LOGO VNBET
tịnh. Muốn trì giới được như thế, cần phải tu tập chính quán, như 25 vị thánh nhân đã trình bày, thì mới có thể nắm giữ cái tâm không khởi lên được.
Về phần “trái hiện nghiệp” xoay về bản tính, thì Phật dạy : Do thân tâm được thanh tịnh mà thoát ly được tiền trần, xoay được nội căn trở về bản lai tự tính, đi đến chứng được Vô phân biệt trí, thành tựu vô lượng vô biên công đức của chư Phật.
*
An lập các Thánh vị
Càn tuệ địa.
 A-nan, thị thiện nam tử … pháp lưu thúy tiếp.
- Giải thích : Trên con đường tu hành như thế, những phiền não mê lầm ngày càng được tiêu trừ, và do những phiền não mê lầm được tiêu trừ ít hay nhiều mà an lập các thánh vị. Các thánh vị, tuy có danh hiệu như nhau, nhưng lại khác nhau rất nhiều, tùy theo các thánh vị ấy, là của Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo hay của Viên giáo. Trong đoạn kinh nầy, Phật an lập các Thánh vị theo Biệt giáo Thánh vị này, không quán đã thành tựu, nhưng căn bản trí chỉ mới bắt đầu xuất hiện, chưa được viên mãn; chí khô khan có cái trí tuệ như thế, nên gọi là Càn tuệ địa.
Thập tín.
 Tức dĩ thử tâm … danh nguyên tâm trụ.
- Giải thích : Dùng căn bản trí, vừa mới phát khởi, quán bản lai tự tính, trừ diệt các vọng tưởng, nhận rõ

 

* Trang 544 *
device

thường trụ chân tâm, phát lòng tin chắc chắn quyết định thành Phật, thì gọi là Tín tâm trụ.
Chân tín đã được phát minh, hiện nghiệp không làm trở ngại được, thì có thể nhớ lại vô số kiếp về trước; gọi là Niệm tâm trụ.
Căn bản trí ngày càng phát huy, những tập khí mê lầm vô thỉ tuy còn, nhưng không làm trở ngại; tức dùng cái trí ấy xoay về chân lý, thì gọi là Tinh tiến tâm.
Chân lý hiện tiền, trí tuệ sáng suốt, thì gọi là Tuệ tâm trụ.
Trí được lý thì trí càng sáng suốt, lý được trí thì lý càng tịch tịnh; tuy tịch mà vẫn chiếu, tuy chiếu mà vẫn tịch; gọi là Định tâm trụ.
Định, tuệ dung hòa, đi sâu vào tự tính, chỉ có tiến chứ không lùi; gọi là Bất thối tâm.
Tính tịch chiếu hiện tiền, giao tiếp với khí phần thập phương Như Lai; gọi là Hộ pháp tâm.
An trụ nơi lý, trí dung hòa, tịch, chiếu không hai, thì xoay từ quang của Phật đem về tự tâm, và dùng tự tâm hướng theo Phật mà an trụ, như hai mặt kính đối chiếu với nhau, các bóng nhiệm mầu lớp lớp lồng với nhau; gọi là Hồi hướng tâm.
Tâm luôn luôn hướng về Phật, trí tuệ của Phật càng soi sáng tự tâm; Phật tức là tâm, tâm tức là Phật, cảm ứng thành tính vô thượng diệu tịnh, thường trụ không thay đổi; an trụ nơi đạo vô vi, không còn tạm sa vào hữu vi; gọi là Giới tâm trụ.

 

* Trang 545 *
device

An trụ nơi tâm vô vi, tùy nguyện đi khắp mười phương mà không sa vào hữu vi, thì gọi là Nguyện tâm trụ.
Mười vị thập tín trên đây, đều do phát huy căn bản trí vừa mới nẩy nở ở Càn tuệ địa, đi sâu vào bản lai tự tính, đầy đủ tín tâm, quyết định thành Phật.
Thập trụ.
 A-nan, thị thiện nam tử … đảnh trụ.
Mười Thánh vị sau là Thập trụ :
- Giải thích : Khi đã dùng phương tiện chân chính,
phát được mười tín tâm ở trên, thì đã phát thêm trí tuệ, khế hợp chân lý, tin chắc tự tâm là Phật, phát tâm rộng lớn, tu hành viên mãn quả Phật; gọi là Phật tâm trụ.
Dùng cái tâm tính đã phát minh làm chỗ nương đứng, để trừ sạch những thói quen mê lầm; gọi là Trị địa trụ.
Tâm tính hiện tiền, mọi việc đều tỏ rõ, đi khắp mười phương làm Phật sự, không còn gì ngăn ngại; gọi là Tu hành trụ.
Hạnh đồng như Phật, nhận khí phần của Phật, vào giống Như Lai; gọi là Sinh quý trụ.
Đã vào đạo thai, nhờ Phật chăm sóc, phương tiện ngày càng đầy đủ; gọi là Phương tiện cụ túc trụ.
Tâm tướng đồng như Phật, từ bi hóa độ chúng sinh cũng đồng như Phật; gọi là Chính tâm trụ.
Vận dụng cả bi và trí, ngày thêm tiến mãi đến chỗ diệu viên; gọi là Bất thối trụ.

 

* Trang 546 *
device

Một thời đầy đủ mười thân; gọi là Đồng chân trụ. (Mười thân của Như Lai là Bồ-đề thân, Nguyện thân, Hóa thân, Lực thân, Trang nghiêm thân, Uy thế thân, Ý sinh thân, Phúc thân, Pháp thân, Trí thân; vị này tuy chưa được Nhất thiết chủng trí, nhưng trí thể đã đầy đủ, tức tâm là Phật, nên có thể có đủ mười thân).
Ra khỏi thánh thai, chính mình làm Phật tử; gọi là Pháp vương tử trụ.
Bi, trí đầy đủ, có thể được Phật ủy thác làm các Phật sự, như các ông Vua, khi Thái tử lớn lên, làm lễ quán đỉnh, ủy thác cho một phần công việc; gọi là Quán đỉnh trụ.
Thập hạnh
 A-nan, thị thiện nam tử … danh chân thật hạnh.
Mười Thánh vị sau là Thập hạnh :
 - Giải thích : Trong mười vị trước, tu tập các đức tướng của Như Lai đã được đầy đủ, đến đây mới phát khởi các hạnh Bồ-tát.
Các vị tu hành, phương tiện đầy đủ, bỏ được ý riêng, theo căn cơ dục vọng của thập phương chúng sanh mà hóa độ, thì gọi là Hoan hỉ hạnh.
Trừ cái khổ phiền não, cho cái vui Bồ-đề, khéo làm những việc lợi ích cho tất cả chúng sinh, thì gọi là Nhiêu ích hạnh.
Tự giác cốt để giác tha, giác tha tức là tự giác, tùy cơ, tùy thời mà hóa độ, không trái với căn cơ của chúng sinh, thì gọi là Vô sân hận hạnh.

 

* Trang 547 *
device

Tùy thuận các loài mà hiện thân hóa độ, mười phương ba đời đầy đủ trong đương niệm, phát được Bồ-đề nguyện rộng lớn không cùng; gọi là Vô tận hạnh.
Nhận được thật tướng của các pháp, tùy theo căn cơ dạy bảo tất cả pháp môn, không có sai lầm; gọi là Ly si loạn hạnh.
Lúc hiện thân hóa độ, trong thể không sai khác, hiện ra sai khác, mà mỗi mỗi cái sai khác hiện ra, đều là những cái sai khác của tính thể không sai khác, thì gọi là Thiện, hiện hạnh.
Vi trần và sát độ dung hợp; trong pháp tính chân không như huyễn, lớn và nhỏ đều bình đẳng; thập phương thế giới hiện trong một vi trần, mà thế giới cũng không nhỏ bớt, vi trần cũng không lớn thêm; vi trần và thế giới không ngăn ngại nhau, thì gọi là Vô trước hạnh.
Tất cả các pháp đồng một pháp giới tính, bình thường nhật dụng đều là cảnh giới bất tư nghì, tất cả đều là Đệ nhất nghĩa ba-la-mật, thì gọi là Tôn trọng hạnh.
Viên dung được như vậy, có thể thành tựu quỹ tắc của chư Phật mười phương, thì gọi là Thiện pháp hạnh.
Tất cả các hạnh đều không rời thật tướng, không có sinh diệt, không có ngăn trở, đều là tự tính thanh tịnh tâm, thì gọi là Chân thật hạnh.
Thập hồi hướng
 A-nan, thị thiện nam tử … vô lượng hồi hướng.
Mười Thánh vị sau nữa là Thập hồi hướng :

* Trang 548 *
device

- Giải thích : Các vị tu hành, trí tuệ mở mang, phương tiện đầy đủ, trong nhất chân pháp giới làm các Phật sự, đồng nhất chân pháp giới làm các Phật sự, đồng thời xa rời những vọng tưởng còn sót lại; đương lúc hóa độ chúng sinh, diệt các tướng năng độ, sở độ, xoay tâm vô vi hướng về tự tính Niết-bàn; gọi là Cứu hộ chúng sinh, Ly chúng sinh tướng hồi hướng, nghĩa là hồi hướng cứu giúp tất cả chúng sinh mà rời bỏ tướng chúng sinh.
Diệt trừ những cái có thể diệt trừ, xa rời tất cả các sự xa rời; gọi là Bất hoại hồi hướng.
Tính bản giác yên lặng, bình đẳng với giác tâm chư Phật, thì gọi là Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.
Tính bản giác được phát minh, tất cả các ly địa đều đồng như Phật địa, thì gọi là Chí nhất thiết xứ hồi hướng.
Lý địa và bản giác, thế giới và Như Lai, cũng như căn thân và khí giới, đều viên dung vô ngại, thì gọi là Vô tận công đức tạng hồi hướng.
Trong chỗ lý trí viên dung, đồng như Phật địa, phát huy những nhân hạnh thanh tịnh, hồi hướng đạo Niết-bàn, thì gọi là Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.
Bình đẳng thiện căn đã thành tựu, viên chứng được tự tính thanh tịnh tâm, nhận thấy thập phương chúng sinh đều đồng một Như Lai tạng tính, đều đã thành Phật đạo, thì gọi là Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng, nghĩa là hồi hướng thuận theo bản lai tự tính, quán tất cả chúng sinh, tất cả chư Phật đều bình đẳng, không hai không khác và tất cả những sự sống chết, tất cả những

 

* Trang 549 *
device

hạnh hóa độ, chỉ là những biến hiện như huyễn trong Nhất chân pháp giới.
Tức tất cả là pháp, ly hết tất cả các tướng, và cả cái tức, cái ly, đều không dính dáng, thì gọi là Chân như tướng hồi hướng.
Không tức, không ly, thể tính chân như cùng khắp mười phương, tự tại độ sinh, không gì ngăn ngại; gọi là Vô phược giải thoát hồi hướng.
Trong Nhất chân pháp giới, tất cả sự vật đều bình đẳng như hư không; gọi là Pháp giới vô lượng hồi hướng.
Tứ gia hạnh.
 A-nan, thị thiện nam tử … thế đệ nhất địa.
- Giải thích : Tiếp theo mười vị hồi hướng là bốn vị gia hạnh :
Pháp giới bình đẳng, tính đức được viên thành, chỗ giác ngộ như Phật; tức lấy cái Phật giác dùng làm tâm mình, diệt trừ các phân biệt pháp chấp nhỏ nhiệm, cũng như khi dùi cho ra lửa để đốt cái cây, mà mới có hơi ấm, thì gọi là Noãn địa.
Lấy cái tâm mình, thành chỗ nương đứng của Phật, như lên núi cao, thân đã vào hư không mà bên dưới còn chút ngăn ngại, thì gọi là Đỉnh địa.
Tâm và Phật đồng nhau, tâm và Phật đều không thể phân biệt, không phải quên, không phải nhớ, khéo được trung đạo; gọi là Nhẫn địa.

 

* Trang 550 *
device

Mê, ngộ bình đẳng, gọi là trung đạo và cả cái trung đạo cũng không còn nữa, thì gọi là Thế đệ nhất địa.
Thập địa
 A-nan, thị thiện nam tử … danh pháp vân địa.
- Giải thích : Sau bốn vị Tứ gia hạnh là Thập địa :
Qua Thế đệ nhất địa, diệt trừ được những pháp tướng mê lầm, giác ngộ, và diệt cả pháp tướng phi mê, phi giác tức là Trung đạo, bình đẳng với bất bình đẳng, cũng đều bình đẳng, bản lai tự tính viên dung vô ngại hiện tiền trong nhật dụng; chỗ giác ngộ đã cùng tột cảnh giới chư Phật, diệt trừ được phân biệt ngã chấp và phân biệt pháp chấp, bắt đầu được pháp lạc, nên gọi là Hoan hỉ địa, tức là Sơ địa.
Tất cả những tính sai khác đều vào một tính “đồng” và tính “đồng” cũng diệt, thì gọi là Ly cấu địa.
Nội tâm càng thanh tịnh, trí tuệ càng sáng suốt; gọi là Phát quang địa.
Trí tuệ được sáng suốt tột bậc, thì giác ngộ được viên mãn; gọi là Diệm tuệ địa.
Tất cả những cái đồng, cái khác không thể đến được, chân đế và tục đế viên dung không hai; gọi là Nan thắng địa.
Vô vi chân như không nhiễm, không tịnh, thường thường hiện tiền, tự tính chân như lộ rõ; gọi là Hiện tiền địa.

 

* Trang 551 *
device

Tất cả đều là chân như, không có gì không phải chân như, cùng tột bờ bến chân như, thì gọi là Viễn hành địa.
Một tâm chân như, thường trụ không thay đổi; gọi là Bất động địa.
Phát ra cái dụng của chân như, hiện ra vô số thân hóa độ chúng sinh, đầy đủ bốn trí vô ngại; gọi là Thiện tuệ địa.
Tu tập hoàn thành, công đức đầy đủ, từ bi trí tuệ viên mãn, đủ sức che chở vô lượng chúng sinh; gọi là Pháp vân địa, tức là Thập địa Bồ-tát.
Kết thúc bằng hai quả vị Đẳng giác và Diệu giác.
Như Lai nghịch lưu … danh vi tà quán.
- Giải thích : Như Lai từ cực quả, thương xót chúng sinh đi ngược vào bể sinh tử mà hóa độ; Bồ-tát theo lời Phật dạy, từ bể sinh tử, phát căn bản trí, trải qua các vị tu hành, thuận theo bản tính, đi đến Phật quả; đến đây, Bồ-tát đã được đồng một giác tính bình đẳng với Như Lai, nên gọi là Đẳng giác.
Đến Đẳng giác rồi, giác ngộ sinh tướng vô minh thì chứng được Nhân địa Như Lai, tức là Diệu giác, chuyển Dị thục thức thành Bạch tịnh thức, nhập một với pháp giới tính là then chốt của nhân quả, vào Kim cương đạo và được bậc Sơ càn tuệ địa trong Kim cương tâm. Từ đó, phát ra đại dụng của pháp giới tính, nhậm vận độ sinh theo diệu dụng của pháp giới tính; Nhất thiết chủng trí, Nhất thiết trí, tùy duyên hóa hiện, độ thoát chúng sinh, như hạt châu Ma-ni ánh ra nhiều sắc, mà vẫn không lúc nào rời tự tính thanh

* Trang 552 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm