LOGO VNBET
Số 196
KINH TRUNG BỔN KHỞI

 
Hán dịch: Đời Hậu Hán, Tam tạng Pháp sư Tây vực
Sa-môn Đàm Quả và Khương Mạnh Tường.
 
QUYỂN THƯỢNG1

Phẩm 1: CHUYỂN PHÁP LUÂN
Tôn giả A-nan nói:
Lúc trước tôi theo hầu Đức Phật được nghe như sau:
Một thuở nọ Đức Phật trú dưới cội Bồ-đề tại đạo tràng Thiện thắng thuộc cương thổ nước Ma-kiệt-đề, Đức Đại Hùng hàng phục chúng ma, Thánh tâm an tịnh tuệ giác viên mãn, thông đạt ba đức: Thiên nhãn, túc mạng và lậu tận vô ngại, độ hai thương gia Đề-vị và Ba-lị2, truyền trao ba phép tự quy y và năm giới, để họ trở thành Ưu-bà-tắc. Đức Thế Tôn nhớ lại trong quá khứ có Đức Cổ Phật tên là Định Quang, Ngài nhờ lễ bái danh hiệu Đức Phật này, nên được Phật ấy thọ ký:
–Trong chín mươi mốt kiếp về sau, ông sẽ thành Phật tên là Thích-ca Văn, hiệu Như Lai Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Bậc Chúng Hựu cứu độ chúng sinh như Ta hiện nay.
Từ đó đến nay, Ta tu tập điều phục bổn tâm, hành trì sáu độ
_________________
1. Trong bộ Trường A-hàm, kinh này có tựa là Tứ Bộ Tăng.
2. Đề-vị: (Pàli: Trapusa) còn gọi là Đế-lê-phú-ta, Qua-li-vị… Ba-lị: (Pàli: Bhallika) còn gọi là Bạt-lê-ca, Ưu-bà-li…

* Trang 745 *
device

đến chỗ viên mãn diệu lý, tích lũy công hạnh; bốn Bình đẳng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) không khi nào thoái giảm, thực hành các hạnh khó làm, chịu vô lượng khổ đau, công đức tròn đủ nên được thành Phật.
Đức Thế Tôn suy Nghĩ: “Ta vốn phát tâm thệ nguyện khi trời Đế Thích vì chúng sinh đến thỉnh pháp sẽ mở cửa diệu pháp cam lộ. Ai thích hợp để được nghe trước tiên? Trước đây, Ta xuất gia học đạo, trên đường đi vị Phạm chí A-lan-ca-lan có bảo chờ đến khi Ta chứng ngộ. Do vậy nên độ vị ấy trước”.
Nghĩ thế rồi hướng ý đi tìm. Chư Thiên theo Thiên ý ở trên không trung thưa:
–Vị ấy đã mất cách đây bảy ngày.
Đức Phật bảo:
–Khổ thay! Này A-lan-ca-lan, cửa pháp cam lộ đang mở sao ông không được nghe.
Đức Phật lại Nghĩ: “Cửa pháp cam lộ đang mở, ai là người kế tiếp đáng được nghe? Uất-đầu-lam-phất là vị kế tiếp xứng đáng được nghe”.
Ngài vừa đứng dậy hướng ý đi tìm, chư Thiên lại thưa:
–Vị đó mới mạng chung vào chiều hôm qua.
Đức Phật nói:
–Vị ấy sẽ mãi mãi bị suy thoái, diệu pháp cam lộ đang mở bày lại không được nghe, bị trôi dạt trong vòng sinh tử, làm sao chấm dứt sự luân chuyển trong năm đường, đau khổ biết bao! Đức Phật lại suy Nghĩ: “Trống pháp cam lộ vang rền khắp ba ngàn cõi trời, ai nên được nghe trước? Xưa kia phụ vương Ta lệnh cho năm người là:
1.Câu-lân.
2.Át-bệ.
3.Bạt-đề.
4.Thập Lực Ca-diếp.
5.Ma-nam-câu-lợi dâng mè lúa cho Ta.
Hầu hạ Ta rất cực nhọc, nên báo đáp công đức ấy”.
Khi đó năm vị này đều ở tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ Đức Như Lai mới từ cội Bồ-đề đứng dậy với thân tướng tốt đẹp uy nghi trang nghiêm, ánh minh quang bừng tỏa khắp thế gian, thần khí oai hùng

* Trang 746 *
device

chấn động muôn phương khiến người người trong thấy đều hoan hỷ. Ngài đi thẳng đến nước Ba-la-nại, giữa đường Ngài gặp một vị Phạm chí tên là Ưu-hu. Thoáng thấy thân tướng oai nghi trang nghiêm rực rỡ của Đức Thế Tôn, ông ta vừa kinh hãi, vừa vui mừng đứng một bên đường cất tiếng khen ngợi:
–Thật là sức oai thần làm cảm phục lòng người, uy nghi thanh thoát đónh đạc! Ngài nương học với vị thầy nào mà được tư dung như vậy?
Đức Phật vì Ưu-hu nói bài tụng:
Tự ngộ tám Chánh đạo
Không ly, không ô nhiễm
Tắt ái, phá lưới dục
Tự nhiên, chẳng nhờ thầy.
Ta tu hành, không thầy
Một mình, không bạn lữ
Tích hạnh thành Phật vị
Từ nay truyền đạo Thánh.
Ưu-hu hỏi Đức Phật Cù-đàm:
–Nay Ngài đi đến đâu?
Đức Phật bảo vị Phạm chí:
–Ta muốn đến vương quốc Ba-la-nại, đánh trống pháp cam lộ, chuyển pháp luân vô thượng mà các Thánh nhân trong ba cõi chưa từng truyền giảng, khiến mọi người đều đạt được Niết-bàn như ta hiện nay.
Ưu-hu vô cùng hoan hỷ thưa:
–Tốt lành thay! Thật là tốt lành! Đúng như lời Đức Cù-đàm nói, kính xin Ngài mở bày diệu pháp cam lộ, đúng như thế truyền giảng chánh pháp.
Đức Như Lai vào kinh đô nước Ba-la-nại, đi tới các cội cây trong vườn Nai thuộc vùng đất tên gọi Cổ tiên nhân, chỗ năm vị kia đang họp trú. Năm vị ấy từ xa trông thấy Đức Phật đi đến, liền cùng nhau bàn luận:
–Chúng ta bền bỉ chịu khổ, xa lìa gia đình, trèo non vượt núi khổ cực vô cùng để dâng cúng mè lúa cho người này, Nghĩ rằng vị

* Trang 747 *
device

ấy có thể kham nhẫn được. Nhưng vì về sau, trong cuộc chiến với tập khí phiền não trong nội tâm, vị ấy lại mềm yếu, thoái tâm. Do vậy bây giờ vị ấy trở lại đây, một hạt mè, một hạt lúa chúng ta cũng không cúng. Nay muốn xin ăn thì làm sao có thể biện bạch gì? Chúng ta chỉ nhường cho vị ấy một chỗ ngồi, nhưng mỗi người không quỳ, không thăm hỏi gì. Vị ấy thấy không an lạc chắc chắn phải tự bỏ đi mà thôi.
Khi đó Đức Thế Tôn vì năm vị ấy hiển bày Phạm tướng vi diệu. Cả năm vị không có chủ ý nhưng đồng đứng dậy đảnh lễ, hầu hạ Ngài như trước. Đức Phật hỏi năm vị ấy:
–Các ông cùng nhau bàn luận là không được đứng dậy, vì sao nay lại đảnh lễ?
Họ đều thưa:
–Chúng tôi vì Ngài nên ở lại đây bền tâm trải qua bao nhiêu sự khổ nhọc. Vua Tịnh Phạn bạo ngược xa lìa đạo đều bởi do Ngài đó.
Đức Phật bảo năm vị ấy:
–Các ông chớ có ý niệm khinh rẽ Như Lai. Như Lai là Đấng Toàn Giác Bình Đẳng Tối Thượng, Bậc Vô Thượng Chánh Chân, Đấng Đại Giác Tối Thượng. Các ông không nên dùng ý niệm trong vòng sinh tử mà đối xử. Vì sao được tương kiến với Ta, các ông lại gọi tên của phụ thân Ta?
Ngài lại nói với họ:
–Các ông hãy quan sát thân tướng của Ta có giống như lúc ở dưới gốc cây trước đây không?
Năm vị ấy trả lời:
–Trước đây thân Ngài tiều tụy, nay tươi sáng rực rỡ. Lúc trước Ngài Tĩnh tọa dưới gốc cây, thân ngay mắt khép, mỗi ngày chỉ dùng một hạt mè, hạt lúa mà còn cho là chẳng phải con đường giác ngộ. Nay Ngài đã trở lại vòng thế sự ăn mặc tùy thích làm sao cho đó là con đường chánh giác được?
Đức Phật dạy năm vị ấy:
–Thế gian có hai việc khiến người ta tự hại và bị mọi người khinh thường.
Hai việc ấy là gì? Đó là sát sinh và dâm dục phóng đãng, ỷ lại vào giàu sang nên sinh tâm tham đắm dục lạc làm khổ cực mệt mỏi

* Trang 748 *
device

thân thể, nội tâm không có tư niệm giải thoát. Xa rời hai việc ấy, chẳng phải là bậc Hiền thánh sao? Ta đối với chín mươi sáu học lý trước đây không hề rời bỏ, vì tâm Ta an trú trong Trung đạo, không bị ràng buộc vào hai cực đoan. Tâm an trú trong Trung đạo là thế nào? Chính là liễu giải con đường đưa đến tuệ giác, thông đạt tất cả các loại trí tuệ, sáu năng lực thần thông đều liễu tri, thực hành trọn vẹn tám pháp chánh đạo. Đó gọi là tâm an trú trong trung đạo, trụ trong Niết-bàn.
Đức Phật giảng xong nhưng cả năm vị vẫn chưa thể lĩnh hội. Sau đó, khi ba vị này đi khất thực thì hai vị kia ở lại hầu Đức Phật. Đức Phật giảng nỗi khổ đau từ sắc cho hai vị ấy:
–Tất cả nạn tai đều từ sắc dục sinh ra. Vạn vật mà ta ưa thích đều là vô thường, con người cũng không thường trụ. Giống như nhà ảo thuật, biến hóa mọi vật theo ý muốn, kẻ ngu thấy vậy say mê, tham đắm không nhàm chán nhưng nhà ảo thuật hiểu rõ sự huyễn hóa ấy nên không bị lôi kéo, không bị mê đắm. Vì sao vậy? Vì đó là vật giả hiện, không phải là chân thật.
Đức Phật vì hai vị ấy nói bài tụng:
Phóng tâm theo dâm dục
Gốc dục lớn càng nhanh
Sắc buộc, oán họa sinh
Họa tiêu bởi lìa dục.
Khi hai vị kia đi khất thực, ba vị này ở lại hầu Đức Phật, Ngài giảng nỗi khổ từ tham cho họ:
–Ham lợi cầu vinh là điều kẻ mê loạn, cuồng si thường đắm đuối. Tất cả công đức, hạnh lành bị phá hủy, làm hại đều do lòng tham. Được thì vui mừng, mất thì phẫn nộ, tâm trạng ấy kẻ tham dục không hề nhàm chán. Cái lợi ấy thật là hiểm nguy mỏng manh như đám phù vân thoáng trôi qua. Khi già bệnh chết đến, nó sẽ tan hoại chẳng thể chia xẻ cho ai. Giống như người nằm mộng, tỉnh giấc chẳng còn thấy gì. Bậc trí cần rời bỏ tham dục mới được đại tịch Tĩnh.
Đức Phật vì ba vị ấy nói bài tụng:
Ý dục tham như đất
Dưỡng giống luyến si tâm

* Trang 749 *
device

Đoạn niệm tham cầu lợi
Vĩnh viễn thoát ưu sầu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nhân đó tuyên giảng pháp yếu rộng rãi, không phân biệt, năm vị nghe xong liền thấu hiểu, xin làm đệ tử.
Đức Phật tuyên nói:
–Thiện lai Tỳ-kheo.
Cả năm vị được thâu nhận thành Sa-môn. Đức Phật dạy các Tỳ-kheo:
–Này các Tỳ-kheo, có hai việc lôi cuốn đưa người tu tập đến bờ khổ não. Một là nhớ Nghĩ đến sắc dục, làm cho tâm ý không an tịnh. Hai là tham luyến, buộc ràng với ái dục, làm cho chí hạnh không thể thanh tịnh. Hai việc ấy khiến bậc tu hành bị lôi cuốn trở lại với các tà hạnh sinh ra không gặp Phật, chống trái và xa lìa chánh đạo. Nếu nỗ lực đoạn ly dục tham, tinh tấn trau dồi tuệ mạng có thể đạt được Niết-bàn. Niết-bàn là gì? Trước tiên phải tuệ tri Tứ đế. Tứ đế là gì? Một là Khổ, hai là Tập, ba là Tận, bốn là Nhập đạo. Như vậy, này các Tỳ-kheo, cần nuôi dưỡng tuệ giác, nhất tâm thiền quán sẽ thể đạt được đạo. Pháp nhãn sáng tỏ sẽ giải ngộ được Tứ đế, bắt đầu dự vào dòng Thánh đạo.
Thế nào gọi là Khổ?
Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, bi thương, tức giận buồn bực là khổ; yêu thương nhưng phải xa lìa là khổ; oán ghét mà phải gặp nhau là khổ; cầu mong nhưng không được là khổ. Tất cả khổ đau đều từ năm ấm, chấp thủ năm ấm là khổ.
Thế nào gọi là Tập?
Tất cả những gì ràng buộc với ái đều là Tập, thoát ly ái thì Tập không còn.
Thế nào gọi là Tận?
Từ tuệ giác rõ biết tất cả phiền não đều có gốc rễ từ ái thì ái tận diệt. Tâm lặng tắt ái, không bị ái nhiễm nên tỉnh giác hoàn toàn. Như thế gọi là Tận.
Thế nào gọi là Nhập đạo?
Chính là tám đạo lộ chân chánh. Một là Chánh kiến, hai là Chánh lợi, ba là Chánh ngôn, bốn là Chánh hạnh, năm là Chánh mạng, sáu là Chánh trị, bảy là Chánh chí, tám là Chánh định.

* Trang 750 *
device

Đó là Khổ, Tập, Tận và Nhập đạo. Chân lý ấy vốn là vô sinh, vì vô sinh nên không già, vì không già nên không bệnh, vì không bệnh nên không chết, vì không chết nên không dẫn đến khổ đau. Không khổ đau là trạng thái an lành tối thượng, hướng đến Niết-bàn. Bấy giờ Đức Như Lai liền nói bài tụng:
Đạo lớn không qua lại
Lý huyền diệu tịch không
Thể vô tử, vô sinh
Niết-bàn an tịnh xứ.
Tối thượng đại tịch Tĩnh
Tối thắng không tạo tác
Thiên xứ cảnh mỹ thanh
Niết-bàn vượt Thiên xứ.
Đức Phật giảng xong bài pháp, năm vị nhóm ông Câu-lân đều đắc được pháp nhãn.
Đức Phật hỏi:
–Này Câu-lân, ông đã thể hội chưa?
Tôn giả Câu-lân từ chỗ ngồi đứng dậy thưa:
–Bạch Thế Tôn, con vẫn chưa thể hội.
Đức Phật lại giảng cho Tôn giả Câu-lân:
–Này Câu-lân trong quá khứ xa xưa về trước, có một vị vua tên là Ác Sinh cùng các cung tần mỹ nữ vào núi vui chơi. Vua ra lệnh các quan tùy tùng đứng dưới chân núi, chỉ dẫn các cung nữ thả bước tiến lên đỉnh núi. Lúc ấy nhà vua rất mệt mỏi nên nằm nghỉ, đoàn cung nữ để nhà vua ở lại, đi hái hoa. Thấy một hiền sĩ đang Tĩnh tọa dưới gốc cây, lòng họ rất hân hoan nên đều đến đảnh lễ. Vị hiền sĩ cất tiếng gọi:
–Các cô hãy đến đây!
Ngài bảo các cung nữ ngồi xuống rồi thuyết pháp cho họ nghe.
Nhà vua tỉnh giấc đi tìm các cung nữ, thấy họ đang ngồi trước một vị tu sĩ. Nhà vua bản tánh hay đố kî nên liền khởi lên ác tâm, hỏi vị hiền sĩ:
–Tại sao ngươi dụ dỗ các cung nữ của ta? Ngươi là ai mà ngồi ở đây?

* Trang 751 *
device

Vị hiền sĩ biết trước ý vua nhất định sẽ xuống tay hung bạo, làm hại liền đáp:
–Tôi là người tu hạnh nhẫn nhục.
Nhà vua liền rút gươm chặt đứt hai cánh tay của vị hiền sĩ rồi hỏi tiếp:
–Ngươi là ai?
Ngài đáp:
–Quả thật tôi là người tu hạnh nhẫn nhục!
Nhà vua lại xẻo tai, cắt mũi vị hiền sĩ, nhưng tâm ngài vẫn kiên cố bất động. Ngài vẫn trả lời:
–Tôi là người tu hạnh nhẫn nhục.
Nhà vua thấy sắc mặt của vị hiền sĩ không hề biến đổi, bèn hối hận đến trước ngài xin sám hối. Vị hiền sĩ bảo nhà vua:
–Nay ngài vì nữ sắc đã dùng đao cắt chặt thân ta. Nhưng lòng nhẫn nhục của ta như mặt đất, ta nhất định sẽ đắc quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Ta sẽ dùng trí tuệ toàn giác để đoạn trừ sinh tử của ngài.
Nhà vua tự Nghĩ mình tội quá nặng, chắc chắn phải chịu nhận lãnh tai ương nặng nề nên cúi đầu sát đất, xin hiền giả xót thương tha thứ.
Vị hiền sĩ bảo nhà vua:
–Nếu hạnh nhẫn nhục của ta là chân thật, máu của ta sẽ biến thành sữa, những thương tích trên thân ta sẽ lành lại như xưa.
Đúng như lời ngài nói, máu hóa thành sữa và thân ngài bình phục lại như trước.
Nhà vua thấy sự hiển hóa chứng minh cho đức nhẫn của ngài, liền cúi mong ngài cứu độ, thành khẩn thưa:
–Nếu ngài thành đạo Chánh giác xin độ cho con trước tiên.
Vị hiền sĩ hứa chấp thuận. Nhà vua thoát khỏi cơn cuồng mê, bấn loạn, từ tạ vị hiền sĩ lui gót về cung.
Đức Phật bảo Câu-lân:
–Vị hiền sĩ tu hạnh nhẫn nhục lúc ấy chính là Ta, còn vua Ác Sinh thuở đó chính là ông. Này Câu-lân, ông đã thể hội chưa?
Tôn giả Câu-lân bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn, con đã thông đạt.

* Trang 752 *
device

Khi Đức Phật thuyết bài pháp ấy xong, năm vị Tôn giả nhóm ngài Câu-lân tâm trí bừng sáng, tất cả lậu hoặc đều rơi rụng. Cả năm vị đều chứng quả La-hán, tám vạn Thiên tử ở trên các cõi trời đều đắc pháp nhãn, ba ngàn thế giới bị chấn động mạnh.
Đó là lần đầu tiên Đức Như Lai ở nước Ba-la-nại chuyển pháp luân vô thượng mà trước đây chưa ai chuyển, rộng độ tất cả khiến không người nào không an lạc.

Phẩm 2: BIẾN HIỆN3

 
Bấy giờ trong thành Ba-la-nại có một vị trưởng giả tên là A-cụ-lợi, có một người con tên là Dã Dã (nước Tấn gọi là Bảo Xứng). Năm Bảo Xứng được hai mươi bốn tuổi bỗng sinh ra điều kỳ diệu, mỗi khi chàng cất chân đều có đôi guốc bằng ngọc lưu ly hiện ra. Cha mẹ rất quý điểm dị thường ấy nên đặt tên chàng là Bảo Xứng, xây riêng cho chàng một ngôi nhà, trong đó các chỗ ở hợp với thời tiết nóng lạnh khác nhau, luôn có kỹ nữ tấu nhạc suốt đêm ngày. Vào một ngày nọ, Bảo Xứng giữa đêm choàng tỉnh dậy, nhìn thấy các nàng hầu ngủ say dường như những cái xác không hồn, máu mũ chảy đầy, chân tay rời rã, nằm la liệt khắp cả gian phòng tựa như bãi tha ma. Chàng hoảng hốt bỏ chạy ra cửa thì cửa liền tự mở. Lúc ấy đất trời tối tăm mù mịt chỉ thấy một tia ánh sáng, chàng theo đó chạy đến cửa thành phía Đông, cửa thành lại tự mở. Một vầng sáng tỏa chiếu tại vườn Nai, chàng tìm theo vầng sáng ấy đi đến chỗ Đức Phật. Vừa nhìn thấy tướng Đức Phật tốt đẹp lạ thường, diện sáng trong lành, thân cao vòi vọi, tâm trạng cuồng loạn, kinh hoàng của chàng đều tan biến. Chàng cất tiếng than:
–Lâu nay ta ở mãi trong ngục ái ân, bị gông cùm danh sắc trói buộc, chẳng bằng nay theo Đấng Tối Tôn lại không được giải thoát sao?
Đức Phật dạy:
–Này chàng trai, hãy khéo đến với Bậc Toàn Giác. Nơi đây
_________________
3. Còn có tên là phẩm Thiện Lai.

* Trang 753 *
device

không có sự lo âu, tất cả hành28 đều vắng lặng.
Bảo Xứng đến trước lạy dưới chân Đức Phật rồi đứng qua một bên. Đức Phật vì Bảo Xứng thuyết pháp, nghe xong chàng liền đắc được pháp nhãn vô cấu, bèn rời chỗ đứng tới trước Phật bạch:
–Cúi xin Thế Tôn cho con được làm đệ tử.
Đức Phật tuyên nói:
–Thiện lai Tỳ-kheo.
Bảo Xứng được thâu nhận thành Sa-môn.
Sáng sớm các cô gái thức giấc không thấy chàng Dã Dã, hoảng hốt tìm kiếm khắp nơi, than vắn thở dài khóc lóc. Trưởng giả hoảng sợ mới hỏi cớ sự, các nàng hầu thưa:
–Không biết Bảo Xứng nay ở đâu?
Trưởng giả lo sợ, lập tức sai người cỡi ngựa tìm kiếm khắp nơi. Còn trưởng giả thì cỡi xe của con mình chạy về phía Đông tìm kiếm. Con đường dẫn ông tới một con sông tên Ba-la-nại. Vượt qua dòng sông, trưởng giả tìm thấy đôi guốc báu của con cởi bỏ lại bên bờ sông. Ông liền theo dấu chân thẳng đến vườn Nai. Đức Phật dùng phương tiện, khiến cho hai cha con không thấy nhau.
Trưởng giả thấy uy nghi trang nghiêm và thân tướng tốt đẹp của Đức Phật trong lòng mừng lo lẫn lộn quên mất sự cung kính, vội hỏi Đức Phật:
–Con của tôi tên là Bảo Xứng, dấu chân của nó tới đây, Đức Cù-đàm có thấy không?
Đức Phật bảo trưởng giả:
–Nếu con của ông ở đây, lo gì mà không thấy.
Đức Phật thuyết pháp cho ông:
–Sinh tử do si mê, sự ân ái nào cũng có chia ly, trừ bỏ hai mươi ức (2.000.000) điều ác sẽ đạt được quả Dự lưu.
Lúc ấy tâm của Bảo Xứng thông suốt, liền chứng quả A-la-hán. Cha con gặp nhau nhưng tình cảm không còn luyến tiếc như trước, trưởng giả vui mừng rời chỗ ngồi bạch Đức Phật:
–Hôm nay tâm con rất hân hoan, trong lòng có hai điều vui: một là vui vì được diện kiến Thế Tôn, thấu hiểu được pháp, hai là
________________
4. Hành: tạo tác của thân, miệng và ý.

* Trang 754 *
device

vui vì xa lìa được ái nhiễm.
Lúc bấy giờ, Bảo Xứng có bốn người bạn thân là Phú Nhục, Duy-ma-la, Kiều Viêm Bát và Tu-đà. Họ nghe Bảo Xứng đã xuất gia làm Sa-môn, vừa mừng vừa kinh ngạc đến nỗi lông tóc dựng đứng bảo nhau:
–Bảo Xứng là người đức cao trọng vọng, trí tuệ hơn người, danh tiếng vang lừng cả nước, chúng ta đều quy phục anh ấy, nay đã là Sa-môn. Chắc hẳn đạo ấy rất thù thắng nên mới khiến anh ấy bỗng nhiên bỏ sự vinh lợi ở đời như thế? Chúng ta nên cùng nhau đến gặp Đức Phật và để thăm hỏi Bảo Xứng.
Họ liền cùng đi. Vừa thấy khung cảnh chỗ Phật ngự, nhờ hạnh nguyện lúc trước nên họ lập tức sinh tâm hân hoan, được thông suốt, đầu mặt sát đất đảnh lễ rồi đến trước bạch Đức Thế Tôn:
–Đã từ lâu tâm chúng con trống rỗng, khao khát tìm đạo để được chuyển hóa. Cúi xin Ngài đừng vì sự thô lậu của chúng con, cho chúng con được làm đệ tử.
Đức Phật tuyên nói:
–Thiện lai Tỳ-kheo!
Tất cả đều được thâu nhận thành Sa-môn. Đức Phật giảng cho họ cội nguồn ý Nghĩa của tâm, giải bày con đường thanh tịnh tâm thức. Vừa nghe xong tâm họ được thông suốt liền chứng quả A-la-hán.
Bấy giờ kế bên Ba-la-nại có một huyện tên gọi là Đồ. Năm mươi người trong huyện ấy có việc sang nước Ba-la-nại, nghe tin các chàng trai Bảo Xứng, Phú Nhục… đều xuất gia làm Sa-môn, đều sinh ý Nghĩ: “Các chàng trai con nhà trưởng giả này tánh tình vốn kiêu ngạo, thích vui chơi, phóng túng, tài nghệ lại hơn người nhưng đều cảm hóa theo đạo. Đức Cù-đàm ắt hẳn là vị Thần mới khiến hàng quý tộc không còn Nghĩ đến vinh hoa”.
Mọi người đều phát khởi tâm niệm muốn đến chỗ Phật. Lập tức họ cùng lên đường thẳng dến vườn Nai. Do tâm nguyện lúc trước đúng thời được hóa độ nên gặp Đức Phật họ liền tâm khai ý giải, xin làm đệ tử. Đức Phật tuyên nói:
–Thiện lai Tỳ-kheo!
Họ đều được thâu nhận thành Sa-môn. Nhờ nỗ lực tu tập đúng

* Trang 755 *
device

theo lời Phật dạy nên các Tỳ-kheo này nhanh chóng thể đạt pháp yếu, trừ bỏ cấu nhiễm, thoát khỏi sự trói buộc của phiền não, đều chứng quả A-la-hán.
Lúc bấy giờ có một đám đông tụ hội trong vườn Nai ăn uống ca múa. Khi ấy có một thiếu nữ nhan sắc cực kỳ diễm lệ, đang nhảy múa giữa chúng hội. Mọi người trong lòng đều hân hoan, vô cùng ưa thích. Cô gái đang nhảy múa chưa xong thì bỗng nhiên biến mất. Mọi người mất thú vui nên buồn bực lo sợ lẫn lộn cùng nhau đi tìm, đến chỗ Đức Phật. Họ hỏi Ngài:
–Vừa rồi có một cô gái cùng ca múa với chúng tôi đi đến đây. Đức Cù-đàm có thấy nàng chăng?
Đức Phật bảo mọi người:
–Hãy tự quán thân mình, quan sát người khác làm gì. Sắc dục là vô thường, có hội họp thì có chia ly, giống như bọt nước nổi. Kẻ ngu ôm ấp, buộc rang với sắc dục nên tai họa do đó sinh ra. Thân là vật chứa sự khổ, chúng sinh đều như thế.
Khi nghe xong tâm của mọi người bừng tỉnh, xin xuất gia làm Sa-môn. Đức Phật trao truyền giới pháp, dẫn dắt các vị ấy đến địa vị Kiến đế (chứng ngộ chân lý), khiến tất cả đều đắc quả Ứng chân.
Đức Phật dạy:
–Này các Tỳ-kheo, các ông, mỗi người hãy lên đường độ cho tất cả chúng sinh. Theo chỗ lĩnh ngộ pháp tùy duyên làm người dẫn đường đưa họ qua cầu, truyền bá giáo pháp để tất cả đắc được pháp nhãn, hoằng dương Tam bảo, nhổ tận gốc ái, tận trừ cội sinh tử khiến họ thể đạt Niết-bàn. Nay một mình Ta sẽ đi đến vùng Ưu-vi-la.
Các Tỳ-kheo vâng nhận lời dạy, đầu mặt sát đất đảnh lễ dưới chân Đức Phật, đi nhiễu quanh Đức Phật ba vòng rồi từ đó mỗi người một hướng ra đi.

Phẩm 3: HÓA ĐỘ CA-DIẾP
 
Bấy giờ Đức Như Lai trở lại ­cương thổ nước Ma-kiệt-đề, đến vùng Ưu-vi-la, buổi tối Ngài dừng chân nghỉ trong ngôi vườn của Phạm chí Tư-nại. Sáng sớm, Ngài mang bình bát đến trước cửa nhà

* Trang 756 *
device

Phạm chí. Đức Phật hiện ánh sáng màu hoàng kim, chiếu vào nhà của vị Phạm chí. Hai người con gái của Phạm chí Tư-nại, cô chị tên là Nan-đà, cô em tên là Nan-đà-ba-la thấy vầng sáng hoàng kim nên vui mừng tìm đến chỗ Đức Phật, lễ bái thỉnh Phật. Đức Phật vào nhà dạy hai cô quy y Tam bảo, thọ trì năm giới. Đức Thế Tôn dạy:
–Thân này không phải của ta, mọi vật trên thế gian cũng đều trở về không.
Tâm hai cô gái thông suốt tỏ tường, cúi đầu vâng làm theo lời dạy. Lúc đó Đức Thế Tôn suy Nghĩ: “Từ khi bắt đầu học đạo, Ta chỉ có một ý hướng là cứu độ chúng sinh, hóa độ cho Ma vương cõi Dục thuận theo về với đạo”.
Gần bờ sông Ni-lan-thiền có một vị Phạm chí dòng họ Ca-diếp, tên Uất-tỳ-la, đã một trăm hai mươi tuổi, tu theo đạo thờ lửa, tinh cần không mỏi mệt, nên danh tiếng đồn khắp nơi, được người đời vô cùng cung kính, đệ tử theo học đến năm trăm người. Ca-diếp có hai người em. Họ đều xem anh mình như bậc Tôn sư đã đắc đạo. Cả hai đều có đệ tử riêng và cư trú ở vùng hạ lưu sông Ni-lan-thuyền. Ca-diếp tự Nghĩ: “Danh tiếng của ta càng ngày càng cao vọng, người trong nước đều kính ngưỡng. Nếu pháp thuật yếu kém thì uy tín dễ bị tổn hại, uy tín bị tổn hại thì danh tiếng cũng bị sụp đổ. Vậy ta phải tìm phương chước hay nhất để nhân dân cả nước đều ngưỡng vọng”. Ông liền đi kiếm một con rồng, dùng chú thuật nhốt nó vào trong một ngôi tịnh thất, rồi căn dặn độc long:
–Nếu có người đột nhiên vào ngôi tịnh thất này thì ngươi hãy phóng lửa, phun độc giết kẻ đó.
Đến ngày lễ hội, độc long phun lửa không ngừng. Khắp nơi mọi người đều đồn:
–Đạo thờ lửa của Đại sư Ca-diếp thật là thần diệu!
Danh tiếng Ca-diếp nhờ thế càng ngày càng vang xa.
Khi đó Đức Thế Tôn suy niệm: “Ngày xưa Ta xuất gia giữa đường gặp vua Bình-sa, theo ý nguyện của vua Ta có hứa nếu Ta thành đạo sẽ độ nhà vua giải thoát trước tiên. Ta nhờ tất cả mọi người nên mới được đắc đạo như vậy. Nay Ta quán sát lòng dân, đều ngưỡng vọng Ca-diếp, thật khó có thể khiến họ hồi tâm chuyển ý. Giống như quả ngọt trên tận cây cao nên không thể ăn được. Chỉ có

* Trang 757 *
device

đốn tận gốc cây, trảy cành thì nhất định hưởng được quả. Điều mà mọi người kiêng sợ chính là độc long. Trước tiên Ta phải hàng phục độc long thì Ca-diếp sẽ theo về. Như vậy thì đạo Giác ngộ mới có thể truyền bá rộng rãi không cùng”.
Đức Như Lai tuyên bố:
–Mặt trời chiếu khắp trời đất, có ba đức:
1.Ánh sáng tỏa ra phá trừ tăm tối, không nơi nào không được soi sáng.
2.Năm màu hòa tạp có thể phân tán ra từng màu rõ rệt.
3.Làm vạn vật nảy mầm sinh sản, sum suê tươi tốt.
Đức Như Lai ra đời cũng có ba đức:
1.Ánh sáng tuệ giác tối thượng chiếu soi, phá trừ màn vô minh, si ám.
2.Theo ngôn hạnh phân chia chúng sinh thành năm đường rõ rệt.
3.Dùng trí tuệ phương tiện cứu độ tất cả chúng sinh được lợi lạc và an ổn.
Sau khi suy niệm như thế, Bậc Chúng Hựu liền khởi hành đến vườn Tư-nại. Vào lúc chiều tối, Ngài đến ngôi tịnh thất mà Ca-diếp đã làm. Khi chưa tới nơi Ngài liền hiện ánh sáng hoàng kim khiến cây cối, đất đá đều có màu sắc như vàng ròng. Một đệ tử của Ca-diếp đang mang bình đi lấy nước, thấy sự biến hóa này, trong lòng rung động, nghi sợ quay lại tìm kiếm. Từ xa thấy Đức Thế Tôn, ánh minh quang rực rỡ đất trời, vị ấy không biết vì sao hiển hiện sự mầu nhiệm ấy nên chạy đến thưa thầy. Thầy trò cùng bước ra ngoài, thấy Đức Thế Tôn hiển lộ uy lực Phạm tướng, oai nghi rực sáng chói lòa.
Lòng Ca-diếp rung động, hoang mang không rõ việc gì tự Nghĩ: “Đây là mặt trời mà mắt ta thấy được chăng? Đó là trời chăng? Sao mắt của vị ấy lại sáng rực như thế?”. Suy tư một hồi lâu, ông mới nhận ra: “Đó chẳng phải là Thái tử Tất-đạt con vua Bạch Tịnh sao? Ta xem qua vận số có viết: Con vua Bạch Tịnh, có phước đức của bậc Thánh vương, không màng quyền tước vinh hoa, sẽ được làm Phật. Ngày trước ta nghe vị ấy xuất gia, có lẽ nay đã thành đạo rồi chăng?”
Đức Như Lai đi đến, Ca-diếp rất vui mừng nói:

* Trang 758 *
device

–Tốt lành thay! Đức Cù-đàm đã đến. Ngài từ đâu đến đây mà trông luôn an lành vậy?
Đức Phật vì Ca-diếp thuyết bài tụng:
Trì giới, suốt đời an
Chánh tín, chỗ ở tốt
Trí tuệ, thân an ổn
Không làm ác, được an.
Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Cúi mong Ngài hạ cố oai đức, đến chỗ tôi nhận bữa ăn đạm bạc.
Đức Phật trả lời Ca-diếp:
–Trong truyền thống chư Phật từ xưa, không ăn khi quá ngọ. Ta chấp nhận sự chí thành ấy và muốn nhờ một việc, ông có sẵn lòng không?
Ca-diếp đáp:
–Rất tiếc là tôi không chuẩn bị trước, kính mong Tôn Đức miễn chấp.
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Ta muốn nghỉ lại đây một đêm, ông không sẵn lòng sao?
Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Theo luật đạo của các Phạm chí chúng tôi, không được ngủ chung một phòng. Cúi mong Tôn Đức tha thứ điều ấy, tôi không thể nhạân hứa được. Tôi không làm sao đi ngược lại những gì pháp luật đạo quy định.
Đức Phật chỉ ngôi tịnh thất hỏi:
–Còn đó là ngôi nhà gì?
Ca-diếp đáp:
–Trong đó có một con Thần long, tánh tình nó rất hung ác. Mỗi khi có ai vào ngôi nhà đó nó liền phun lửa
thiêu chết lập tức.
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Hãy cho Ta mượn nghỉ ở đó.
Ca-diếp trả lời:
–Trong đó quả thật rất đáng sợ, tôi chỉ e con rồng hại Ngài mà thôi.

* Trang 759 *
device

Năm trăm vị đệ tử thảy đều run sợ, lo thầy của mình chấp nhận lời đề nghị của Đức Phật. Nhưng Đức Phật yêu cầu đến ba lần như vậy. Ca-diếp nghi ngại, nhưng ý không thể không ưng thuận:
–Chỉ sợ Ngài bị họa mà thôi!
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Lửa dục trong ba cõi Ta đã tiêu diệt được, thì độc long không thể hại Ta được.
Ca-diếp thưa:
–Đức Cù-đàm là Bậc Tôn Quý, có thể ở chỗ đó được thì xin tùy ý.
Đức Phật liền thu lại uy lực Phạm tướng, bước vào ngôi nhà.
Năm trăm người đệ tử của Ca-diếp tin chắc con rồng đó rất độc hại nên không ai không rơi nước mắt, tiếc thương cho Bậc Tôn Quý bị con rồng giết hại. Đức Phật Tĩnh tọa chẳng bao lâu thì độc long từ trong hang bò ra phun độc quanh Đức Phật. Đức Như Lai liền hóa chất độc ấy thành những bông hoa. Con rồng thấy chất độc của nó biến thành những bông hoa bao quanh Đức Phật, tức giận khạc lửa cho là có thể hại Phật, nhưng hơi nóng lại bay ngược về phía nó. Hơi nóng xông lên khiến độc long bức rức, bực bội muốn chết. Nó cất đầu lên nhìn Đức Phật, trông qua thân tướng biết Ngài là Bậc Tôn Quý.
Một luồng gió mát bỗng thổi về phía con rồng. Nó liền theo luồng gió thanh lương đến chỗ Đức Phật, bao nhiêu độc hỏa đều diệt trừ, lịm tắt, liền quy y rồi chui vào trong bình bát của Ngài.
Bấy giờ Đức Phật thị hiện một luồng Hỏa quang (tam-muội) ánh sáng thẳng lên tận cõi trời. Các đệ tử của Ca-diếp, thẳng đứng nhìn theo thấy ánh quang minh của Đức Phật cho là lửa của độc long nên cất tiếng than thở bi thương:
–Tiếc thay! Đấng Tối Chân đã bị độc long làm hại.
Thầy trò Ca-diếp hoảng sợ cùng chạy ra ngoài. Năm trăm đệ tử đều lên tiếng trách thầy:
–Từ xưa đến nay, chúng ta chưa từng thấy ai tối diệu như Đức Cù-đàm, Ngài là Bậc Tôn Quý. Hận là chúng ta chưa chiêm ngưỡng Ngài kỹ, làm sao còn gặp lại Ngài được?
Họ lau lệ mà nói bài tụng:

* Trang 760 *
device

Dung nhan sắc vàng tía
Mặt tròn, tóc biếc xanh
Bậc Đại Nhân trăm phước
Thần diệu ứng theo kinh Tầm
cao hơn trượng sáu
Tám mươi vẻ tùy hình
Đảnh quang xua u tối
Vô thường sao đến nhanh?

Sau đó, có một vị đệ tử của Ca-diếp ngỡ là lửa đã hại chết Đức Phật, nên đau buồn lên tiếng:
–Đức Cù-đàm đã bị hại, ta còn sống để làm gì?
Nói xong liền tung mình trầm thân trong lửa, nhưng vị ấy lại cảm thấy mát mẻ, điều hòa nên quay lại thưa thầy:
–Đức Cù-đàm không hề gì cả. Chúng ta cứ ngỡ là lửa của độc long, nhưng nhất định đây chính là hào quang của Đức Phật.
Thầy trò lo lắng, đứng nghỉ bên ngoài chờ đến sáng. Vào lúc sáng sớm Đức Như Lai ôm bát rời khỏi ngôi tịnh thất, Ca-diếp vô cùng mừng rỡ nói:
–Bậc Đạo Sư vẫn còn sống sao? Trong bình bát Ngài có vật gì vậy?
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Đó là con độc long. Ta đã hàng phục và nó đã thọ pháp của Ta.
Năm trăm đệ tử của Ca-diếp đều khen ngợi Đức Phật là Bậc Thần Thánh.
Ca-diếp trong lòng kính phục Đức Phật nhưng vẫn luyến tiếc danh tiếng của mình nên cống cao, tự phụ, thầm Nghĩ: “Bậc Đại Sư ấy quả thật là vị thần! Tuy vậy người ấy vẫn không bằng ta, vì ta đã chứng A-la-hán.” Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Cúi mong Đạo Sư hãy ở lại để chúng tôi được cúng dường.
Hôm sau, Ca-diếp bày soạn thức ăn, tự thân đi thỉnh Đức Phật. Đức Phật bảo:
–Ngài hãy đi trước, Ta sẽ theo sau.
Ca-diếp vừa quay gót về nhà thì Đức Phật nhanh như khoảng

* Trang 761 *
device

thời gian một người co duỗi cánh tay, liền đến nước Phất-vu-đãi xa cả ngàn ức dặm về phía Đông, hái quả cây tên là Diêm-bức, đầy cả bát rồi trở về. Ca-diếp chưa về đến nhà, Đức Phật đã ngồi ở sàng tọa rồi. Ca-diếp hỏi Đức Phật:
–Thưa Đạo Sư, Ngài đi đường nào mà đến đây?
Đức Phật đáp:
–Sau khi ông vừa đi, Ta liền đến nước Phất-vu-đãi ở phương Đông lấy những trái cây Diêm-bức này đem về, ăn vào rất thơm ngon.
Đức Phật độ thực xong ra về. Ca-diếp lại Nghĩ: “Vị Đạo Sư này tuy thần biến nhưng không thể sánh được với đạo chân thật của ta”. Sang ngày mai đến giờ thọ trai, Ca-diếp lại đến thỉnh Phật. Đức Phật bảo:
–Hãy về đi, Ta sẽ đến sau.
Ca-diếp vừa quay gót, Đức Phật liền đến cực Nam cõi Diêm-phù-đề lấy trái Ca-loa-lặc, chứa đầy bình bát rồi trở về.
Ca-diếp chưa vào nhà, đã thấy Ngài ngồi trên sàng tọa.
Ca-diếp hỏi Đức Phật:
–Ngài làm sao lại đến được đây trước?
Đức Phật bảo:
–Ta đi qua phương Nam, lấy thứ quả thần mỹ này, ăn vào có năng lực trừ hết bệnh.
Sau khi Đức Phật độ xong ra về, Ca-diếp suy Nghĩ: “Vị Đại Sa-môn này quả thật là thần diệu”. Hôm sau Ca-diếp lại đến thỉnh mời. Đức Phật bảo:
–Hãy về trước, Ta sẽ đến ngay.
Đức Phật liền đến nước Câu-da-ni (Cù-da-nặc) ở phía Tây, lấy trái A-ma-lặc đầy bình bát rồi trở về. Ca-diếp chưa đến nơi thì đã thấy Đức Phật ngồi trên sàng tọa. Ca-diếp hỏi Đức Phật:
–Ngài lại từ nơi nào đến đây?
Đức Phật trả lời:
–Ta đến nước Câu-da-ni ở phía Tây, lấy trái cây A-ma-lặc đầy bình bát rồi trở về. Ngài có thể ăn chúng.
Đức Phật độ trai xong ra về. Ca-diếp lại Nghĩ: “Việc của vị Đại Sa-môn này làm quả thật là thần biến”. Hôm sau Ca-diếp lại đến

* Trang 762 *
device

thỉnh Đức Phật. Đức Phật bảo:
–Hãy về trước, Ta sẽ đến sau.
Ca-diếp quay đầu lại nhìn thì bỗng nhiên không thấy Đức Phật. Ngài đã đến nước Uất-đơn-việt ở phía Bắc lấy loại lúa gạo mọc tự nhiên. Ca-diếp đi chưa đến nhà đã thấy Đức Phật an tọa trên sang tọa. Ca-diếp hỏi Đức Phật:
–Ngài lại từ đâu về đây?
Đức Phật đáp:
–Ta đến nước Uất-đơn-việt ở phía Bắc, lấy loại lúa gạo mọc tự nhiên này. Ngài có thể dùng nó.
Đức Phật thọ thực xong ra về, Ca-diếp tự Nghĩ: “Vị Đạo Sư này thật có sức thần diệu đến như vậy”.
Trưa hôm sau đúng giờ thọ thực, Đức Phật ôm bát tự thân đến nhà Ca-diếp nhận trai thực cúng dường rồi trở về. Thọ thực xong, Ngài muốn súc miệng, tắm gội nhưng không có nước. Trời Đế Thích liền đi xuống lấy tay chỉ mặt đất, một ao nước tự nhiên hiện ra. Ca-diếp sau buổi trưa đi dạo quanh thấy cái ao, kinh ngạc nên hỏi Đức Phật:
–Vì sao có cái ao này?
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Sáng nay Ta được ngài cúng dường cơm. Ăn xong Ta muốn súc miệng nhưng không có nước, trời Đế Thích mới chỉ mặt đất biến thành ao nước để Ta dùng. Nên đặt tên cho cái ao này là ao Chỉ địa.
Ca-diếp suy Nghĩ: “Bậc Đạo Sư này thật là thần thông vi diệu, công đức không thể lường hết được”.
Ngày hôm sau Đức Thế Tôn dời đến ngồi dưới một gốc cây gần chỗ Ca-diếp. Giữa đêm có bốn vị vua cõi trời thứ nhất cũng đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Hào quang của bốn vị trời ấy chiếu sáng như các đống lửa cháy mãnh liệt.
Ca-diếp giữa đêm thức dậy, thấy trước Đức Phật có bốn đống lửa, sáng sớm liền hỏi Đức Phật:
–Thưa Đạo Sư, Ngài cũng thờ lửa sao?
Đức Phật đáp:
–Không phải thế! Đêm qua có bốn vị vua cõi trời đến nghe Ta thuyết pháp. Đó là ánh sáng của họ.

* Trang 763 *
device

Ca-diếp lại Nghĩ: “Bậc Đại Sa-môn này hết sức thần diệu mới khiến các vị trời đến nghe pháp, dù vậy vẫn
không thể sánh với đạo chân chánh của ta”.
Đêm hôm sau, trời Đế Thích chủ quản cõi trời thứ hai đến chỗ Đức Phật nghe pháp, ánh sáng của trời Đế Thích sáng gấp bội ánh sáng của Tứ thiên vương. Giữa đêm Ca-diếp thức dậy thấy có ánh sáng ở trước Đức Phật, trong ý tự Nghĩ: “Vậy là Đức Phật có thờ lửa”. Sáng sớm Ca-diếp đến hỏi Đức Phật:
–Nếu Ngài không thờ lửa, vì sao ánh sáng lại gấp bội đêm qua?
Đức Phật bảo:
–Đêm hôm qua Đế Thích xuống đây nghe pháp. Đó là ánh sáng của vị ấy.
Đêm sau lại có vị Phạm thiên ở tầng trời thứ bảy xuống nghe pháp. Hào quang của Phạm thiên sáng gấp bội ánh sáng của trời Đế Thích. Ca-diếp thấy ánh sáng ấy lại nghi Đức Phật theo đạo thờ lửa. Sáng sớm ông liền hỏi Đức Phật:
–Thưa Đại Sĩ, chắc chắn ngài có thờ lửa!
Đức Phật bảo Tôn giả Ca-diếp:
–Đêm qua có vị Phạm Thiên ở tầng trời thứ bảy đến nghe pháp. Đó là hào quang của vị ấy.
Ca-diếp tự Nghĩ: “Đấng Đại Sĩ này thật có năng lực tối diệu mới khiến Phạm thiên xuống nghe pháp”. Năm trăm vị đệ tử của ngài Ca-diếp, mỗi người đều thờ ba ngọn lửa nên tổng cộng có một ngàn năm trăm ngọn. Sáng sớm cả năm trăm người đốt lửa nhưng đốt mãi lửa vẫn không cháy, kinh ngạc hỏi thầy. Ngài Ca-diếp bảo:
–Điều này chắc do Phật làm.
Ông liền đến bạch Đức Phật:
–Năm trăm đệ tử của tôi sáng nay đốt lửa, nhưng đốt mãi lửa vẫn không cháy. Có phải điều này do Ngài làm chăng?
Đức Phật hỏi Ngài Ca-diếp:
–Ngài muốn lửa cháy chăng?
Đức Phật hỏi ba lần và Ca-diếp đều đáp:
–Muốn cho lửa cháy.
Đức Phật bảo:
–Hãy đi đi, lửa sẽ cháy.

* Trang 764 *
device

Ngài vừa nói xong thì tất cả ngọn lửa đều cháy.
Ca-diếp thầm Nghĩ: “Bậc Đại Sĩ này hết sức thần diệu”.
Ca-diếp cũng thờ ba ngọn lửa, sáng sớm đốt lên nhưng khi muốn tắt thì không làm sao tắt được. Năm trăm vị đệ tử và các tín đồ theo đạo đến giúp ông tắt lửa, cũng không làm thế nào tắt được. Ca-diếp nghi việc này do Đức Phật làm, liền đến thưa:
–Tôi tự thờ ba ngọn lửa nhưng không làm sao tắt được!
Đức Phật hỏi:
–Ngài muốn tắt lửa sao?
Ca-diếp thưa:
–Quả thật muốn nó tắt.
Đức Phật bảo:
–Nó sẽ tắt.
Ngài vừa nói dứt lời thì ngọn lửa liền tắt. Ngài Ca-diếp thầm Nghĩ: “Bậc Đại Sĩ này vô cùng thần diệu, làm việc gì cũng thành tựu”.
Hôm sau năm trăm vị đệ tử của ngài Ca-diếp cùng vào rừng đốn củi, nhưng khi mọi người dỡ búa lên thì đều không thể hạ búa xuống được. Họ hoảng hốt đến thưa thầy, ngài Ca-diếp nói:
–Việc ấy do vị Đại Sa-môn đó làm.
Ngài đến bạch Phật:
–Các đệ tử của tôi đang cùng nhau đốn củi, dỡ búa lên thì không thể hạ xuống được.
Đức Phật bảo:
–Hãy về đi, búa sẽ hạ xuống.
Lập tức các cây búa đều hạ xuống. Ca-diếp Nghĩ: “Vị Đại Sa-môn này chính là Thần nhân”.
Ngày hôm sau Đức Phật trở về an tọa dưới một gốc cây, thấy một chiếc y dơ bị vất bỏ nên có ý muốn giặt nó. Trời Đế Thích vâng theo thánh ý của Đức Phật, đến núi Át-na lấy một tảng đá bốn mặt và một tảng đá sáu mặt, dâng lên để Ngài giặt và phơi y. Ngài Ca-diếp đi ngang thấy bên bờ ao có hai tảng đá lấy làm lạ liền hỏi Đức Phật:
–Hiện nay bên bờ ao có hai tảng đá rất đẹp, không rõ chúng từ đâu đến?

* Trang 765 *
device

Đức Phật bảo Ngài Ca-diếp:
–Ta muốn giặt và phơi y nên trời Đế Thích mới mang hai tảng đá đến để Ta sử dụng.
Ca-diếp lại Nghĩ: “Đức Cù-đàm là Bậc có oai đức như thần khiến không ai không vâng phục”.
Sau đó Đức Phật xuống ao Chỉ địa tắm rửa. Tắm gội xong, Ngài muốn lên khỏi ao nhưng không có gì để vịn vào đi lên. Cạnh bờ ao có một thân cây tên là Ca-hòa vô cùng xinh tốt, cây ấy liền cong xuống ao, Đức Phật vịn vào đó lên khỏi ao.
Ngài Ca-diếp thấy thân cây tự nhiên cong xuống, ngạc nhiên hỏi Đức Phật. Đức Phật nói với Ca-diếp:
–Lúc sáng sớm Ta xuống ao để tắm rửa, khi muốn ra khỏi ao thì cây thần thả nhánh xuống để Ta nắm mà lên.
Ngài Ca-diếp Nghĩ: “Bậc Đại Sĩ này có đức tối thượng, cảm hóa nhiều loài, làm cho đại thọ phải ngã nhánh cây xuống đón”.
Đức Phật muốn làm cho Ca-diếp hoàn toàn quy phục, liền đi xuống sông Ni-lan-thiền. Sông này rất sâu và thủy lưu chảy rất mạnh. Ngài dùng thần lực phân đôi dòng sông, làm cho nước hai bên đứng lại, dâng cao quá đầu người, đáy sông hiện ra, Ngài đi vào trong đó.
Ca-diếp thấy Đức Phật ngập trong dòng nước, sợ Ngài bị chết chìm, liền sai đệ tử chèo thuyền ra để cứu. Họ thấy nước dâng cao, phía dưới hiện rõ đáy sông và thấy Đức Phật ở trong đó nên đều vui mừng thốt lên:
–Đạo Sư vẫn còn sống!
Họ lại hỏi:
–Đạo Sư có muốn lên thuyền không?
Đức Phật bảo:
–Ta sẽ lên.
Ngài Nghĩ: “Ta sẽ xoi đáy thuyền để lên, nhưng không làm cho nước chảy vào”. Ca-diếp hết sức kinh ngạc Nghĩ: “Bậc Đại Sĩ này thật là hóa hiện vi diệu không thể diễn bày cùng tận được”.
Khi đó quốc vương và quan dân nước Ma-kiệt-đề, nhân ngày lễ hội trong năm cùng đến chỗ của ngài Ca-diếp vui chơi trong bảy ngày. Ca-diếp thầm Nghĩ trong tâm: “Phật là Đức Thánh Trí, nếu mọi

* Trang 766 *
device

người thấy được chắc chắn họ sẽ bỏ ta. Làm thế nào trong bảy ngày này mà Ngài không xuất hiện thì vui biết bao”. Đức Phật biết ý niệm của Ca-diếp, nên ẩn mặt trong bảy ngày. Đến sáng ngày thứ tám, Ca-diếp lại khởi niệm: “Nay ta đã có dư phẩm vật, nếu được cúng dường cho Đức Phật thì vui sướng biết bao”. Đức Phật theo ý niệm đó liền đi đến, Ca-diếp vô cùng hoan hỷ vì mới Nghĩ muốn gặp Đức Phật để cúng dường thì Ngài liền đến, thật sướng vui biết bao và hỏi Đức Phật:
–Trong bảy ngày qua Đạo Sư đi đâu và nay thì từ đâu đến? Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Tâm ngươi suy Nghĩ: “Phật là Đức Thánh Trí, nếu mọi người thấy Ngài họ sẽ bỏ ta. Làm thế nào trong bảy ngày này mà Ngài không xuất hiện thì vui biết bao”. Do đó Ta ẩn thân. Nay ngươi Nghĩ đến Ta, cho nên Ta lại đến.
Ngài Ca-diếp tâm niệm: “Đức Phật đúng là Bậc có đại thần thông nên mới biết được ý niệm của con người”.
Đức Phật biết tâm của Ca-diếp đã quy phục nên bảo:
–Này Ca-diếp, ông chẳng phải là bậc A-la-hán, không biết đạo giải thoát, sao lại vì những điều hư huyễn, dối trá tự xưng là bậc Tôn quý?
Ca-diếp trong lòng hoảng sợ lông tóc dựng đứng, tự biết bản thân không thể đắc đạo nên lập tức cúi lạy thưa:
–Đạo Sư quả thật là Bậc Thánh nên biết được ý niệm con người. Vậy con có thể theo Đạo Sư học đạo giải thoát, vâng giữ giới pháp, làm bậc Sa-môn không? Đức Phật bảo:
–Rất tốt lành! Hãy thông báo cho các đệ tử của ông. Ông là quốc sư, nay xuất gia vận pháp y, có thể nào chỉ biết một mình thôi sao?
Ngài Ca-diếp vâng lời dạy, quay về gọi các đệ tử:
–Các vị cùng ta đều thấy năng lực giáo hóa thần thông của Đức Phật. Nay ta đã hiểu và hướng trọn đức tin sắp xuất gia làm Sa-môn. Vậy ý các ngươi ra sao?
Năm trăm vị đệ tử của ngài đều cất tiếng thưa:
–Tất cả những gì chúng con được học đều nhờ ân của thầy.

* Trang 767 *
device

Thầy đã tôn kính và hướng trọn đức tin với Đức Phật, chúng con đều nguyện theo thầy.
Ngay khi ấy thầy trò cùng đến chỗ của Đức Phật, đảnh lễ thưa:
–Chúng con đều tin tưởng, cầu mong được làm đệ tử của Ngài.
Đức Phật tuyên nói:
–Thiện lai Tỳ-kheo!
Tất cả đều được thâu nhận thành Sa-môn. Tôn giả Ca-diếp đem áo lông cừu, áo vải to, bình nước, gậy, dép và các dụng cụ thờ lửa vất bỏ hết xuống sông.
Bấy giờ hai người em của ngài Ca-diếp, người em kế tên Na-đề Ca-diếp, người em út tên Ca-da Ca-diếp; mỗi người đều có hai trăm năm mươi vị đệ tử, trú trong các ngôi nhà lá, gần bên dòng sông thấy các y phục của Phạm chí, các loại vật dụng và pháp cụ thờ lửa theo dòng nước bập bềnh trôi xuống. Hai người em kinh ngạc, sợ anh mình và các đệ tử bị người ta giết hại nên lập tức cùng các đệ tử theo dòng nước đi lên, thấy thầy trò của anh mình đều làm Sa-môn. Họ kinh ngạc hỏi:
–Đại huynh tuổi tác đã lớn, trí tuệ cao vút, được vua quan và nhân dân trong nước đều kính thờ. Theo ý của chúng em thì anh đã chứng La-hán rồi, sao lại rời bỏ đạo Phạm chí, học giáo pháp của Sa-môn? Đây không phải là việc nhỏ. Chẳng lẽ đạo Phật tôn quý, cao vời nhất hay sao?
Tôn giả Ca-diếp đáp:
–Đạo Phật tối thắng, pháp môn vô lượng. Tuy ta học đạo khắp thế gian, nhưng chưa từng thấy vị nào có trí tuệ, thần thông, đắc đạo như Đức Phật.
Hai người em của Tôn giả nghe lời đó, mỗi người đều bảo các đệ tử:
–Ta muốn theo anh của ta, ý các ngươi thế nào?
Năm trăm người đệ tử của họ đồng lên tiếng:
–Mong được xuất gia như thầy.
Họ đều đến chỗ Đức Phật đảnh lễ cầu xin xuất gia làm Sa-môn.
Đức Phật bảo:
–Thiện lai Tỳ-kheo!
Họ đều được thâu nhận thành Sa-môn. Bấy giờ Đức Như Lai

* Trang 768 *
device

cùng một ngàn vị Tỳ-kheo Tăng thẳng đến khu đại lâm Ca-da-tất, Tĩnh tọa dưới gốc cây. Đức Phật trú trong Đại định, bỗng nhiên biến mất. Từ phương Đông hiện đến rồi lại biến mất dưới gốc cây, bốn phương đều như thế; bay lên trụ giữa hư không mà vẫn không rớt, thân phun ra lửa, nước, lên xuống vô ngại tự tại.
Các Tỳ-kheo ngước nhìn ngưỡng vọng, vui mừng, không rõ việc gì xảy ra. Đức Như Lai trở về lại chỗ cũ mà chẳng ai hay.
Các Tỳ-kheo vui mừng đến trước Đức Phật đảnh lễ dưới chân, rồi bạch:
–Bạch Thế Tôn, sự thị hiện này gọi là gì?
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Thần túc thị hiện, còn có tên là Giáo thọ thị hiện. Các Tỳ-kheo hãy lắng lòng nghe kỹ: tâm, ý và thức theo duyên ngoại cảnh nên bị nhiễm ô, ràng buộc; nay để phân biệt, hiển bày tà chánh nên gọi là Giáo thọ thị hiện. Lại có tên là Thuyết pháp thị hiện. Các Tỳ-kheo hãy lắng lòng suy tư! Vì mắt mê đắm sắc nên mắt bị suy tổn. Sáu căn mê đắm theo sáu trần nên sáu căn bị suy tổn. Tâm mãi bị suy tổn nên sinh ra khổ. Sao gọi là khổ sinh? Vì lửa dâm, nộ, si phát khởi liền có sự bức rức, không an trong tâm, sự sợ hãi già, bệnh và chết. Do đó phải dùng Thuyết pháp thị hiện.
Đức Phật ba lần thuyết pháp như vậy. Khi ấy một ngàn vị Tỳ-kheo phiền não chấm dứt, vọng tưởng đoạn trừ, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Đức Phật vì các Tỳ-kheo nói bài tụng:
Hôm nay ngàn Tỳ-kheo
Trưởng lão có tôn đức
Bỏ tà tu chánh kiến
Trừ tưởng đạt tuệ thiền.
Khi Đức Phật nói pháp này, Trời, Rồng, Quỷ, Thần, không ai không thích nghe.
 

* Trang 769 *
device

Phẩm 4: ĐỘ VUA BÌNH-SA
 
Bấy giờ Đức Thế Tôn hướng ý đến thành La-duyệt-kỳ độ cho vua dân nước này. Ngay hôm ấy, quốc vương thành La-duyệt-kỳ truyền sứ giả đi đến chỗ Đức Phật, hết lòng cung kính đảnh lễ xong, thưa:
–Quốc vương Bình-sa, cúi lạy trước Đức Phật, xin được gần gũi với Đức Thích Tôn, Bậc thành đạo hiệu là Phật, khiến trời, người và vạn loài vui mừng khi được diện kiến. Cúi mong Đức Thế Tôn đem lại lợi lạc an lành; mong Ngài rủ lòng che chở, quang lâm đến đất nước nhỏ bé, thô lậu của chúng con. Chúng con đang khao khát sự giáo hóa của Đức Phật để tâm chúng con được an ổn và phát khởi đạo tâm. Mong Ngài xót thương chúng sinh, làm cho mọi người được giải thoát.
Đức Phật dạy:
–Này các Tỳ-kheo, các ông mau chuẩn bị đến thành La-duyệt-kỳ theo sự thỉnh mời của quốc vương.
Các Tỳ-kheo vâng lời, trang nghiêm phẩm phục theo hầu Đức Thế Tôn. Vị sứ giả đến bạch Đức Phật:
–Cúi xin Thế Tôn cùng một ngàn vị Tỳ-kheo Tăng du hành và tạm dừng tại cội cây ở vùng Tu-đa-la, cách thành bốn mươi dặm.
Đó là do theo lệnh truyền của quốc vương trước khi sứ giả đi thỉnh Phật: “Nếu Đức Phật quang lâm quốc thổ, ta phải tự thân ra nghinh rước, người nào nghinh rước Ngài sẽ được phước đức vô lượng.”
Nhà vua lập tức truyền lệnh chuẩn bị một ngàn cỗ xe, một vạn con ngựa, bảy ngàn người tháp tùng. Khi đã chuẩn bị xong, nhà vua lên xe rời cung ra ngoài thành. Khi đi đến cửa thành, cửa thành liền tự đóng làm cho cả đoàn đều phải dừng lại. Nhà vua vô cùng kinh hãi, lo sợ có nạn lớn than rằng:
–Tội của ta thật nặng nề nên mới có điềm họa này.
Khi ấy trên không trung có tiếng nói:
–Đức vua xưa kia có lập nguyện nếu được làm người, sẽ tha bổng tù nhân. Nay tù nhân còn ở trong ngục nên vì lời thệ nguyện

* Trang 770 *
device

xưa làm cho cửa thành đóng lại.
Nhà vua lập tức ân xá thả tất cả tù nhân cửa thành liền tự mở, đến được chỗ Đức Phật. Nhà vua từ xa trông thấy Đức Như Lai tướng tốt rạng ngời liền xuống xe, cởi bỏ vũ khí. Đức Phật biết bản tánh vua Bình-sa vốn kiêu mạn, cang cường, tự cao, nên hướng ý hóa độ cho vua và các quan tùy tùng qua cách thức hành lễ. Khi ấy vua Bình-sa quay lại nhìn thấy các quan tùy tùng không khác gì vua, e ngại Đức Phật không biết vua nên cúi đầu lạy dưới chân Ngài, nhiễu quanh bên mặt ba lần. Lạy xong vua tự bạch:
–Con là Bình-sa, vua nước Ma-kiệt-đề.
Đức vua thưa như thế đến ba lần. Đức Phật dạy nhà vua:
–Ta chỉ soi chiếu tâm của vua, cần gì hình thức.
Nhà vua vô cùng hoan hỷ, lui về chỗ ngồi. Các quan và dân, mỗi người đều hết lòng cung kính Đức Phật, trong đó có người quỳ xuống đảnh lễ, có người tự xưng tên họ, có người thẳng thân vái chào, hành lễ xong tất cả đều lui về đứng một bên.
Đức Phật truyền cho chúng hội an tọa, tất cả vâng lời ngồi xuống.
Đức Phật bảo vua Bình-sa:
–Ngài có đầy đủ phước báo nên được làm quốc vương. Nay lại thêm phần phước lợi khiến nhân dân trong vương quốc có đức trung hiếu, mọi người giàu sang, an lạc, không lo phiền, được phước che chở, có đức tốt lành, không có điều gì bất lợi.
Lúc ấy, trong chúng hội phát sinh nghi vấn: “Tôn giả Uất-tỳ Ca-diếp thành danh trước Đức Phật, nay cùng ở với Đức Phật, vậy ai là thầy?”
Đức Phật quán sát biết rõ tâm niệm chúng hội, liền bảo Tôn giả Ca-diếp:
–Nếu có người sát sinh để cúng tế, mong cầu phước báo, há có thể được không? Có người vào núi cầu đạo mà không có thầy, người ấy có thể đắc đạo chăng?
Tôn giả Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Sát sinh để cúng tế không thể được phước. Trời thần không lãnh thọ nên người sát sinh phải bị tội. Người học đạo mà không thầy thì không bao giờ thành đạo.

* Trang 771 *
device

Tôn giả Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Trước đây con thờ lửa, ngày đêm không lười biếng, tinh cần khổ nhọc suốt nhiều năm. Đệ tử giỏi có đến năm trăm người, đều tinh thông thuật đốt lửa, siêng năng không quản trời nóng hay lạnh. Nay con đến lúc tuổi già, các căn suy mỏi mới thật tỏ rõ, người trước đã đem điều mê lầm truyền trao cho kẻ đi sau rồi tự gọi đó là đạo, chỉ là hư huyễn đưa đến khổ não, không thể giác ngộ. Nay con được Phật giáo huấn tẩy rửa tâm ô nhiễm nên đắc được quả A-la-hán.
Đức Phật bảo Tôn giả Ca-diếp:
–Nay ông hãy hiển bày Thần túc thông của La-hán.
Tôn giả vâng lời Phật dạy liền nhập định, thân bay lên hư không cách mặt đất mấy trượng, bên trên hông bốc lửa, hiện bên dưới hông nước phun, rồi lại từ hông trên phun nước, bên dưới hông hiện lửa, dùng nước rưới lửa nhưng y vẫn khô không bị ướt, hiện ra đứng giữa hư không, bảy lần hiện, bảy lần ẩn; từ thân phóng ánh sáng năm màu rực rỡ, bay từ phương Đông đến rồi biến mất trước tòa của Đức Phật; bốn phương, phương trên và phương dưới đều hóa hiện như vậy. Khi biến hóa xong, Tôn giả liền chắp tay, quỳ xuống bạch Đức Phật:
–Đệ tử Ca-diếp nương nhờ từ ân của Đức Phật nên giải thoát được tội lỗi buộc ràng. Đức Như Lai là Bậc Tối Tôn, ba cõi đều cúi đầu tin tưởng thọ trì.
Đức Phật vì Tôn giả Ca-diếp nói bài tụng:
Nếu người sống trăm tuổi
Thờ lửa tu dị thuật
Không bằng theo chánh đạo
Phổ tuệ chiếu thế gian.
Nếu người sống trăm tuổi
Học tà, tâm không thiện.
Không bằng sống một ngày
Siêng năng thọ trì pháp.
Nhà vua và quần thần khi ấy mới biết Tôn giả Ca-diếp là đệ tử của Đức Phật.
Đức Phật dạy vua Bình-sa:
–Mắt của người trong thế gian không chỉ để thấy sắc mà còn

* Trang 772 *
device

phải thấy khổ, vui đều vô thường, thân mạng vốn không trường cửu. Tâm ý của người thế gian ác nhiều, lành ít, tư tưởng ngổn ngang vạn mối, ưa thích theo đuổi dục lạc, nếu có thể rời bỏ tâm ý đó thì có thể đắc đạo, công đức ngang bằng Ca-diếp. Không vì giàu sang mà buông lung căn ý, không vì ý thích tự do mà tham dâm vô độ, không vì quyền thế mà làm hại kẻ thế cô, yếu đuối, không vì lòng sân hận, phẫn nộ mà giết càn người vô tội; tâm không bị lôi cuốn theo niệm dâm, không bị lôi cuốn theo niệm tham, không bị lôi cuốn theo niệm sân; từ bỏ điều ác, làm trong sạch tâm ý; khéo tin tưởng hộ trì chân lý, luôn suy niệm về sự nguy hiểm của chết, của bệnh khổ; luôn hướng niệm theo dõi tư hành của thân tâm thì cũng có thể được thần túc của Tôn giả Ca-diếp. Nếu mắt thấy sắc tâm phải kiềm chế, sắc đẹp hay xấu tâm vẫn không loạn động; tai nghe các thứ tiếng phải kiểm soát tâm, không phát sinh niệm hân hoan vui thích hay buồn bực chán ghét; mũi ngửi mùi thơm hay thối, tâm phải chế phục, lòng không bị buộc ràng; miệng ăn các vị phải khéo hộ trì tâm để không khởi các tưởng; thân mặc các y phục phải phòng hộ tâm, không phân biệt tốt, xấu, hiểu rõ đó chỉ là dựa vào các vật bên ngoài của thân này. Do tâm được kiểm soát nên sáu căn tự tại, không tác tưởng với sự suy hoại của thân năm ấm, công đức của Tôn giả Ca-diếp nhờ tu tập như thế mà được. Con người chấp thủ vào thân này nên sinh ra nhiều cảm thọ ưu sầu, khổ não, bị đói khát lạnh nóng bức bách. Kẻ ngu tưởng đó là vui, người trí thấy đó là khổ. Người thế gian mê đắm đối với việc vợ con, danh lợi nhưng tất cả việc ấy không thể không ly tán, ngàn vạn năm sau đều tan hoại.
Đức Phật vì vua Bình-sa nói bài tụng:
Bậc Quốc chủ thế nhân
Xa cuồng, vâng thuận chánh
Liêm minh nêu hảo hạnh
Vương pháp ấy tuyệt trần,
Thứ tha người hiền chính
Nhân ái, lợi toàn dân
Lợi hòa đồng an lạc
Thần dân đến sớm gần.

* Trang 773 *
device

Đức Phật hỏi vua Bình-sa:
–Đức vua tạo lập cung điện từ đó đến nay được bao lâu? Nhà vua quay lại truyền hỏi các vị cận thần, một vị cận thần tâu:
–Từ khi tạo lập cung điện đến nay đã bảy, tám trăm năm.
Đức Phật hỏi các vị cận thần:
–Đã trải qua bao nhiêu đời vua?
Vị cận thần bạch:
–Hơn hai mươi đời vua.
Đức Phật hỏi vua Bình-sa:
–Bệ hạ có biết hết các vị vua ấy không?
Vua Bình-sa đáp:
–Con chỉ biết phụ vương của con. Đối với chư vị cựu hoàng trước đây con không tường tỏ.
Đức Phật bảo vua Bình-sa:
–Chỉ có thành quách, đất đai là còn đó, con người là vô thường. Người biết yêu thương thân mình không nên làm hại mạng khác, không nên phỉ báng người tu hành. Chúng sinh vần xoay trong vòng sống chết đều do ân ái. Người làm cha mẹ thường cho rằng: đứa con đó do tôi sinh, là con của tôi. Nhưng người con đó chẳng phải chỉ do nhân duyên cha mẹ hòa hợp mà có mà đều do người ấy đời trước vâng giữ giới trọn vẹn nên mới được làm người. Người làm hạnh ác, sau khi chết phải thác sinh vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, đều theo hạnh nghiệp bản thân, không phải do ai sinh cả, tội phước rất rõ ràng, nhà vua cần suy Nghĩ kỹ điều đó.
Đức Phật hỏi nhà vua:
–Nếu đứa con ở trong bào thai hoặc bị đui hay điếc thì người mẹ có biết trước được không?
Nhà vua thưa:
–Thật không biết trước được.
Đức Phật dạy:
–Đứa bé đó trong kiếp sống trước đã làm những việc tội lỗi nên mới bị như vậy, chẳng phải lỗi của cha mẹ. Nếu đứa bé ở trong bào thai là bậc Thánh trí, thì người mẹ cũng không đoán biết được. Đó đều do hành nghiệp hoàn toàn thanh tịnh đời trước của đứa bé tạo

* Trang 774 *
device

nên, chẳng phải do năng lực của cha mẹ.
Lý này đã được chứng thật rất rõ ràng, Bệ hạ nên khéo Nghĩ suy. Người cõi thế bị tội là do tạo tác của ba nghiệp: Miệng nói lời hại người, thân làm những việc tàn bạo, hung hại, tâm hay ganh tị. Nếu xa rời được ba ác nghiệp ấy thì tuy chưa thể đạt Niết-bàn trong hiện tại nhưng sẽ tự nhiên được hưởng giàu sang, vinh hiển giữa cõi trời và cõi người. Nguồn cội sinh tử là ở con người, từ si mê thọ nhận thân này, từ thân này các căn hoạt khởi mà có tình, do tình nên sinh ra thức, do thức sinh ra dục, do dục mà có cha mẹ, từ cha mẹ sinh nên ân ái phát sinh, do ân ái sinh ra buồn rầu, lo lắng, vần xoay trong năm đường không có chỗ dừng nghỉ. Con người cũng không biết được sinh từ đâu mà có, chết sẽ đi về đâu, không phân biệt tỏ tường cội nguồn sinh tử nên xét theo hình tướng, tên gọi mà bảo: Đây là cha, đấy là con. Chỉ có bậc đắc đạo mới biết được cội nguồn của nhân duyên sinh tử vốn từ si mê phát sinh, nên tất cả vốn là thường. Đại vương hãy thọ trì.
Đức Phật hỏi vua Bình-sa:
–Nếu trong nước của Đại vương có những người hiền thiện có đức cẩn trọng, trung hiếu, ngay thẳng, trong sạch, biết kính bậc trên nhường kẻ dưới, tài năng xuất chúng, trí tuệ cao vời, không vi phạm vương pháp, nhưng xuất thân không phải từ nhà quyền quý, Đại vương có đối xử khác không?
Nhà vua thưa Đức Phật:
–Với người tài đức nổi danh, con sẽ tìm chọn, theo khả năng mà phong chức.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, trong pháp luật của đạo không có sự thương yêu, thân thích, chỉ do hành thiện nên được độ. Người chí thành vâng giữ năm giới được gọi là Thanh tín sĩ tinh tấn tu tập theo chánh đạo sẽ đạt đến địa vị Kiến đế không thoái chuyển liền đắc được các quả Thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Bốn Thánh quả theo nhân duyên chuyển hóa của tâm nên Thánh vị theo thứ lớp.
Khi Đức Phật giảng xong bài pháp, nhà vua cùng một vạn hai ngàn người trong nước, tám vạn vị trời đều thể đạt trí tuệ vô lậu, nhận ra chân lý.

* Trang 775 *
device

Đức Phật bảo vua Bình-sa:
–Đại vương đến đây đã lâu, đường về cung xa xôi, nên sớm trở về, người ngựa theo hầu đứng lâu đã mỏi mệt. Một ngày gần đây Ta sẽ đến thành.
Nhà vua đứng dậy đảnh lễ Đức Phật, thọ giới rồi lui ra. Quần thần, các quan theo hầu hoan hỷ tiến đến trước Đức Phật nhận lãnh giới pháp. Khi vua và quần thần lãnh thọ năm giới, người và ngựa ở trong và ngoài pháp hội đều Tĩnh lặng không có tiếng động. Các Bà-la-môn tâm được cảm hóa, vâng phục đều đến trước Phật lãnh thọ giới rồi hoan hỷ lui ra.
Vua Bình-sa lên xe xong, quần thần quỳ xuống chúc mừng công đức của nhà vua nên được gặp Đức Phật xuất hiện tại thế gian thuyết pháp làm cho quan dân được tắm gội chuyển hóa trở thành thanh tịnh.
Vua Bình-sa trở về thành truyền lệnh mọi người trong nước giữ trai trì giới. Thần dân trăm họ trong nước đều tin hiểu, hoan hỷ. Vua Đế Thích ở cung trời Đao-lợi, rải hoa cúng dường lên trên Đức Phật.
Trong pháp hội lúc đó có một vị trưởng giả giàu có tên là Ca-lan-đà, trong lòng suy Nghĩ: “Thật đáng tiếc, khu vườn của ta đã cúng cho các vị xuất gia phái Ni-kiền. Phải chi Đức Phật đến trước, ta sẽ dâng cúng cho Đức Phật và chư Tăng”. Trưởng giả hối hận vì đã lỡ cúng rồi nên chắc là bị mất hẳn. Lòng chí thành muốn dâng cúng cho Đức Phật nên trưởng giả nằm trên giường mà không yên. Nhờ tập phước đời trước nên nay quả phước đức ứng hiện tròn đầy, vị Đại quỷ tướng quân tên Bán Sư vâng theo thánh ý của Đức Phật và biết tâm niệm của trưởng giả, liền lệnh cho Duyệt-xoa xua đuổi chúng Ni-kiền: “Bọn họ thân thể lõa lồ không biết xấu hổ nên không được ở đấy”.
Duyệt-xoa vâng lệnh của vị Đại quỷ Bán Sư lấy chày đánh chúng lõa thể Ni-kiền, lôi kéo đồ vật. Chúng Ni-kiền tử hoảng sợ bỏ chạy thốt lên:
–Đó là loại ác nhân nào mà hung tàn, ác hại đến thế?
Quỷ Bán Sư nói:
–Trưởng giả Ca-lan-đà muốn giữ lại vườn Trúc này để làm tinh xá cho Đức Phật. Ta là Đại quỷ tướng quân Bán Sư được lệnh đuổi các ngươi đi.

* Trang 776 *
device

Hôm sau, chúng ngoại đạo Ni-kiền cùng đến chỗ trưởng giả, trách móc hết lời: Vì sao đổi ý cúng dường khiến bọn ta đều bị khốn khổ, suy yếu. Họ cho là vì trưởng giả nên họ mới chịu khốn đốn đến như vậy.
Ca-lan-đà trong lòng thầm vui sướng: “Ý nguyện của ta đã đạt được rồi! Đức Phật Thánh trí quảng đại đã soi thấu tâm niệm của ta”, liền trả lời các lõa sư phái Ni-kiền:
–Các loài quỷ ấy tánh tình vô cùng hung tợn, ngang ngược, hay giận dữ. Tôi e rằng họ sẽ làm hại các ngài, chi bằng các ngài nên bỏ đi tìm chỗ an ổn mà ở.
Chúng Ni-kiền uất hận, ngay ngày hôm đó tức giận bỏ đi. Trưởng giả vui mừng liền sửa sang xây dựng tinh xá, tăng phòng, tọa cụ… tất cả vật dụng đều đầy đủ trang nghiêm rồi đi đến chỗ Đức Phật, thỉnh Phật và chư Tăng chứng minh thọ nhận đến đó an trụ. Lúc bấy giờ, đạo giải thoát giáo hóa rộng khắp, không ai không hoan hỷ, an lạc.

Phẩm 5: XÁ-LỢI-PHẤT, ĐẠI MỤC-KIỀN-LIÊN
ĐẾN HỌC ĐẠO
 
Đức Phật ở tại tinh xá Trúc viên, thành La-duyệt-kỳ cùng đông đủ một ngàn vị Tỳ-kheo Tăng đều là bậc Ứng chân như Uất-tỳ-la… trong đó có một vị tên Na-la-đà. Lúc bấy giờ có một vị Phạm chí tên là Sa Nhiên tinh chuyên tu tập để được trường thọ bất tử, mãi về sau thâu nhận đệ tử, tổng cộng có hai trăm năm mươi người. Trong số đệ tử ấy có hai vị đứng đầu, vị thứ nhất tên là Ưu-bà-thế, vị thứ hai tên là Câu-luật-đà tài trí cao thâm, học vấn uyên bác. Phạm chí Sa Nhiên bị bệnh biết mình sắp chết gọi hai vị đêï tử thượng thủ đến căn dặn:
–Các đệ tử sơ học này đều có chí nguyện tu tập để thành tựu đạo hạnh. Nay hai con có trách nhiệm phải hướng dẫn, dạy dỗ để họ hoàn thành chí nguyện.
Hai vị kính cẩn vâng lời, tuân theo giáo huấn thực hiện.
Một hôm Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo Át-bệ:
–Ông hãy ra đi truyền bá giáo pháp. Trên đường du hóa, ông

* Trang 777 *
device

hẳn có thể gặp những người có duyên được giáo hóa; gặp những người có trí tuệ sáng suốt, ngoài Đức Như Lai, không ai có thể nghị luận cùng họ. Nếu gặp những người ấy chỉ nên nói những giáo lý căn bản, chớ nên đối đáp với họ để bị cười chê.
Tôn giả Át-bệ vâng lời, chỉnh trang y bát, đảnh lễ Đức Phật rồi lên đường. Đúng lúc Ưu-bà-thế cùng các đệ tử thả bước du ngoạn, từ xa trông thấy Tôn giả Át-bệ oai nghi chỉnh tề thanh thoát, chưa từng nghe tiếng hay gặp mặt, ngạc nhiên không rõ tại sao vị ấy lại có pháp tướng trang nghiêm như thế, y phục của vị ấy lại khác người đời nên muốn đến thăm hỏi. Hai vị cùng thẳng tiến gặp nhau ở giữa đường. Ưu-bà-thế cất tiếng hỏi Tôn giả Át-bệ:
–Y phục của ngài thật khác hẳn người thường. Ngài từ đâu đến? Tôn sư là ai, dạy giáo pháp gì có thể nói cho tôi nghe được không?
Tôn giả Át-bệ đáp bằng bài tụng:
Tuổi tôi nay còn nhỏ
Học đạo vốn thiển sơ
Chẳng thể tuyên pháp Nghĩa
Như Lai tối thượng thừa.
Cội nguồn tất cả pháp
Nhân duyên, không, vô chủ
Tâm tịch, thấu nguồn chân
Hiệu Sa-môn vì thế.
Ưu-bà-thế nghe xong ý Nghĩa trong lời pháp ấy suy ngẫm thấy thật là chân chánh, tự Nghĩ: “Thuở còn thơ ấu ta vốn ham học, tám tuổi theo thầy đến năm mười sáu tuổi, về phương thuật để vào đạo của các bậc tiên hiền, không sách nào mà ta chưa từng đọc qua. Mười sáu nước lớn đều tôn ta là bậc kiến thức quảng bác, nhưng ta chưa từng được nghe pháp Nghĩa chân thật tối thượng này. Nay tình cờ trên đường lại gặp được pháp tạng quý giá này, lời pháp ấy thật vi diệu, ngon như vị cam lộ.”
Tâm ý Ưu-bà-thế bừng sáng tỏ, liền đắc được pháp nhãn, vội quay về tinh xá lòng mừng vui khôn tả.
Câu-luật-đà thấy diện mạo vui tươi của Ưu-bà-thế Nghĩ là bạn đã được pháp cam lộ, nên cất tiếng hỏi:

* Trang 778 *
device

–Bạn đã được nghe giáo pháp vi diệu rồi phải không? Vậy chớ quên lời hứa trước đây, hãy đọc lại để tôi được đôi phần tuệ giác.
Ưu-bà-thế đọc lại đầy đủ bài tụng mà mình được nghe cho Câu-luật-đà. Câu-luật-đà nghe xong lần thứ nhất, tâm ý vẫn chưa thông tỏ. Ưu-bà-thế đọc lại lần thứ hai, Câu-luật-đà mới hiểu hết ý Nghĩa bài tụng liền trầm tư nội quán, tâm ý bừng tỏ rõ và cũng đắc được pháp nhãn.
Hai người cùng nhau bàn luận:
–Ước nguyện xưa nay của hai chúng ta là gặp được pháp cam lộ, nay đã được rồi. Sao chúng ta không cùng nhau đến chỗ Bậc Đại Sa-môn để được tẩy rửa thanh tịnh thân tâm trong biển tuệ giác sâu thẳm của Ngài.
Bàn luận xong, hai vị đồng lòng chuẩn bị lên đường. Câu-luật-đà suy Nghĩ: “Thầy của ta lúc lâm chung đã di huấn trao chúng đệ tử cho ta, truyền di ý bảo ta phải tế độ cho họ thành đạo. Nay để họ lại ra đi, về đạo Nghĩa thật không an ổn”. Câu-luật-đà hỏi các đệ tử:
–Bậc Đại Sa-môn ấy có Thánh pháp cam lộ, cởi bỏ được giềng lưới rách nát, hư hoại của trần lụy khiến tâm hạnh an Tĩnh, tịch tịnh. Ta muốn đến đấy cầu học, tìm hiểu giáo pháp tinh diệu để thức tỉnh chân tâm. Nay các vị sẽ đi đâu?
Chúng đệ tử bạch:
–Chúng con có được sở học như hiện nay đều là công ân của hai thầy. Hai thầy đã kính ngưỡng đạo Phật chúng con xin vâng theo đến nơi an tịnh, ham cầu Thánh dược cam lộ. Chúng con nguyện theo sau hai thầy để học đạo.
Thầy trò cùng một chí, liền rời khỏi trú xứ thẳng đến vườn Trúc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn dạy chư Tỳ-kheo:
–Nay có hai Hiền giả cùng các đệ tử, theo hạnh nguyện xưa muốn xuất gia làm Sa-môn. Việc khó làm này được thành tựu đều là nhờ công sức của Tỳ-kheo Át-bệ.
Các Tỳ-kheo theo lời dạy Đức Phật nên mong đợi đón tiếp hai vị Hiền giả và chúng đệ tử.
Ưu-bà-thế, Câu-luật-đà và các đêï tử từ xa trông thấy tướng tốt chói sáng của Đức Như Lai trong lòng rung động mừng rỡ, thầm Nghĩ: “May mắn thay! Chúng ta được vâng học theo lời dạy của Bậc Thanh

* Trang 779 *
device

Tịnh. Niềm vinh hạnh này thật khó thể diễn bày.” Hai vị cùng đệ tử tiến đến phía trước tòa ngồi, đầu mặt sát đất đảnh lễ Đức Phật. Lạy xong, lòng họ càng hân hoan, vui sướng vô cùng, tự Nghĩ đây chính là lúc nên bày tỏ thưa bạch:
–Chúng con nhiều tội lỗi hư hèn, trôi theo dòng thế tục rơi vào vùng tăm tối. Mãi đến hôm nay, mới ngược dòng thế sự trở về nguồn giác. Cúi mong thâu nhận cho chúng con được dự vào hàng Tăng chúng.
Được Đức Phật chấp nhận, tóc trên đầu họ tự rơi xuống, đều trở thành Sa-môn. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Hai vị này vào thời Phật quá khứ, có lập thệ nguyện, chờ khi Ta thành đạo sẽ theo hầu hai bên.
Đức Phật dạy tên gọi Ưu-ba-thế vốn là danh hiệu xưng tụng, hoa mỹ nhưng không thật nên truyền Ưu-ba-thế đổi lại theo tên gọi thuở ấu niên là Xá-lợi-phất, Câu-luật-đà trở lại tên gọi Đại Mục-kiền-liên.
Sau đó, được nghe Đức Phật thuyết pháp, cả hai vị đều đắc quả A-la-hán.
Đức Phật dạy thị giả truyền bảo các vị Tỳ-kheo buổi chiều sẽ kiết giới, không vị nào được đi nơi khác. Đến tối thông kiểm số chúng Tăng được một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Đức Phật kiết giới xong, các Tỳ-kheo đều hoan hỷ, tất cả cung kính đảnh lễ Phật rồi lui ra.

Phẩm 6: TRỞ VỀ BỔN QUỐC
 
Bấy giờ Đức Như Lai sắp trở về nước Xá-di cùng đi có chư vị đại Tỳ-kheo Tăng đều là bậc Ứng chân, nội tâm Tĩnh lặng, trí tuệ thông suốt các pháp nhỏ nhiệm, tỏ tường nguồn cội hạnh nghiệp của chúng sinh trong ba đời như các vị Hiền giả: Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Uất-tỳ Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Già-da Ca-diếp… gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Khi ấy tại thành Ca-duy-la-việt, vua Duyệt-đầu-đàn lệnh cho Phạm chí Ưu-đà-da đến vườn Trúc, thỉnh Đức Phật trở về quốc thổ.

* Trang 780 *
device

Đến nơi, Ưu-đà-da nhìn thấy tướng tốt của Đức Phật, ánh sáng hào tướng soi rạng đất trời lòng vô cùng vui sướng, cúi đầu toàn ý lạy dưới chân Đức Phật rồi đứng qua một bên. Sau đó, Ưu-đà-da tâm ý chí thành quỳ xuống bạch Phật:
–Đức phụ vương từ phương xa gởi lời đến Thế Tôn. Phụ vương nghe Ngài đã thành đạo lại cứu độ cho tất cả chúng sinh, riêng đức phụ vương chưa được kính nhờ vậy Ngài nên trở về. Hôm nay phụ vương sai con đến thỉnh Ngài.
Đức Phật hỏi Ưu-đà:
–Sinh hoạt thường ngày của phụ vương có an ổn không?
Ưu-đà thưa:
–Đại vương vẫn bình an, chỉ rất nhớ Đức Thế Tôn.
Đức Phật hỏi Ưu-đà:
–Ông có ưa thích đạo của Ta không?
Ưu-đà bạch:
– Bạch Thế Tôn, con rất thích.
Đức Phật chấp nhận cho Ưu-đà làm Sa-môn, và truyền trao giới pháp. Ưu-đà thầm Nghĩ: “Nay ta đã là đệ tử Đức Phật, không thể trở về vương quốc. Đức vua đang chờ tin tức, vậy ai báo tin cho ngài?”
Đức Phật biết tâm niệm Ưu-đà muốn trở về nên dạy:
–Này Ưu-đà, chớ nên gần gũi với việc thế gian, luyến tiếc buộc ràng với việc nhà lúc trước.
Ưu-đà bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Ngài sẽ trở về Xá-di?
Đức Phật đáp: –Ta sẽ về.
Ưu-đà vâng lời dạy, quỳ xuống bạch Đức Phật:
–Không rõ ngày nào Đức Thế Tôn sẽ lên đường?
Đức Phật bảo Ưu-đà:
–Sau bảy ngày nhất định Ta sẽ đến Xá-di!
Ưu-đà hoan hỷ đảnh lễ Đức Phật rồi lên đường về nước. Về đến Xá-di, Ưu-đà-da đến trước cung nhờ người thông báo. Người giữ cửa lập tức tâu lên đức vua:
–Sứ giả Ưu-đà đã trở về, hiện đang ở ngoài cửa xin được yết kiến.

* Trang 781 *
device

Nhà vua truyền lệnh cho vào, lòng lấy làm lạ tự hỏi: “Ta mong Ưu-đà như người khát mong được uống nước. Vì sao ông ta cứ dừng ở ngoài cung, lại xin thông báo để được yết kiến và phải được ta ưng thuận đến lần thứ ba rồi sau đó mới tấn kiến?” Nhà vua thấy Ưu-đà đã mặc y phục Sa-môn liền hỏi:
–Khanh đã xuất gia làm Sa-môn rồi sao?
Ưu-đà thưa:
–Thần đã xuất gia theo học giáo pháp của Đức Phật.
Nhà vua hỏi Ưu-đà:
–Tất-đạt khi ở trong cung chỉ có khanh là thân nhất. Khanh tự do ra vào cung như người trong hoàng tộc, không bao giờ phải thưa hỏi người giữ cửa. Nay đi sứ trở về, vì sao khanh lại đứng ngoài cửa nhờ người thông báo? Ưu-đà thưa đức vua:
–Đức Phật dạy Tỳ-kheo không nên gần gũi người thế tục, quyến luyến nhà cửa vì đạo và tục khác nhau.
Nhà vua hỏi:
–Con ta lúc ở trong cung luôn vận y phục thượng hạng, nay là Sa-môn vận y phục gì?
Ưu-đà chỉ vào chiếc y đang mặc, thưa với đức vua hiện nay Đức Phật cũng vận y phục như vậy.
Nhà vua rơi lệ hỏi tiếp:
–Khi Tất-đạt ở trong cung, ta đã xây dựng cung điện, dùng bảy thứ báu để chạm trổ, quý giá tốt đẹp nhất thế gian cho Thái tử. Nay nhà cửa của con ta thế nào, có như ta không?
Ưu-đà tâu đức vua:
–Ngài thường ở dưới gốc cây. Trong truyền thống của đạo, chư Phật, Thế Tôn đều như thế.
Nhà vua lại hỏi Ưu-đà:
–Con của ta khi ở trong cung chăn ấm nệm êm, toàn bằng thứ gấm thêu tinh xảo, mềm mại. Nay tọa cụ của Thái tử có được như thế không?
Ưu-đà tâu vua:
–Ngài lấy cỏ làm tòa để giữ tâm trong sạch trừ lòng tham.
Nhà vua hỏi Ưu-đà:

* Trang 782 *
device

–Khi Tất-đạt ở trong cung, ta sai người nấu các món ăn thượng vị cho Thái tử dùng. Nay Thái tử ăn uống như thế nào, có được đầy đủ không?
Ưu-đà tâu:
–Đến giờ Ngài ôm bát khất thực để tạo phước cho chúng sinh. Khi thọ thực Ngài không phân biệt ngon hay dở, mà chỉ chú nguyện cho thí chủ.
Nhà vua nghe những lời ấy lại tuôn rơi dòng lệ, hỏi Ưu-đà:
–Lúc trước, khi Tất-đạt ngủ, nếu muốn cho Thái tử thức giấc ta thường cho khảy đàn ca hát, sau đó Thái tử mới thức. Nay ở trong vùng núi non cô tịch, làm sao để đánh thức Thái tử.
Ưu-đà tâu vua:
–Đức Như Lai luôn trú trong Tam-muội không kể ngày đêm.
Nhà vua hỏi Ưu-đà:
–Lúc con ta còn ở trong cung, khi tắm rửa thường dùng thứ nước có tám loại hương thơm. Nay Thái tử tắm rửa thì dùng thứ nước gì?
Ưu-đà tâu đức vua:
–Ngài dùng nước bát giải thoát5 để tẩy rửa tâm ô uế.
Nhà vua hỏi tiếp:
–Này Ưu-đà, khi Thái tử còn ở trong vương quốc, ta vẫn sai người dùng các loại hương chiên-đàn tô hợp để xoa thân con ta. Nay Thái tử đã là Sa-môn thì thường dùng loại hương gì?
Ưu-đà tâu vua:
–Ngài thường dùng hương bát chủng pháp6 thuộc Giới, Định, Tuệ để xông ướp.
Đức vua lại hỏi Ưu-đà:
–Lúc Tất-đạt còn ở trong hoàng cung, ta ra lệnh làm giường cho
_____________________
5. Bát giải thoát: Gọi tắt là Bát giải, còn gọi là Bát bội xả. Đó là tám loại thiền định để đối trị các phiền não trong Tam giới; nhằm xả ly và giải thoát khỏi sự trói buộc của chúng.
6. Bát chủng pháp: Tám loại pháp gồm: 1. Ba Tam-muội; 2.Bốn Thiền định; 3. Bốn Vô lượng tâm; 4. Bốn Vô sắc định; 5. Tám Bội-xả; 6. Tám Thắng xứ; 7. Chín Thứ đệ định; 8. Mười Nhất thiết xứ. Tổng cộng là năm mươi pháp.

* Trang 783 *
device

Thái tử toàn bằng bốn thứ báu. Vậy nay giường Thái tử nằm làm bằng loại vật liệu
gì?
Ưu-đà tâu:
–Ngài lấy Tứ thiền làm giường, tâm dứt bỏ các nghiệp ác, không có dục vọng.
Nhà vua lại hỏi:
–Này Ưu-đà, lúc còn ở trong cung, con ta luôn có các vệ sĩ theo hầu. Hiện nay có ai theo hầu không?
Ưu-đà thưa:
–Các đệ tử học đạo của Ngài được gọi là Tỳ-kheo Tăng, gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị đều theo hầu Đức Thế Tôn.
Nhà vua lại hỏi Ưu-đà:
–Lúc Thái tử ngụ trong cung, nếu muốn ra ngoài đi dạo thường có bốn loại xe là xe trâu, xe dê, xe ngựa và xe voi để Thái tử cỡi. Còn nay lúc đi dạo thì cỡi bằng loại xe gì?
Ưu-đà tâu vua:
–Ngài lấy Tứ đế và Thần túc thông làm xe phi hành.
Nhà vua hỏi Ưu-đà:
–Khi con ta du ngoạn thường có cờ hiệu và lọng được tết các tua dài để làm vật nghi vệ trang hoàng rực rỡ cho Thái tử. Nay thì cờ lọng như thế nào?
Ưu-đà thưa vua:
–Ngài dùng bốn ân và đức từ bi để trang điểm cho tất cả chúng sinh.
Đức vua lại hỏi:
–Này Ưu-đà, mỗi khi Tất-đạt ra ngoài cung thường có người khua chuông, đánh trống, nhân dân đón xem đứng đầy đường. Bây giờ khi Thái tử đi hay dừng ở đâu thì cử lên loại âm thanh nào?
Ưu-đà thưa:
–Lúc Đức Phật mới thành đạo, Ngài đến nước Ba-la-nại chuyển trống pháp cam lộ khiến nhóm năm người của Tôn giả Câu-lân đều chứng được quả A-la-hán, tám vạn Thiên chúng chứng được pháp nhẫn vô cấu, chín mươi sáu vị ngoại đạo đều vui vẻ kính phục. Pháp âm vô thượng ấy rền vang khắp cả ba ngàn Đại thiên thế giới.
Vua Duyệt-đầu-đàn hỏi Ưu-đà:

* Trang 784 *
device

–Hiện nay Thái tử có ý muốn thống lãnh nước nào?
Ưu-đà thưa:
–Những nơi mà Đức Thế Tôn thống lãnh không thể kể hết. Ngài giảng dạy và truyền trao chánh pháp cho chúng sinh, không người nào không mong được độ thoát. Ngài dùng tâm bình đẳng để độ khắp các nơi, không xứ sở nào không ưa thích.
Đức vua lại hỏi Ưu-đà:
–Lúc còn ở trong nước, con ta vẫn thường lo Nghĩ vạch ra các đường lối chính trị giúp ta an dân, hành động đều thuận theo lễ nghi làm cho mọi người đều cung kính vâng lệnh. Nay ở nơi cô tịch Thái tử thường nhớ Nghĩ về những việc gì?
Ưu-đà tâu vua:
–Đức Thế Tôn luôn quán niệm về Không, thấy rõ khổ hay vui đều chẳng phải là chân thật, những gì có hình thể, tên gọi cũng thế, về thực chất là Không, nên tâm Ngài luôn an định, không tạo tác.
Nhà vua nghe lời ấy xong liền thốt lên:
–Tai họa thay! Tất-đạt, tất cả mọi vật đều hiện có trước mắt sao lại nói là không? Trái ngược thay! Tất-đạt, con đã tạo mâu thuẫn với mọi người.
Ưu-đà liền tâu:
–Giả sử người trí khắp trong thiên hạ, mỗi người có một trăm cái đầu, mỗi đầu có một trăm cái lưỡi, mỗi cái lưỡi giải Nghĩa được cả trăm ý, hợp tất cả số người đó lại để ca ngợi Đức Như Lai suốt trọn một kiếp cũng không thể nói hết công đức của Ngài. Huống chi những lời thần vừa nói chưa được một phần ức. Chỉ có Phật với Phật mới tỏ rõ được công đức ấy.
Đức vua nói:
–Tốt lành thay! Đức Phật sắp đến đây phải không? Ngày nào Ngài mới đến?
Ưu-đà thưa:
–Bảy ngày nữa Ngài sẽ đến.
Đức vua vô cùng vui mừng, ngay lập tức truyền lệnh cho quần thần:
–Ta sắp sửa nghênh rước Đức Phật. Các khanh hãy chuẩn bị đoàn nghi vệ của hoàng cung, tất cả đều phải chiếu theo đúng pháp

* Trang 785 *
device

tắc cung đón Bậc Thánh vương khi ra vào, sửa sang bằng phẳng các đường phố, vẩy nước hoa trên đất, các ngã tư trong thành đều phải treo tràng phan. Tất cả mọi việc tu sửa, trang hoàng đều phải làm hết sức toàn hảo. Đoàn người, ngựa xe theo hầu ra ngoài thành trong vòng bốn mươi dặm để cung đón.
Đến ngày thứ bảy, Đức Thế Tôn từ vườn Trúc cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ-kheo Tăng khởi hành tiến vào nước Xá-di. Uy thần Phạm tướng của Đức Phật và chư Tăng khiến chư Thiên cũng tùy tùng theo hầu. Trên đường đi có một dòng sông tên là A-lâu-na. Khi qua bên kia sông lên bờ, Đức Phật dùng trí tuệ vô lậu quán sát, soi thấu biết rõ ác niệm trong tâm Điều-đạt, chắc khó khai hóa, cần phải thị hiện thần túc thông làm cho Điều-đạt phải tin phục. Ngài liền bay lên hư không cách mặt đất bảy nhận7, chân Ngài giống như bước trên đất nhưng kỳ thật là Ngài đang trụ giữa hư không. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Hãy xem đoàn xe ngựa của nhà vua năm màu trang nghiêm, đẹp đẽ. Thật giống như khi vua cõi trời rời cung du ngoạn.
Bấy giờ mọi người thấy Đức Phật và chư Tăng chân bước trên mặt đất, đưa mắt nhìn lên theo dấu chân lại thấy Đức Phật và chúng Tăng trụ giữa hư không, từ trên cao dần dần đi xuống, lần lượt đến ngay chỗ nghênh rước ở độ cao ngang đầu người khiến những người có tâm cang cường đều cúi đầu vâng phục tin theo. Chỉ có Điều-đạt khởi lên suy Nghĩ bất thiện: “Tất-đạt đi học đạo chỉ để làm trò huyễn thuật, mê hoặc mọi người như thế. Rồi đây, ta cũng sẽ dùng pháp thuật để hóa độ cho tất cả chúng nhân.”
Đức vua cha từ xa thấy Đức Phật đi lại, trong lòng vừa thương vừa kính, một là kính đạo, hai là thương con liền bước xuống xe voi, cởi kiếm, bỏ lọng, nước mắt rơi tràn đi tới chỗ Đức Phật, đầu mặt sát đất lạy dưới chân Ngài cất lời tán tụng:
Đản sinh ba hai tướng
Lần nhất lễ Phước nhân
________________
7. Nhà Chu (một triều đại cổ của Trung Quốc) định tám thước là một nhận, tương đương với 6,48m.

* Trang 786 *
device

Bên cội cây kính lễ
Thành đạo nay cúi đầu.
Rồi vua cha xướng kệ hỏi Đức Phật:
Xưa kia ngụ hoàng thất
Ngự tọa bảo tượng xa
Nay cớ sao cực khổ
Dẫm đất lấm chân trần?
Đức Thế Tôn dùng kệ đáp:
Cỡi ngựa xe sinh tử
Nguy hiểm, chẳng bền lâu
Ngự trên xe ngũ thông
Đến đi luôn tự tại.
Đức phụ vương hỏi:
Xưa khoác áo bảy báu
Tốt đẹp thật thanh cao
Nay đầu trần, y nát
Lại chẳng vương thẹn sao?
Đức Thế Tôn đáp kệ:
Hổ thẹn vì áo ngoài
Áo đời thêm trần cấu
Áo pháp Bậc Chánh Chân
Tịnh tâm, Như Lai khoác.
Vua cha đọc kệ hỏi tiếp:
Xưa dùng đồ vàng bạc
Ăn thượng vị thơm ngon
Nay gót lê hành khất
Thô dở ăn được sao?
Đức Thế Tôn xướng kệ trả lời:
Lìa xa cơn đói khát
Pháp vị là món ăn
Khất thực do từ bi
Vì chúng sinh gieo phước.

* Trang 787 *
device

Đức phụ hoàng hỏi:
Xưa riêng ngự cung phòng
Có thị tỳ hầu hạ
Nay độc trú rừng sâu
Vì sao không sợ hãi?
Đức Thế Tôn trả lời:
Sợ hãi vì sinh tử
Tận trừ ngộ nguồn không
Không sầu, không hỷ niệm
Đạo tràng, nơi tịnh trú.
Vua cha lại hỏi:
Xưa ngự chốn hoàng cung
Tẩy thân bằng trầm thủy
Nay ở tại núi rừng
Lấy gì trừ trần cấu?
Đức Phật đáp:
Ao tắm là Pháp bảo
Nước Chánh định tràn dâng
Thân trầm trừ ba độc8
Tối lạc đạt tam thông9.
Vua Tịnh Phạn thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến khu ngự uyển của hoàng cung, truyền lêïnh từ đây về sau nơi đó mãi sẽ là tinh xá. Đức Phật vâng theo ý vua cha đi vào tinh xá, ngồi dưới cội cây Ni-câu-loại giảng dạy rộng truyền giáo pháp suốt bảy ngày không mệt mỏi. Thính chúng vô cùng hoan hỷ. Trong đó có người phát tâm Đại thừa, có người ưa thích hạnh Bích-chi-phật, có người khởi ý hướng theo quả A-la-hán, có người xuất gia làm Sa-môn; mỗi người tùy theo
_____________________
8. Tam độc: Ba thứ độc hại. Còn gọi là Tam căn. Tam độc gồm: 1. Tham độc; 2. Sân độc; 3. Si độc.
9. Tam đạt: Ba đức thông đạt. Với A-la-hán thì gọi là Tam minh, với Phật thì gọi là Tam đạt. Tam đạt là thông đạt ba pháp Thiên nhãn, Túc mạng và Lậu tận. Đại Thừa Nghóa chương, q.20 viết: “Biết đến tận cùng gọi là Tam đạt. Minh thì chung cả với Nhị thừa. Đạt thì chỉ riêng Như Lai mới có”.

* Trang 788 *
device

sự phát tâm mà tu tập đều được thành tựu. Lúc ấy các phụ nữ trong thành đều sinh niệm lành, buồn tủi rơi lệ tự trách: “Đức Thế Tôn đã trở về vương quốc, chỉ riêng nam giới có phước đức mới được diện kiến Đức Phật. Chúng ta tội chướng ngăn che nên không được uống pháp vị. Sao lại khổ như thế?”
Đức Phật biết rõ mọi suy Nghĩ của phụ nữ trong thành nên khen ngợi:
–Lành thay! Họ thật sự khởi tâm niệm tốt đẹp, có ý muốn ưa thích được nghe giáo pháp để vượt thoát khỏi khổ đau.
Đức Phật nói với vua cha:
–Chánh pháp khó gặp, được nghe giảng rất khó. Phụ vương nên truyền lệnh cho phụ nữ trong nước ai thích nghe pháp hãy đến nghe.
Nhà vua liền ra lệnh ai muốn được gặp Phật nghe pháp hãy tới nghe. Phụ nữ ở trong thành đều vui mừng đến diện kiến Đức Phật, lễ bái rồi đứng qua một bên. Đức Thế Tôn tùy theo ý niệm của họ thuyết pháp thích hợp khiến tâm mọi người được thông suốt, đều được pháp nhãn.
Đức vua và nhân dân vui mừng lạy Đức Phật rồi lui ra.
Khi ấy các Tỳ-kheo bạch Đức Phật:
–Mọi người nam nữ, già trẻ trong nước Xá-di, nghe Đức Phật giảng dạy chánh pháp tùy theo ý niệm trong lòng họ nên tất cả đều được Thế Tôn ấn chứng. Đức Phụ hoàng cũng cùng nghe pháp sao không được Thế Tôn ghi nhận là có chứng đắc?
Đức Phật dạy các Tỳ-kheo:
–Phụ vương của Ta niệm ân ái chưa dứt, tình cha con càng lúc càng nồng nên tâm cung kính chưa trọn vẹn, vì vậy chưa thể đạt được.
Sáng sớm Đức Như Lai và Tôn giả Mục-liên cùng đi đến hoàng cung. Khi vua cha an tọa trên thượng điện. Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
–Hãy hiển bày đạo lực của ông.
Tôn giả Mục-liên vâng lời bay lên hư không, ẩn hiện bảy lần, thân tuôn ra nước và lửa rồi từ trên hư không đi xuống đảnh lễ dưới chân Đức Phật đứng hầu phía bên trái.

* Trang 789 *
device

Vua Duyệt-đầu-đàn được thấy sự hóa hiện ấy trong lòng hân hoan, tâm ý được thông suốt, dứt hẳn niệm ân ái, phát tâm cung kính đứng dậy đến trước Đức Phật đảnh lễ bạch:
–Hết sức tốt lành! Bạch Thế Tôn, đệ tử có công đức mới được như vậy. Oai đức của Như Lai thật khó thể đo lường.
Ngay khi đó, đức vua phát khởi đạo tâm Chánh giác vô thượng.
Về sau, mỗi khi nhà vua đến nơi Phật ngự đều thấy thân tướng xấu xí của một ngàn vị Tỳ-kheo, chúng của Tôn giả Ca-diếp, lòng vua không vừa ý, thầm Nghĩ: “Các Tỳ-kheo này tuy tâm ý thuần nhất, bất loạn nhưng lại chẳng hiện ra Phạm tướng. Ta phải khuyến khích người trong hoàng tộc vui thích đạo giải thoát, tìm chọn những người có thân tướng trang nghiêm, đẹp đẽ để họ xuất gia làm Sa-môn”. Nhà vua truyền lệnh cho mọi người trong hoàng gia ngày mai phải tụ họp tại cung điện. Theo lệnh vua mọi người đều đến dự. Đức vua truyền bảo người trong vương tộc:
–Thầy tướng A-di có nói: “Nếu Đức Phật không xuất gia sẽ làm bậc Thánh vương thống lãnh bốn châu trong thiên hạ. Những người theo hầu hai bên hình mạo phải đẹp đẽ, trang nghiêm.” Nay có một số đệ tử của Ngài hình dáng thật khó coi. Ta muốn kính mời những vị có tâm chí học đạo giải thoát, có oai nghi và dung mạo đầy đủ xuất gia vào trong Tăng đoàn để làm sáng rực sự trang nghiêm của Đức Thế Tôn.
Mọi người trong vương gia đều nói:
–Thật vô cùng tốt lành!
Mọi người đều hoan hỷ lãnh ý chỉ của vua lui về sắp xếp, giao phó việc nhà, hẹn bảy ngày nữa sẽ xuất gia học đạo.
Điều-đạt lên tiếng bảo một vị trong hoàng tộc sắp xuất gia:
–Chúng ta là con em dòng hoàng tộc, nay từ bỏ sự vinh hiển của thế gian, sắp sửa xuất gia sống trong đạo. Chúng ta cần ăn mặc thật chỉnh tề, đẹp đẽ nhất; đi trên loại xe ngựa, voi có giá trị ngàn vàng. Đến ngày xuất gia, chúng ta ra đi trang nghiêm như thế chắc hẳn người xem sẽ đứng chật cả đường.
Khi ấy chiếc mũ vải để vén tóc trên đầu Điều-đạt tự nhiên rơi xuống đất. Cùng đi đến ngã tư đường, voi và ngựa của hai người đang

* Trang 790 *
device

cỡi bỗng xoài bốn chân trên đất, làm cho chim muông bay lên kêu inh ỏi.
Thầy tướng số thấy thế nên dự báo:
–Mọi người đều thành tựu đạo quả, chỉ có hai người ấy là không được an lành.
Đến ngày đó, các vị trong hoàng thất cùng đến chỗ Đức Phật xuất gia làm Sa-môn. Mọi tâm niệm cang cường trong lòng họ đều rơi rụng, vâng phục theo Đức Phật. Tất cả mọi người đều được an lạc.

* Trang 791 *
device

 
Đại Tập XIV, Bộ Bản Duyên V (Số 192 - 198)