật nên do cái nghe mà vào” nghĩa là, ngài Văn Thù, sau khi lựa bỏ 24 pháp môn trước, cho là không thích hợp, thì nhận định rằng Phật ra đời ở cõi Ta-bà và trong cõi này, Phật dùng lời để thuyết pháp, còn chúng sinh thì dùng cái nghe để lĩnh thụ Phật pháp; thì cũng nên dùng cái nghe, để tu chứng Tam-ma-đề.
“Rời cái khổ và được giải thoát,
Hay thay cho ngài Quán Thế Âm;
Trong kiếp số như cát sông Hằng,
Vào cõi Phật như số vi trần,
Được sức tự tại rất to lớn,
Bố thí vô úy cho chúng sinh.
Ngài Quán Thế Âm, tiếng nhiệm mầu,
Tiếng trong sạch và tiếng hải triều,
Cứu đời, mọi việc được yên lành,
Xuất thế gian, được quả thường trụ.”
Xưng tán ngài Quán Thế Âm
Sáu câu “Rời cái khổ và được giải thoát … … bố thí vô úy cho chúng sinh” cốt tán thán công đức của ngài Quán Thế Âm tu chứng theo nhĩ căn, được giải thoát khỏi các phiền não mê lầm, nên đầy đủ sức tự tại to lớn, bố thí cái “không e sợ” cho tất cả chúng sinh, nơi vô lượng cõi Phật, trong hằng sa kiếp.
Bốn câu “Ngài Quán Thế Âm, tiếng nhiệm mầu … … xuất thế gian, được quả thường trụ”, khen ngợi ngài Quán

 

* Trang 500 *
device

Thế Âm chứng được tính nghe nhiệm mầu, nên phát ra tiếng nói nhiệm mầu, tiếng nói thanh tịnh, tiếng nói ứng cơ hợp thời như nước thủy triều, cứu giúp thế gian được mọi sự an lành, nhưng vẫn không rời tự tính thanh tịnh.
“Con nay kính bạch đức Như Lai,
Như lời ngài Quán Âm vừa nói :
Ví như, có người trong yên lặng,
Chung quanh mười phương đều đánh trống,
Thì đồng thời nghe khắp mười nơi,
Như thế, mới là viên chân thật.
Mắt bị ngăn che, không thấy được,
Thiệt căn, tỷ căn cũng như vậy,
Thân căn, lúc hợp mới biết xúc,
Ý căn, phân vân không manh mối;
Cách tường, nhĩ căn vẫn nghe tiếng,
Dầu xa, dầu gần, đều nghe được;
Năm căn so sánh thật không bằng,
Như thế, mới là thông chân thật.
Tính thanh trần, có động, có tĩnh,
Trong tính nghe thành có, thành không;
Khi không tiếng, gọi là không nghe,
Đâu phải thật không còn tính nghe;
Không tiếng, tính nghe đã không diệt,
Có tiếng, tính nghe đâu phải sinh;
Trọn đời cả hai thứ sinh diệt,
Như thế, mới là thường chân thật.
Dầu cho, trong lúc đương ngủ mê,
Không vì không nghĩ, mà không nghe;

* Trang 501 *
device

Tính nghe ra ngoài sự suy nghĩ,
Thân, ý không thể so bằng được.”
Xưng tán nhĩ căn
Sáu câu “Tôi nay kính bạch đức Như Lai … … như thế, mới là viên chân thật”, cốt chỉ rõ cái nhĩ căn hiện tiền vẫn viên dung cùng khắp, hơn hẳn các căn khác; một người ở nơi yên lặng, nếu cả mười phương đều đánh trống, thì vẫn nghe tiếng trống khắp mọi nơi, không thiếu một chỗ nào; điều ấy, chứng tỏ cái nghe hiện tiền, thật là viên mãn cùng khắp mười phương, không thiếu một phương nào.
Tám câu “Mắt bị ngăn che, không thấy được … …như thế, mới là thông chân thật”, cốt so sánh các căn khác với nhĩ căn, thì thấy rằng con mắt bị ngăn che, cách trở, thì không thấy, cho đến thiệt căn và tỷ căn, bị cách trở, cũng không biết vị và không biết hương; thân căn, khi hợp thì biết, khi ly thì không biết; còn ý căn, thì niệm niệm sinh diệt, thay đổi mãi mãi, khó tìm ra manh mối; duy có nhĩ căn, cách tường vẫn nghe tiếng, dầu xa, dầu gần đều nghe được rõ ràng, nhĩ căn thật là thông suốt, năm căn không thể bằng được.
Tám câu “Tính thanh trần có động, có tĩnh … … như thế mới là thường chân thật”, nghĩa là, thanh trần có động, có tĩnh, nên trong tính nghe thành ra lúc có tiếng, lúc không tiếng; khi không có tiếng, người thế gian thường mê lầm gọi là không nghe; nếu thật không còn tính nghe, thì lấy gì biết được là không có tiếng. Tính nghe, nghe có tiếng, tính nghe, nghe không tiếng; tính nghe, lúc nào cũng

 

* Trang 502 *
device

thường trụ, không vì có tiếng hay không có tiếng mà có thay đổi. Thanh trần diệt, tính nghe đã không diệt, khi thanh trần sinh, tính nghe vốn không sinh, bản tính của cái nghe ra ngoài sinh diệt như thế, nên thật là thường trụ.
Bốn câu “Dầu cho, trong lúc đương ngủ mê … …ý không thể so bằng được”, chỉ rõ tính nghe luôn luôn tồn tại, ra ngoài các sự phân biệt; dầu cho trong lúc ngủ mê, ý thức không còn phân biệt, nhưng tính nghe vẫn nguyên vẹn, nên đến khi nghe tiếng chày, thì lại chiêm bao lầm là tiếng trống. Bản tính của cái nghe ra ngoài các sự phân biệt như thế, thì chẳng những các căn khác, mà cả cái ý căn, trong vòng phân biệt, cũng không thể bì được.
“Hiện nay, trong cõi Ta-bà này,
Các thứ thanh luận được truyền bá,
Do chúng sinh bỏ mất tính nghe,
Theo thanh trần, nên bị lưu chuyển;
A-nan, tuy có tính nhớ dai,
Vẫn không khỏi mắc các tà niệm;
Há không phải tùy chỗ chìm đắm,
Xoay ngược dòng, thoát khỏi hư vọng.
A-nan, Ông hãy nghe cho chín,
Nay con nương uy lực của Phật,
Tuyên nói phép tam-muội chân thật,
Chắc như Kim cương vương, như huyễn,
Không nghĩ bàn, xuất sinh chư Phật.
Ông nghe tất cả pháp bí mật
Của chư Phật, số như vi trần,

* Trang 503 *
device

Nếu trước hết, không trừ dục lậu,
Nghe nhiều, chứa chấp thành lầm lỗi;
Dùng cái nghe thụ trì Phật pháp,
Sao lại không tự nghe cái nghe ?
Tính nghe không phải tự nhiên sinh,
Nhân thanh trần mà có danh hiệu,
Xoay cái nghe, thoát ly thanh trần,
Cái thoát ly ấy, gọi là gì ?
Một căn, đã trở về bản tính,
Thì cả sáu căn, được giải thoát.
Thấy, nghe như bệnh lòa huyễn hóa,
Ba cõi như hoa đốm hư không;
Xoay tính nghe, gốc lòa tiêu trừ,
Trần tướng tiêu, giác tính viên tịnh.
Tột thanh tịnh, trí quang thông suốt,
Thể tịch chiếu trùm khắp hư không,
Trở lại xem các việc thế gian
Thật giống như chiêm bao không khác.
Nàng Ma-đăng-già là chiêm bao
Thì còn ai bắt Ông được nữa ?
Như các huyễn sư khéo trong đời,
Làm trò, thành ra các trai, gái;
Tuy thấy các căn đều cử động,
Cốt yếu, do cái máy giật dây;
Nghỉ máy, tất cả đều yên lặng,
Các trò, trở thành không có tính.
Cả sáu căn cũng giống như thế,
Vốn đều nương một tính tinh minh

 

* Trang 504 *
device

Chia ra thành sáu thứ hòa hợp;
Một nơi, đã rời bỏ quay về,
Thì cả sáu, đều không thành lập;
Trong một niệm, trần cấu đều tiêu,
Chuyển thành tính viên minh tịnh diệu,
Còn sót trần cấu là học vị,
Sáng suốt cùng tột, tức Như Lai.
Hởi Đại chúng và ngài A-nan,
Hãy xoay lại cái nghe điên đảo,
Xoay cái nghe về, nghe tự tính,
Nhận tự tính, thành đạo vô thượng;
Thật tính viên thông là như thế.”
Chuyển mê thành ngộ
Tám câu “Hiện nay trong cõi Ta-bà này … … xoay ngược dòng, thoát khỏi hư vọng” nghĩa là, trong cõi Ta-bà này, hiện có nhiều ngoại đạo truyền bá những thanh luận như “Thanh sinh luận”, “Thanh hiển luận”. Các ngoại đạo nầy nhận được “Danh ngôn cảnh”, tức là cái cảnh danh từ và lời nói, rồi lầm nhận do các danh từ, lời nói nên mới có sự này, vật khác. Vì thế, nên các ngoại đạo truyền bá cái luận “Thanh sinh” thì cho rằng do cái tiếng mà sinh ra có sự vật. Sau khi luận “Thanh sinh” bị bác, thì ngoại đạo lại đưa ra luận “Thanh hiển”, cho rằng do cái tiếng mà tỏ bày ra các sự vật. Tất cả các thanh luận ấy, đều do chúng sinh mê lầm, không nhận được tính nghe bản lai thường trụ và chỉ theo thanh trần sinh diệt, rồi lầm nhận rằng do thanh trần mà phát sinh, mà tỏ bày tất cả sự vật, trong đó, có cả

* Trang 505 *
device

tính nghe. Do chúng sinh bỏ mất tính nghe thường trụ, đi theo thanh trần sinh diệt, nên phải luân hồi mãi mãi. Chúng sinh, thì mê theo cái tiếng mà bỏ cái nghe như thế, còn ngài A-nan, tuy được nghe nhiều Phật pháp, ghi nhớ không quên, nhưng vẫn còn mắc vướng vào những tướng danh từ, chưa thoát khỏi các vọng niệm. Song, tu hành là đi ngược lại dòng hư vọng, trở về chỗ chân thật; nay ngài A-nan và các chúng sinh bị chìm đắm trong danh từ, bỏ mất tính nghe, thì tốt hơn là xoay ngược dòng lại, thoát ly thanh trần, thoát ly danh từ, để trở về tính nghe thường trụ; như thế mới là tùy chỗ chìm đắm, xoay ngược dòng để thoát khỏi hư vọng, để trở về chỗ chân thật.
Năm câu “A-nan, Ông hãy nghe cho chín … … không nghĩ bàn, xuất sinh chư Phật” cốt nhắc nhở ngài A-nan phải nghe cho chín những câu kệ sau đây, chỉ dạy phép tam-muội chân thật là phép như huyễn Tam-ma-đề; phép Tam-ma-đề này ra ngoài cái có, cái không, cái năng, cái sở, dứt các đối đãi, ra ngoài lời nói và ý nghĩ; phép Tamma-đề này vững chắc như Kim Cương vương, phá được tất cả mê chấp phân biệt và không bị một sự vật nào phá nổi; phép Tam-ma-đề này xuất sinh chư Phật, vì ba đời chư Phật đều do như huyễn Tam-ma-đề mà chứng được Căn bản trí, Hậu đắc trí, Nhất thiết chủng trí, viên mãn vô lượng vô biên công đức, đi đến viên thành Phật đạo.
Sáu câu “Ông nghe tất cả pháp bí mật … … sao lại không tự nghe cái nghe ?” cốt để cho ngài A-nan rõ : Phàm học đạo, cốt để biết đường tu tập, nếu học đạo mà không tự mình tu tập, thì không khác gì một người chỉ nói

 

* Trang 506 *
device

ăn mà không ăn, rốt cuộc không thể no được. Ngài A-nan nghe nhiều, nhớ nhiều Phật pháp, nhưng nếu không tu tập diệt trừ dục lậu, thì Phật pháp một đường, tâm niệm một nẻo có thể đi đến dùng ý thức mà phân biệt Phật pháp, phát sinh nhiều lầm lỗi. Hai chữ dục lậu ở đây, có nghĩa là ngũ dục và tam lậu, tức là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu; ngũ dục nằm trong dục lậu, nhưng nay, nêu riêng ra là vì ngài A-nan bị huyễn thuật nàng Ma-đăng-già, đã không giữ được tâm thanh tịnh và gần phá giới thể. ngài A-nan từ lâu dùng cái nghe mà thụ trì Phật pháp, nhưng vẫn không khỏi cái nạn Ma-đăng-già; vì thế nên ngài Văn Thù dạy ngài A-nan phải tự nghe cái nghe của mình, đi đến thật chứng tính nghe, viên thành đạo quả.
Sáu câu “Tính nghe không phải tự nhiên sinh … … thì cả sáu căn, đều giải thoát” nghĩa là, tính nghe tuy bản lai không sinh, không diệt, không phải có, không phải không, không phải năng, không phải sở; do chúng sinh bỏ mất tính nghe, nên tạo thành các tướng năng văn và sở văn, đối đãi với nhau. Tướng năng văn (biết nghe) nương với thanh trần sở văn (bị nghe) mà có; tướng năng văn không phải tự nhiên mà sinh ra, nó đối với thanh trần mà phát hiện, do đó, mới có danh từ gọi nó là năng văn. Nếu quán về tính nghe, vào được dòng viên thông, không còn phân biệt, thì hai tướng động, tĩnh nơi thanh trần không còn tồn tại; tướng sở văn đã không còn, thì tướng năng văn đối với cái gì mà thành lập; chừng ấy, chỉ còn tính giác thanh tịnh, bản lai không có năng, sở và các tướng năng văn, sở văn chỉ là những sự vật duyên khởi trong giác tính, như huyễn như

* Trang 507 *
device

hóa không có tự tính. Như thế là nhĩ căn đã trở về bản tính vô phân biệt; trí vô phân biệt đã hiện tiền, thì tất cả các tướng năng, sở ở các căn khác đều không thể thành lập và cả sáu căn đều được giải thoát.
Bốn câu “Thấy, nghe như bệnh lòa huyễn hóa … … trần tướng tiêu, giác tính viên tịnh” nghĩa là, các tướng năng kiến, năng văn, cũng như các tướng năng phân biệt khác, đối với giác tính, đều như bệnh lòa huyễn hóa và các tướng ba cõi, do phân biệt tạo thành, thật không khác gì hoa đốm giữa hư không. Vì vậy, khi xoay cái nghe trở về bản tính, không còn năng sở, không còn phân biệt, thì cái cội gốc bệnh lòa phân biệt được tiêu trừ, do đó, các trần tướng hoa đốm đều tiêu diệt và giác tính bản lai viên dung thanh tịnh được tỏ bày.
Sáu câu “Tột thanh tịnh, trí quang sáng suốt … …thì còn ai bắt Ông được nữa ?” nghĩa là, càng đi sâu vào tính viên thông, không còn phân biệt, thì trí tuệ càng thêm sáng suốt, chứng được tâm tính bản lai yên lặng, biến hiện ra tất cả các sự vật như huyễn như hóa, nhưng vẫn không hề thấy thật có một sự vật nào; đó là thể tính tịch chiếu của tự tâm trùm khắp thập phương hư không, không còn một sự gì, vật gì ở ngoài thể tính tịch chiếu được. Trong thể tính tịch chiếu, trí tuệ trở lại xem các sự vật thế gian, thì toàn thể các sự vật thế gian đều như cảnh chiêm bao không khác. Cảnh chiêm bao do ý thức biến hiện, hình như có, nhưng không thật có, có thể dùng để làm ví dụ với cảnh thế gian do phân biệt biến hiện, hình như có, chứ không thật có. Đến chỗ đó, thì toàn thể sự vật thế gian như là

* Trang 508 *
device

chiêm bao, nàng Ma-đăng-già cũng là chiêm bao, còn có sự gì, vật gì sinh ra được phiền não mê lầm, còn có ai mà bắt ngài A-nan được nữa.
Sáu câu “Như các huyễn sư khéo trong đời … … các trò trở thành không có tính”, cốt dùng huyễn sư giật dây để ví cho cái phân biệt giả dối, dùng các trò huyễn để ví cho các tướng thế gian. Các nhà huyễn thuật giật dây, làm cho các hình tượng trò huyễn cử động như người thật, thì ví dụ với cái phân biệt giả dối vọng động tạo thành các sự vật thế gian. Các nhà huyễn thuật dừng giật dây, thì tất cả các trò huyễn đều yên lặng, không thành cái trò gì cả, cũng như dẹp được cái phân biệt giả dối, thì các sự vật thế gian đều không thành lập được.
Năm câu “Cả sáu căn cũng giống như thế … … thì cả sáu, đều không thành lập” nghĩa là, đem cái ví dụ trước hợp lại, với sáu căn hiện tiền, thì thấy rõ sáu căn vốn đồng một thể tính bản minh, do nhân duyên giả dối chia thành sáu thứ căn đối đãi với mỗi mỗi trần; nếu một căn trở về bản tính, không phân biệt năng, sở, thì cả sáu căn đều không thành lập được.
Bốn câu “Trong một niệm trần cấu đều tiêu … … sáng suốt cùng tột, tức Như Lai” nghĩa là, chúng sinh bị cấu nhiễm là do thấy thật có tiền trần sở tri đối với cái tâm năng tri; vì thế, nên đến khi nhận được tính không phân biệt, không còn năng, sở, thì trần tướng đều tiêu tan và tất cả những cấu nhiễm do trần tướng gây ra, đều không còn nữa; chừng ấy, tất cả những sự biến hiện đều là chân tính viên mãn sáng suốt thanh tịnh nhiệm mầu, toàn vọng tức

 

* Trang 509 *
device

là chân, không còn có điều gì sai khác. Các vị còn sót lại những trần cấu mê lầm, nghĩa là những tập khí mê chấp, là các bậc Hữu học và Vô học; đến khi sáng suốt cùng tột, diệt trừ tất cả các tập khí nhỏ nhiệm, nhập một với pháp giới tính tức là đồng với Như Lai.
Nói tóm lại, bản tính thanh tịnh không hề thêm bớt; bản tính của chúng sinh và bản tính của Phật đều bình đẳng không có sai khác; tu hành chỉ là để trừ diệt những mê lầm phiền não và gột rửa những thói quen phiền não mê lầm; hết mê lầm tức là giác ngộ, không còn tìm đâu xa nữa.
Năm câu “Hỡi Đại chúng và ngài A-nan … thật tính viên thông là như thế” kêu gọi ngài A-nan và tất cả Đại chúng nên tu pháp môn nhĩ căn viên thông, xoay cái năng văn, hằng ngày dong ruổi theo thanh trần, trở về quan sát trực nhận tính nghe; tính nghe hiện tiền; tức là thành đạo; lối tu chứng tính viên thông thiết thật là như vậy.
“Đây thật là một đường thẳng tiến
Vào Niết-bàn của vi trần Phật;
Các đức Như Lai trong quá khứ
Đều đã thành tựu pháp môn này;
Các vị Bồ-tát trong hiện tại
Đều viên minh vào pháp môn ấy;
Những người tu học đời vị lai
Đều nên nương theo pháp môn đó;
Con cũng do pháp ấy mà chứng,
Không phải chỉ Ngài Quán Thế Âm.
Thật như lời đức Phật Thế Tôn

* Trang 510 *
device

Đã hỏi tôi về các phương tiện
Để cứu giúp, trong đời mạt pháp
Những người cầu pháp xuất thế gian
Thành tựu được tâm tính Niết-bàn
Thì ngài Quán Thế Âm là hơn cả.
Còn tất cả các phương tiện khác
Đều là nhờ uy thần của Phật
Tức nơi sự, rời bỏ trần lao,
Không phải phép tu học thường xuyên,
Nông hay sâu cũng đồng nghe được.
Chọn lấy nhĩ căn làm phương tiện thích hợp.
Mười câu “Đây thật là một đường thẳng tiến … … không phải chỉ ngài Quán Thế Âm.” cốt để tán thán phép tu nhĩ căn viên thông là phổ biến; tam thế chư Phật, như số vi trần, đều do chứng tính viên thông nơi thập bát giới, chứng tính viên thông nơi nhĩ căn, mà vào tự tính thanh tịnh Niết-bàn. Các đức Như Lai trong quá khứ đều đã thành tựu tính viên thông nơi nhĩ căn; các vị Bồ-tát hiện tại đều đã sáng suốt chứng nhập tính viên thông ấy; phép tu chứng tính viên thông nơi nhĩ căn có hiệu nghiệm như thế, nên tất cả những người tu học đời vị lai đều nên nương theo pháp môn ấy mà tu học. Ngài Văn Thù lại nói thêm là chính ngài cũng do tu tập pháp môn nhĩ căn viên thông mà chứng quả, chứ không phải chỉ riêng một mình ngài Quán Thế Âm, để chỉ rõ người tu hành, lúc nào cũng phải tu chứng viên thông mới thành đạo quả. Tính viên thông là một, cho nên dầu tu chứng tính viên thông theo phương

* Trang 511 *
device

phương tiện nào, thì cũng chứng được tính viên thông nơi nhĩ căn; như thế, việc chứng tính viên thông nơi nhĩ căn là rất cần thiết để viên thành đạo quả.
Sáu câu “Thật như lời đức Phật Thế Tôn … … thì ngài Quán Âm là hơn cả” cốt tổng kết đáp lại lời Phật hỏi về các phương tiện rằng phương tiện tu hành của ngài Quán Thế Âm về nhĩ căn viên thông là hơn tất cả và có thể cứu giúp những người tu hành trong đời mạt pháp, chứng ngộ tâm tính.
Năm câu “Còn tất cả các phương tiện khác … … nông hay sâu cũng đều nghe được” cốt lựa bỏ các phương tiện khác, tức nơi sự mà rời bỏ được trần lao. Các vị tu chứng theo các phương tiện này, cũng như các vị tu chứng nhĩ căn viên thông, đều nhờ uy thần của Phật gia bị mà được giác ngộ; vì tất cả các người tu hành, nếu không được chư Phật, Bồ-tát che chở hộ trì, thì khó mà thành tựu được. Song, những pháp môn phương tiện khác, chỉ thích hợp với một số người nhất định, do những khó khăn đã kể trên kia, nên không phải là pháp tu học thường xuyên, có thể dạy cho tất cả mọi người, dầu căn cơ nông hay sâu cũng đều nghe được.
“Xin đảnh lễ tính Như Lai tạng,
Vô lậu, không còn sự nghĩ bàn,
Nguyện gia bị cho đời vị lai,
Nơi pháp môn này, không lầm lẫn.
Đây là phương tiện để thành tựu,
Nên đem dạy cho ngài A-nan
Cùng những kẻ trầm luân mạt kiếp,

* Trang 512 *
device

Chỉ dùng nhĩ căn mà tu tập,
Thì viên thông chóng hơn pháp khác;
Tâm tính chân thật là như thế.”
Đảnh lễ cầu gia bị
Bốn câu “Xin đảnh lễ tính Như Lai tạng … … nơi pháp môn này, không lầm lẫn” nghĩa là, vô lượng chư Phật, Bồ-tát trong mười phương ba đời, cũng như vô
lượng chúng sinh, đều do tính Như Lai tạng biến hiện; tính Như Lai tạng không có mê ngộ, nên thật là vô lậu; không có đối đãi, nên không còn sự nghĩ bàn. Ngài Văn Thù đảnh lễ tính Như Lai tạng, tức là đảnh lễ pháp giới tính, đảnh lễ thập phương chư Phật, Bồ-tát, đảnh lễ Phật tính của tất cả chúng sinh; Ngài đảnh lễ để cầu gia bị cho đời vị lai, không lầm lẫn về pháp môn này.
Sáu câu “Đây là phương tiện dễ thành tựu … … tâm tính chân thật là như thế”, cốt kết luận phương tiện tu hành về nhĩ căn dễ đi đến kết quả viên thông hơn các phương tiện khác, nên có thể dạy cho ngài A-nan và những người chìm đắm đời mạt pháp, chỉ nên do nhĩ căn mà tu chứng. Câu “Tâm tính chân thật là như thế”, cốt để chỉ rõ ngài Văn Thù đích xác từ tâm tính thanh tịnh thật thấy như thế, thật biết như thế, chứ không phải chỉ lấy lý mà suy diễn.
Nói tóm lại, tâm tính của tất cả chúng sinh luôn luôn là thanh tịnh, là viên dung, giống như tâm tính của Phật, không có sai khác, chỉ vì chúng sinh không giác ngộ được tâm tính ấy, lầm chia ra có năng, có sở, nên mới biến hiện ra có thân, có cảnh, có thế giới, có chúng sinh. Tâm tính là

 

* Trang 513 *
device

một, nhưng phương tiện diệt trừ mê lầm, xoay về trực nhận tâm tính, thì có nhiều pháp môn; tất cả các pháp môn đều đi đến chứng nhập tâm tính, không có gì là hơn kém, nhưng đối với căn cơ của mỗi mỗi chúng sinh, thì hiệu quả của từng pháp môn có khác nhau, do đó, nên chia ra có thuận, có nghịch, có mau, có chậm; dầu sao, tất cả các pháp môn cũng chỉ là phương tiện giúp cho trực nhận tâm tính mà thôi. Ngài Văn Thù lựa bỏ các pháp môn khác, cũng chỉ đối chiếu với căn cơ hiện tiền mà lựa bỏ và những khó khăn của Ngài nêu ra cũng chỉ là những khó khăn đối với căn cơ hiện tiền; vì thế, dầu tu pháp môn nào, nếu biết vượt những khó khăn đó, thì nhất định cũng thành đạo chứng quả. Cuối cùng, ngài Văn Thù chọn pháp môn tu chứng tính viên thông nơi nhĩ căn là thích hợp hơn cả. Ngài đã nêu ra nhiều ưu điểm của pháp môn này, nhưng không phải chỉ có pháp môn này mới có những ưu điểm như thế. Sự thật, thì dầu tu chứng pháp môn nào, khi giác ngộ tính viên thông, thì cũng đồng thời chứng tính viên thông nơi nhĩ căn, không có gì sai khác. Phương tiện tu chứng tính viên thông là phương tiện chủ yếu để thành đạo chứng quả; vì thế, nên tất cả những người phát tâm tu hành Phật pháp đều nên nhận rõ bản tính viên thông của mình, nương theo bản tính ấy mà tu tập, thì Phật tính hiển nhiên nơi tâm cảnh hiện tiền, chúng ta không cần tìm đâu xa nữa.
Lúc ấy, ngài A-nan cùng cả Đại chúng, thân tâm tỏ rõ, nhận được sự khai thị to lớn, xem quả Bồ-đề và Đại Niết-bàn của Phật, cũng như có người nhân có việc phải đi xa, chưa trở về được, song đã biết rõ con đường về nhà. Trong

* Trang 514 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm