LOGO VNBET
PHẬT SỞ HÀNH TÁN

QUYỂN V

Phẩm 23: THẦN LỰC TRỤ THỌ
 
Khi ấy Tỳ-xá-ly
Các Trưởng giả, Ly-xá
Nghe Thế Tôn đến nước
Ngự vườn Am-ma-la
Họ ngồi xe lụa trắng
Lọng báu, y phục đẹp
Xanh, đỏ, vàng… tươi thắm
Mỗi đoàn một hình thức
Dẫn tùy tùng trước sau
Tranh nhau để tới trước,
Mũ báu, y phục đẹp
Trang sức toàn châu báu
Uy dung thật rạng rỡ
Khu vườn kia thêm sáng
Xả bỏ năm uy nghi
Xuống xe đi bộ đến
Thân kính, dứt kiêu mạn
Đảnh lễ dưới chân Phật.
Đại chúng vây quanh Phật
Như mặt trời thêm sáng
Ly-xa tên Sư Tử
Đứng đầu các Ly-xa
Dáng mạo như sư tử
Là tôi trung sư tử
Bỏ kiêu mạn sư tử
Thọ giáo Thích Sư tử

* Trang 209 *
device

Rằng: “Oai đức các vị
Vọng tộc, hình dung đẹp
Bỏ kiêu mạn thế gian
Thọ pháp càng thêm sáng.
Trang sức bằng hương hoa
Không bằng giới trang nghiêm
Đất nước giàu, an vui
Thì các vị vinh hiển.
Vinh thân mà an dân
Là do điều phục tâm
Lại thêm tâm ưa pháp
Khiến công đức càng cao
Không phải bọn hẹp hòi
Nhóm được các hiền tài
Phải ngày tu công đức
Biết vỗ về muôn dân
Trị dân bằng chánh pháp
Như trâu chúa lội sông.
Nếu người tự suy Nghĩ
Đời nay và đời sau
Phải nên tu chánh giới
Phước lợi hai đời an
Được mọi người kính trọng
Tiếng khen khắp gần xa
Người hiền thích làm bạn
Tiếng thơm lưu truyền mãi.
Ngọc đá quý núi rừng
Đều có từ đất ấy
Giới đức cũng như đất
Các thiện từ đó sinh.
Muốn bay mà không cánh
Qua sông không có thuyền
Người không có giới hạnh
Cứu khổ là thật khó.
Như cây hoa quả ngon

* Trang 210 *
device

Gai góc khó vịn leo
Học rộng bị nữ sắc
Người phá giới cũng thế.
Ngồi thẳng lầu gác đẹp
Tâm vua tự trang nghiêm
Đủ tịnh giới công đức
Được Đại tiên hóa độ
Vận y phục lông chim
Đầu cạo sạch râu tóc
Không tu trì giới đức
Mới chịu các khổ nạn.
Ngày đêm tắm ba lần
Thờ lửa tu khổ hạnh
Thân có mùi dã thú
Vào nước, lửa, nhảy vực
Ăn củ, quả, rau xanh
Uống nước sông, gió mát
Tuyệt lương, thở khí trời
Và lìa bỏ chánh giới
Tu đạo cầm thú này
Không phải là pháp khí.
Phá giới còn bài báng
Người nhân chẳng gần gũi
Trong tâm thường sợ hãi
Tiếng xấu như hình bóng
Đời này không lợi ích
Đời sau đâu được yên.
Vì thế người trí tuệ
Phải tu trì tịnh giới
Cánh đồng rộng sinh tử
Giới là người dẫn đường
Trì giới do sức mình
Việc này chẳng phải khó.
Tịnh giới là thềm thang
Giúp người sinh cõi trời

* Trang 211 *
device

Người giữ vững tịnh giới
Là do phiền não nhẹ
Tội lỗi phá tâm đạo
Làm mất công đức lành
Phải nên bỏ ngã sở
Ngã sở che điều lành
Như tro phủ than hồng
Chân đạp liền bị phỏng
Kiêu mạn che phủ tâm
Như trời ẩn trong mây.
Hổ thẹn diệt biếng nhác
Chí mạnh lo buồn yếu
Già bệnh phá thân trẻ
Ngã mạn diệt các thiện.
Các trời, A-tu-la
Tham ganh nên đánh nhau
Đánh mất các công đức
Đều do kiêu mạn phá:
Ta hơn hết tất cả
Công đức ta cũng hơn
Ta thắng kẻ yếu hơn
Đó chính là người ngu.
Dòng họ đều vô thường
Dao động chẳng tạm an
Rốt cuộc cũng tiêu tan
Sao kiêu mạn làm gì?
Tham dục là họa lớn
Dối thân mà oán ngầm
Lửa mạnh từ trong phát
Lửa tham cũng như vậy.
Tâm tham dục lẫy lừng
Còn hơn lửa thế gian
Lửa hừng, nước dập tắt
Tham ái khó tiêu được.
Lửa hừng đốt đồng cỏ

* Trang 212 *
device

Cỏ cháy mọc cỏ khác
Lửa tham dục đốt tâm
Thì chánh pháp sinh khó.
Tham dục muốn vui đời
Vui thêm nghiệp bất tịnh
Nghiệp ác đọa đường ác
Oán không hơn tham dục.
Tham thì sinh ra ái
Ái thì theo các dục
Theo dục với các khổ
Tội ác, tham lớn nhất.
Tham là căn bệnh nặng
Thuốc trí trị người ngu
Tà giác, Nghĩ bất chánh
Làm tăng thêm tham dục.
Vô thường, khổ, bất tịnh
Vô ngã, vô ngã sở
Trí tuệ quán chân thật
Diệt được tà tham ấy.
Cho nên đối cảnh giới
Phải tu quán chân thật
Quán chân thật đã sinh
Thì dứt được tham dục.
Thấy đức sinh tham dục
Thấy lỗi sinh tức giận
Đức, lỗi quên cả hai
Tham sân được dứt bỏ.
Tức giận đổi hình dung
Mất đi vẻ xinh đẹp
Tức giận mờ mắt sáng
Hại pháp Nghĩa muốn nghe.
Cắt đứt Nghĩa thân ái
Bị người đời khinh thường
Cho nên phải bỏ giận
Đừng để cho tâm giận.

* Trang 213 *
device

Dứt được tâm giận cuồng
Là người khéo điều phục
Đời gọi khiển ngựa giỏi
Đó là người nắm dây
Giận dữ không kềm lại
Lửa hối hận liền cháy.
Nếu người sinh tức giận
Trước tự đốt tâm mình
Sau đó hại cả kia
Hoặc đốt hoặc không đốt.
Khổ, sinh, già, bệnh, chết
Ép bức các chúng sinh
Lại thêm tâm giận tức
Đã oán lại thêm oán
Thấy đời các khổ ngặt
Nên sinh tâm Từ bi.”
Chúng sinh khởi phiền não
Thêm lắm điều trái đạo
Như Lai khéo phương tiện
Tùy bệnh mà nói lược
Thí như thầy thuốc hay
Tùy bệnh mà bốc thuốc.
Khi ấy các Ly-xa
Nghe pháp do Phật nói
Liền dậy lễ chân Phật
Vui mừng mà lãnh thọ
Thỉnh Phật và chúng Tăng
Ngày mai thiết lễ cúng
Phật bảo các Ly-xa:
“Am-ma-la đã thỉnh.”
Ly-xa lòng hổ thẹn
Sao nàng đoạt lợi Ta?
Biết tâm Phật bình đẳng
Nên sinh tâm vui theo.
Như Lai khéo tùy nghi

* Trang 214 *
device

An ủi khiến họ vui
Điều phục khiến trở về
Như rắn bị thần chú.
Hết đêm, rạng sáng ra
Phật và cả đại chúng
Đến nhà Am-ma-la
Thọ nàng dâng cúng xong,
Đi đến thôn Tỳ-nữu
Để kiết hạ an cư.
Ba tháng an cư xong
Về nước Tỳ-xá-ly
Trú bên ao Di-hầu
Ngồi ở dưới cội cây
Phát ánh sáng rực rỡ
Cảm đến ma Ba-tuần
Họ liền đến chỗ Phật
Chắp tay khuyến thỉnh rằng:
“Xưa bên sông Ni-liên
Đã phát thệ chân thật
Nếu việc hoàn thành xong
Ta sẽ vào Niết-bàn
Nay việc đã hoàn thành
Đã toại với bản tâm”.
Phật bảo ma Ba-tuần:
“Ngày diệt độ không xa
Chỉ sau ba tháng nữa
Ta sẽ vào Niết-bàn.”
Thiên ma biết Như Lai
Sắp đến ngày diệt độ
Ý muốn đã thỏa mãn
Vui mừng trở về trời.
Như Lai ngồi dưới cây
Chánh thọ “Tam-ma-đề”
Xả tuổi thọ nghiệp báo
Dùng sức thần trụ mạng.

* Trang 215 *
device

Vì Như Lai xả thọ
Khắp mặt đất rung chuyển
Hư không trong mười phương
Lửa hừng cháy đầy khắp
Đỉnh Tu-di lở ngã
Trời mưa đá sỏi bay
Bốn bề gió bão dậy
Cây cối đều đổ gãy.
Nhạc trời trổi bi ai
Tâm người, trời hết vui.
Đức Phật liền xuất định
Bảo khắp các chúng sinh:
“Nay Ta đã xả thọ
Dùng định lực sống thôi
Thân như xe cũ mục
Không còn tới lui được
Đã thoát ra ba cõi
Như chim phá trứng ra.”

Phẩm 24: TỪ BIỆT LY-XA
 
Tôn giả A-nan-đà
Thấy trời đất rung chuyển
Tâm hãi, mình nổi ốc
Hỏi Phật: “Vì cớ gì?”
Phật bảo A-nan-đà:
“Ta sống ba tháng nữa
Mạng thừa này bỏ đi
Nên trời đất rung chuyển.”
A-nan nghe Phật dạy
Thương cảm lệ chứa chan
Giống như con voi khỏe
Lay động cây chiên-đàn,
Nhiễu động rung chuyển khắp

* Trang 216 *
device

Dòng lệ thơm tuôn chảy
Gần gũi Bậc Đại Sư
Ân sâu, chưa lìa dục
Chỉ lo hầu tứ sự
Buồn khổ không kềm được:
“Nay con nghe Thế Tôn
Nói quyết định Niết-bàn
Toàn thân đều rũ riệt
Lầm phương, mất thường âm
Pháp đã nghe quên hết
Mê man quên trời đất.
Lạ thay! Đấng Cứu Thế
Mà sao mau diệt độ!
Gặp băng lạnh rũ chết
Lửa đỏ lại bỗng diệt.
Trong cánh đồng phiền não
Mê loạn mất phương hướng
Bỗng gặp thầy dẫn đường
Chưa độ đã mất đi,
Như người đi đường xa
Nóng khát lại thiếu nước
Bỗng gặp ao nước trong
Chạy đến thì khô cạn.
Mày xanh, đôi mắt sáng
Gương sáng cho ba đời
Trí tuệ soi chỗ tối
Tối tăm liền tan biến
Như mạ trên đất khô
Mây đùn mong mưa xuống
Gió mạnh thổi mây tan
Hết mong ruộng khô cằn
Vô trí thật tối tăm
Chúng sinh đều lạc đường
Như Lai đốt đèn tuệï
Bỗng tắt, đường nào ra”.

* Trang 217 *
device

Phật nghe A-nan nói
Tình bi thiết xót thương
Ngài nhẹ nhàng an ủi:
“Ta nói pháp chân thật
Nếu người biết tự tánh
Thì không nên buồn thương.
Tất cả pháp hữu vi
Đều là pháp hoại diệt
Ta đã nói với ông
Lý ân ái vô thường
Hội họp ắt ly biệt1
Nên bỏ tâm buồn nhớ.
Pháp hữu vi biến đổi
Sinh diệt không tự tại
Muốn làm cho còn mãi
Thì không bao giờ có.
Nếu hữu vi thường còn
Và không có biến đổi
Đó là giải thoát rồi
Cần gì mà cầu nữa?
Ông và các chúng sinh
Nay cầu gì ở Ta
Điều các thầy phải được
Ta đã nói xong rồi
Cần gì thân này nữa?
Pháp thân mới lâu dài
Ta trụ “ngã vắng lặng”
Cốt yếu ở chỗ đó
Nhưng Ta đối chúng sinh
Chưa hề có mỏi mệt2
Phải Nghĩ tưởng chán lìa
________________
1. Dịch đảo thứ tự câu.
2. Câu “Vị tằng hữu sở quyền” dịch là: Đã có lòng thành tha thiết chưa từng có, nên có thể dịch gọn lại nhưng có cùng một nghĩa, tuy ý không mạnh bằng.

* Trang 218 *
device

Khéo trụ nơi chính mình.
Phải biết nơi chính mình
Chuyên tinh hành phương tiện
Ở một mình chỗ vắng
Không tin, nơi người khác
Phải biết nơi có pháp
Quyết đốt sáng đèn tuệ
Xua tan được si ám
Quán sát bốn cảnh giới
Chứng được các thắng pháp
Lìa ngã, lìa ngã sở.
Da thịt phủ bộ xương
Máy chảy, gân ràng rịt
Xét kỹ đều bất tịnh
Sao lại ưa thân này?
Các thọ từ duyên sinh
Như bọt trên mặt nước
Khổ sinh diệt, vô thường
Dứt bỏ các lạc tưởng
Tâm thức sinh, trụ, diệt
Đổi mới không tạm ngừng
Suy Nghĩ sự vắng lặng
Cho thường còn là sai.
Các hành nhân duyên khởi
Tụ, tán không thường mãi
Ngu si tưởng có ngã
Người trí không ngã sở
Đối bốn cảnh giới này
Suy Nghĩ, quán sát đúng
Đó là đạo nhất thừa
Các khổ đều dứt hết
Nếu làm được như vậy
Là chân thật chánh quán
Thân Phật còn hay mất
Pháp này thường vô tận.”

* Trang 219 *
device

Phật nói pháp mầu này
Khi an ủi A-nan
Các Ly-xa nghe vậy
Hoang mang cùng nhóm họp
Bỏ phép tắc thế gian
Vội vàng đến chỗ Phật
Lễ xong, ngồi một bên
Muốn hỏi, không nên lời
Phật đã biết tâm họ
Trước dùng phương tiện nói:
“Nay Ta thấy các vị
Tâm Nghĩ tưởng khác thường
Xả bỏ việc thế tục
Chỉ nhớ giáo pháp Phật.
Các ông muốn theo Ta
Điều đã nghe đã biết
Với việc Ta còn, mất
Chớ sinh tâm buồn lo
Tánh hữu vi vô thường
Pháp xao động biến đổi
Chẳng bền chắc, lợi ích
Không có tướng còn mãi.
Thuở xưa, các vua Tiên
Chư tiên Bà-tư-tra
Vua chuyển luân Mạn-đà
Sánh bằng cũng nhiều vị
Các vua tài như thế
Sức như trời Tự tại
Đều qua đời từ lâu
Không ai còn đến nay?
Trời Đế Thích, Nhật, Nguyệt
Số ấy cũng rất nhiều
Thảy đều đã qua đời
Không có ai sống mãi.
Các Phật đời quá khứ

* Trang 220 *
device

Nhiều như cát sông Hằng
Trí tuệ soi thế gian
Thảy đều như đèn tắt
Các Phật đời vị lai
Cũng sẽ diệt như thế.
Nay Ta đâu riêng khác
Sẽ nhập vào Niết-bàn
Những người cần được độ
Nay phải đi tới trước.
Tỳ-xá-ly vui sướng
Các ông đã được an
Chúng sinh không chỗ nương
Ba cõi không đáng vui
Phải dứt khổ lo buồn
Mà sinh tâm lìa dục.”
Quyết định chia tay rồi
Ngài đi về phương Bắc
Khoan thai bước đường dài
Như nhật cạnh núi Tây.
Bấy giờ các Ly-xa
Buồn than theo bên đường
Ngửa mặt mà than thở:
“Than ôi! Sao lạ thay!
Thân như núi vàng ròng
Đủ các tướng trang nghiêm
Không lâu sẽ tan rã
Vô thường sao không thương?
Sinh tử lâu khao khát
Mẹ trí tuệ Như Lai
Mà nay vội xả bỏ
Vì sao không cứu khổ?
Chúng sinh mãi tối tăm
Nhờ tuệ sáng dẫn đường
Vì sao mặt trời tuệ
Bỗng nhiên bị mất sáng?

* Trang 221 *
device

Vô trí lại trôi nhanh
Các chúng sinh nổi trôi
Vì sao cầu chánh pháp
Lại bỗng nhiên gãy đổ?
Vị thầy thuốc từ bi
Thuốc hay trí vô thượng
Trị bệnh khổ chúng sinh
Sao bỗng nhiên đi xa?
Ngọn cờ mầu từ bi
Trang nghiêm bằng trí tuệ
Treo bằng tâm kim cang
Thế gian ngắm không nhàm
Ngọn cờ đẹp thờ phụng
Sao bỗng nhiên gãy đổ?
Chúng sinh sao phước mỏng
Dòng luân hồi sinh dứt
Cửa giải thoát chợt đóng
Khổ mãi không lúc dứt.”
Như Lai khéo an ủi
Dứt tình mà từ giã
Luyến thương nén trong dạ
Như hoa Nuy-ca-ni
Bồi hồi bước chầm chậm
Buồn bã đi theo đường
Như kẻ mất người thân
An táng xong trở về.

Phẩm 25: NIẾT-BÀN
 
Phật đến nơi Niết-bàn
Tỳ-xá-ly vắng lặng
Giống như đêm mây mờ
Trăng sao không phát sáng
Đất nước trước an vui

* Trang 222 *
device

Mà giờ chóng điêu tàn.
Buồn như chôn cha hiền
Cô nữ buồn một mình
Như xinh đẹp, thất học
Thông minh mà phước mỏng
Tâm thông mà nói lắp
Trí sáng mà thiếu tài
Thần thông, không oai nghi
Từ bi nhưng luống dối
Cao quý, không thế lực
Uy nghi nhưng không pháp
Tỳ-xá-ly cũng vậy
Trước sung, nay tiêu điều.
Như ruộng lúa mùa thu
Mất nước đều khô héo
Như lửa tắt hết khói
Hoặc quên cả uống ăn
Việc công tư phế bỏ
Không làm các việc đời
Nhớ Phật, cảm ân sâu
Im lặng đều không nói.
Giờ, Ly-xa Sư tử
Ráng nén nỗi đau buồn
Tiếng khóc thương ủ rũ
Bày tỏ tâm luyến lưu:
“Phá bỏ các nẻo tà
Hiển bày nền chánh pháp
Đã hàng các ngoại đạo
Ra đi không quay về
Đời mất đạo xuất thế
Vô thường là bệnh lớn.
Thế Tôn vào vắng lặng
Không nương, không cứu giúp
Bậc phương tiện trên hết
Nơi rốt ráo vắng bặt

* Trang 223 *
device

Chúng ta mất chí mạnh
Như lửa không có củi.
Thế Tôn bỏ ấm thân
Chúng sinh thật đau buồn
Như người mất sức thần
Cả thế gian buồn bã.
Xuống ao mát tránh nóng
Gặp lạnh, phải hơ lửa
Bỗng nhiên đều trống rỗng
Chúng sinh nương tựa ai?
Thông đạt pháp thù thắng
Người thợ nắn thế gian
Thế gian mất chủ rồi
Người mất thì đạo diệt Già,
bệïnh, chết cùng khắp
Đạo mất, phi đạo thạnh
Thế gian giờ còn ai?
Phá tan máy đại khổ
Lửa hừng hực thiêu đốt
Mưa lớn làm dập tắt
Lửa tham dục cháy hừng
Ai người dập tắt được?
Người gánh vác vững vàng
Đã bỏ nhiệm vụ rồi
Lại dùng sức tuệ gì
Làm người bạn không mời?
Như người bị xử tù
Sắp chết nên mê mẩn
Chúng sinh thức mê lầm
Chỉ vì chết, thọ sinh.
Xẻ gỗ bằng cưa bén
Vô thường xẻ thế gian
Si ám là nước sâu
Ái dục là sóng lớn
Phiền não là bọt nổi

* Trang 224 *
device

Tà kiến cá Ma-kiệt
Chỉ có thuyền trí tuệ
Mới qua biển lớn ấy.
Các bệnh là cây, hoa
Suy già là cành, nhánh
Chết là gốc rễ sâu
Nghiệp chính là mầm chồi
Dao bén trí tuệ cứng
Chặt được “cây ba cõi”.
Vô minh vật mồi lửa
Tham dục là lửa bừng
Năm dục: củi cảnh giới
Dập tắt bằng nước trí
Đầy đủ pháp thù thắng
Thì diệt bỏ si ám.
Thấy đường chánh yên ổn
Dứt hết các não phiền
Từ bi hóa độ chúng Oán,
thân không tướng khác
Nhất thiết trí thông đạt
Mà nay đều xả bỏ.
Lời thanh tịnh dịu dàng
Thân vuông, tay thon dài
Đại tiên còn phải chết
Người nào sống vô cùng?
Phải biết thời đổi nhanh
Nên siêng cầu chánh pháp
Như đường hiểm gặp nước
Thì uống mau, lên đường.
Vô thường rất bạo ngược
Giết không kể sang hèn
Trong tâm có chánh quán
Tuy ngủ nhưng thường giác.”
Bấy giờ chúng Ly-xa
Thường nghĩ trí tuệ Phật

* Trang 225 *
device

Nhàm chán lìa sinh tử
Kính mến thân Sư tử
Không còn ân ái đời
Rất kính đức ly dục
Chiết phục tâm lăng xăng
Tâm an nơi vắng lặng
Siêng thực hành bố thí
Xả bỏ thói kiêu mạn
Một mình tu thảnh thơi
Suy Nghĩ pháp chân thật.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
Thân mình như Sư tử
Ngắm trông thành Tỳ-xá
Mà nói kệ giã từ:
“Lần cuối cùng của Ta
Đến thành Tỳ-xá-ly
Đến đất nước Lực sĩ
Sẽ nhập vào Niết-bàn”.
Ngài dần dần đi đến
Thành phố Bồ-da kia
Nghỉ lại rừng Kiên cố
Dạy các Tỳ-kheo rằng:
“Nay vào lúc nửa đêm
Ta sẽ nhập Niết-bàn
Các ông phải y pháp
Chính là chỗ cao quý
Cái gì không Khế kinh
Cũng không thuận giới luật,
Trái với Nghĩa chân thật
Thì không nên tu tập.
Trái pháp, cũng trái luật
Lại chẳng phải Ta nói
Đó là lời nói sai
Các ông nên mau bỏ
Thọ trì lời nói đúng

* Trang 226 *
device

Đó là không điên đảo
Đó là lời Ta nói
Như pháp, như luật dạy.
Thọ trì pháp luật Ta
Thì đó là đáng tin
Ai nói pháp Ta sai
Đó là không đáng tin,
Không hiểu nghĩa sâu nhiệm
Tin xằng theo văn tự
Thì đó là người ngu.
Không đúng pháp nói bậy
Không phân biệt chân ngụy
Không thấy nên nhận lầm
Như vàng thau lẫn lộn.
Lừa dối người thế gian
Người ngu, trí cạn cợt
Không hiểu Nghĩa chân thật
Thọ trì pháp tương tợ
Cho là pháp chân thật
Vậy nên phải xét kỹ
Quán sát pháp luật chân
Như người thợ luyện vàng
Đốt, đập lấy vàng ròng.
Không hiểu các kinh luận
Thì không phải trí tuệ
Chẳng nên nói “sở ưng”
Nên làm, chẳng nên thấy
Phải thọ trì bình đẳng
Nghĩa lý như thuyết hành.
Cầm kiếm không biết cách
Thì trở lại đứt tay
Từ ngữ không khéo léo
Ý Nghĩa khó biết rõ.
Như đi đêm tìm nhà
Nhà rộng đâu biết chỗ

* Trang 227 *
device

Mất Nghĩa thì quên pháp
Quên pháp tâm rong ruổi
Cho nên người trí tuệ
Không trái Nghĩa chân thật.”
Nói lời dạy này rồi
Ngài đến thành Ba-bà
Các chúng lực sĩ kia
Bày các thứ cúng dường,
Có con vị Trưởng giả
Tên gọi là Thuần-đà
Thỉnh Phật đến nhà mình
Cúng bữa cơm sau rốt.
Thọ trai, nói pháp xong
Ngài đến thành Cưu-di,
Qua hai sông Quyết quyết
Và với sông Hi-liên.
Kia có rừng Kiên cố
Chỗ an ổn vắng lặng
Xuống sông Kim tắm gội
Thân như núi vàng ròng.
Phật bảo A-nan-đà:
“Trong rừng Song thọ kia
Quét dọn cho sạch sẽ
Mắc võng Ta nằm nghỉ
Ta vào nửa đêm nay
Sẽ nhập vào Niết-bàn!”
A-nan nghe Phật dạy
Nghẹn ngào lòng tê tái
Rơi lệ mà vâng làm
Mắc võng xong, bạch Phật.
Như Lai đến nằm võng
Nghiêng phải, đầu hướng Bắc
Chân chồng, tay gối đầu
Như Sư tử đầu đàn
Thân sau cùng hết khổ

* Trang 228 *
device

Nằm rồi không dậy nữa.
Các đệ tử vây quanh
Ôi mắt thế gian nhắm
Gió dừng, rừng lạnh ngắt
Tiếng chim thú ngừng bặt
Cây ứa lệ nhựa trào
Hoa, lá rụng lao xao, Người,
trời chưa lìa dục
Thảy đều rất hoảng hốt
Như người đi đồng rộng
Đường hiểm, chưa đến làng
Chỉ sợ đi không tới
Tâm sợ, thân luống cuống.
Như Lai đã nằm xong
Ngài bảo A-nan rằng:
“Đến bảo các Lực sĩ
Đến giờ Ta Niết-bàn
Nếu họ không gặp Ta
Mãi hận, sinh khổ lớn!”
A-nan vâng lời Phật
Đi dọc đường than khóc
Bảo các Lực sĩ rằng:
“Thế Tôn sắp Niết-bàn”.
Các Lực sĩ nghe tin
Sinh tâm rất sợ hãi
Trai, gái đều chạy vội
Đến chỗ Phật khóc thương
Tóc bù, áo xốc xếch
Thân mồ hôi nhễ nhại
Gào khóc kéo đến rừng
Giống như phước trời hết.
Rơi lệ, lễ chân Phật
Thân buồn rầu, héo hắt.
Như Lai an ủi rằng:
“Các ngươi chớ buồn thương

* Trang 229 *
device

Lúc này nên tùy hỷ
Không nên sinh buồn bã.
Ta tu hành nhiều kiếp
Đến nay mới đạt được
Đã độ xong căn, cảnh
Chỗ mát mẻ vô tận
Lìa đất, nước, lửa, gió
Vắng lặng, không sinh diệt
Dứt hẳn sự buồn khổ
Sao vì Ta đau đớn?
Trước ở núi Già-xà
Ta muốn bỏ thân này
Vì nhân duyên đời trước
Nên tại thế đến nay.
Giữ thân mong manh này
Như ở chung rắn độc
Nay vào cõi vắng lặng
Các duyên khổ đã hết
Chẳng còn thọ thân nữa
Khổ vị lai dứt hẳn
Các ngươi cũng đừng nên
Vì Ta mà sợ hãi”.
Lực sĩ nghe Phật nói
Ngài sẽ nhập Niết-bàn
Tâm rối loạn, mắt mờ
Thấy cả trời tối tăm
Chắp tay, bạch Phật rằng:
“Phật dứt khổ sinh tử
Mãi vui với vắng lặng
Chúng con thật vui mừng
Như ngôi nhà bị cháy
Tự chạy ra khỏi lửa.
Các trời còn vui mừng
Huống chi người thế gian
Sau khi Phật Niết-bàn

* Trang 230 *
device

Chúng sinh không còn thấy
Không còn được cứu giúp
Cho nên sinh buồn khổ.
Như những người đi buôn
Đi trên đồng rộng xa
Chỉ một người dẫn đường
Bỗng nhiên chết giữa đường
Mọi người mất chỗ nương
Làm sao không buồn lo.
Hiện đời tự chứng biết
Được tất cả tri kiến
Mà không được lợi ích
Bị thế gian chê cười
Thí như qua núi báu
Người ngu vẫn nghèo khổ!”
Các vị Lực sĩ này
Hướng về Phật buồn thương
Giống như người một con
Buồn thương nhớ cha hiền.
Phật dùng lời khéo léo
Nêu bày Nghĩa bậc nhất
Bảo các Lực sĩ rằng:
“Thật như lời ngươi nói
Cầu đạo phải tinh tấn
Không chỉ thấy Ta được
Mà hành theo lời Ta
Thoát ra lưới các khổ
Hành đạo ở trong lòng
Cần gì phải có Ta
Cũng như người bị bệnh
Theo toa thuốc uống hay
Thì bệnh tự nhiên hết
Không cần thấy thầy thuốc.
Không làm theo lời Ta
Thấy Ta cũng chẳng lợi

* Trang 231 *
device

Tuy rằng xa cách Ta
Hành pháp vẫn gần Ta
Ở chung, không hành pháp
Nên biết vẫn xa Ta.
Giữ tâm, chớ buông lung
Tinh tấn tu chánh nghiệp
Người sống ở thế gian
Các khổ mãi bức bách
Dao động không yên được
Cũng như đèn trước gió”.
Bấy giờ các Lực sĩ
Nghe Phật từ bi dạy
Cảm động, nhưng không khóc
Gắng nén lòng ra về.

Phẩm 26: ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN
 
Bấy giờ, có Phạm chí
Tên Tu-bạt-đà-la
Có đầy đủ đức tốt
Tịnh giới, giúp chúng sinh
Lúc nhỏ theo tà kiến
Xuất gia theo ngoại đạo
Muốn đến gặp Thế Tôn
Bảo ngài A-nan-đà: Rằng:
“Ta nghe đạo Phật
Nghĩa sâu, khó đo lường
Vô Thượng Giác thế gian
Điều Ngự Sư bậc nhất
Nay sắp nhập Niết-bàn
Khó có thể gặp lại.
Người khó thấy, khó gặp
Khó thấy, thấy được, khó
Cũng như trăng trong gương

* Trang 232 *
device

Nay ta muốn được thấy
Bậc Đạo Sư vô thượng
Vì cầu dứt các khổ
Qua bờ sinh tử kia
Mặt trời Phật sắp lặn
Tôi mong được tạm thấy!”
Lòng A-nan thương cảm
E rằng việc thưa hỏi
Làm bận rộn Thế Tôn
Nên chẳng cho gặp Phật.
Biết vị ấy mong mỏi
Xứng đáng là pháp khí
Phật bảo A-nan rằng:
“Cho phép ngoại đạo kia
Ta vì độ chúng sinh
Thầy chớ làm khó người!”
Tu-bạt-đà nghe vậy Sinh
tâm rất vui mừng
Tâm ưa pháp càng sâu
Cung kính đến trước Phật
Lúc ấy tùy thuận nói
Lời êm dịu thăm hỏi
Vui vẻ chắp tay thưa:
“Nay có điều muốn hỏi
Đời có người biết pháp
Bằng như con rất nhiều
Chỉ nghe Phật chứng được
Đạo giải thoát lạ thường
Xin nói lược con nghe
Thấm nhuần tâm khao khát
Không vì tranh luận nhau
Cũng không tâm thắng thua!”
Phật vì Phạm chí kia
Nói lược tám chánh đạo
Nghe liền hết lòng nhận

* Trang 233 *
device

Như lạc gặp đường chánh
Hiểu được điều trước học
Không phải đạo rốt ráo
Liền được chưa từng được
Lìa bỏ con đường tà
Hết cả chướng si ám
Suy nghĩ điều trước tu
Toàn sân nhuế, ngu si
Nuôi lớn nghiệp bất thiện
Các ái, nhuế, si thảy
Sinh khởi các nghiệp lành
Tuệ học rộng tinh tấn
Cũng do có ái sinh
Nếu dứt bỏ nhuế si
Thì lìa được các nghiệp.
Các nghiệp đã dứt bỏ
Gọi là Giải thoát nghiệp
Người giải thoát các nghiệp
Không tương ứng với Nghĩa
Thế gian nói tất cả
Thảy đều có tự tánh.
Người có ái, sân, nhuế
Si mà có tự tánh
Thì phải nên thường còn
Làm sao mà giải thoát?
Dù cho nhuế, si hết
Có ái lại sinh nữa
Như tự tánh nước lạnh
Nhờ lửa nên thành nóng
Hết nóng trở lại lạnh
Do tự tánh là thường.
Nên biết tánh hữu ái Văn,
tuệ tiến không thêm
Không tăng cũng không giảm
Làm sao mà giải thoát?

* Trang 234 *
device

Trước cho sinh tử kia
Vốn từ trong tánh sinh
Nay xem ra nghĩa ấy
Là không được giải thoát
Tánh thì phải thường trụ
Làm sao có rốt ráo?
Thí như đèn thắp sáng
Làm sao có tối được
Đạo Phật Nghĩa chân thật
Duyên ái sinh thế gian.
Ái hết thì Niết-bàn
Nhân diệt thì quả mất.
Vốn cho ngã khác thân
Chẳng thấy, không tác giả
Nay nghe chánh giáo Phật
Thế gian không có “ta”
Các pháp do duyên sinh
Không hề có Tự tại!
Nhân duyên sinh nên khổ
Nhân duyên diệt cũng thế.
Quán đời nhân duyên sinh
Thì dứt được đoạn kiến
Duyên lìa, thế gian diệt
Thì xa lìa thường kiến.
Bỏ hết cái đã thấy
Hiểu sâu chánh pháp Phật
Đời trước trồng nhân lành
Nghe pháp liền giác ngộ
Được vắng lặng hoàn toàn
Chỗ mát mẻ vô tận
Lòng thông, tịnh tính tăng
Tâm mở tin thêm vững.
Chiêm ngưỡng Như Lai nằm
Chẳng nỡ thấy Như Lai
Bỏ đời vào Niết-bàn

* Trang 235 *
device

Và Phật chưa diệt độ
Ta phải diệt độ trước.
Chắp tay lễ từ Phật
Rồi ngồi ngay một bên
Xả thọ vào Niết-bàn
Như mưa tắt lửa nhỏ.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Đệ tử cuối của Ta
Giờ đây đã Niết-bàn
Các thầy phải cúng dường.”
Trời đầu hôm đã qua
Trăng sáng, sao lung linh
Cả khu rừng vắng lặng.
Phật khởi tâm đại bi
Dạy đệ tử lần chót Rằng:
“Ta Niết-bàn rồi
Các thầy phải cung kính
Ba-la-đề-mộc-xoa
Đó là thầy các vị
Đèn sáng trong đêm dài
Của báu cho người nghèo.
Những điều đã dạy bảo
Các thầy phải thuận theo
Không khác thờ phụng Ta
Phải giữ gìn thân, miệng
Bỏ các nghề sinh sống
Ruộng, nhà, nuôi gia súc,
Chứa tiền của, ngũ cốc
Phải lìa xa tất cả
Như tránh hố lửa lớn.
Đào đất, trồng cây cỏ
Chế thuốc, trị các bệnh
Ngước xem các lịch số
Tìm vận hạn lành dữ
Xem tướng coi tốt xấu

* Trang 236 *
device

Tất cả không nên làm.
Tiết chế, ăn đúng giờ
Không nhận làm sứ giả
Không hòa hợp chế thuốc
Cũng không được nịnh hót
Vật nuôi sống đúng pháp
Thọ nhận, nên biết lượng,
Vừa đủ, không chứa để.
Đó là lược nói giới
Là gốc của các giới
Cũng là gốc giải thoát
Nương pháp này sẽ sinh
Tất cả các chánh thọ.
Tất cả trí chân thật
Nhờ đó được rốt ráo
Cho nên phải giữ gìn
Chớ để cho đoạn diệt.
Tịnh giới không đoạn diệt
Nên có các pháp lành
Nếu không, không pháp lành
Nhờ giới được xây dựng.
Nên sống với tịnh giới
Khéo giữ gìn các căn
Như người chăn trâu giỏi
Không để trâu hung hăng,
Không giữ ngựa các căn
Rong ruổi theo sáu cảnh
Đời này bị tai họa
Đời sau vào đường ác.
Thí như ngựa không điều
Làm người rơi xuống hố
Cho nên người trí sáng
Chẳng nên buông các căn
Các căn rất hung dữ
Là kẻ thù của người.

* Trang 237 *
device

Chúng sinh yêu các căn
Trở lại bị chúng hại.
Oán sâu hơn rắn độc
Cọp dữ và lửa hừng
Điều ác nhất trên đời
Mà người trí không sợ
Chỉ sợ tâm lao chao
Dẫn người vào đường ác
Vì ưa chút mật ngọt
Không thấy chỗ hiểm sâu
Voi điên mất móc bén
Khỉ, vượn vào rừng cây
Tâm lao chao như thế
Người trí phải giữ gìn.
Tâm tha hồ buông lung
Không hề được vắng lặng
Cho nên phải giữ tâm
Chóng đến nơi an tịnh.
Ăn uống biết tiết chế
Phải như cách uống thuốc
Chớ vì việc uống ăn
Mà sinh tâm tham sân,
Ăn uống dứt đói khát
Như thoa mỡ xe cũ.
Như ong hút mật hoa
Không hại hương sắc hoa
Tỳ-kheo đi khất thực
Chớ hại lòng tin tốt;
Nếu người mở tâm cho
Nên xét khả năng họ
Không lượng sức của trâu
Chở nặng bị thương tổn.
Ba thời sáng, trưa, chiều
Lần lượt tu chánh nghiệp
Đầu hôm và gần sang

* Trang 238 *
device

Cũng chớ ham ngủ nghỉ
Giữa đêm nhiếp tâm nằm
Buộc niệm trong tướng sáng
Chớ ngủ nghỉ trọn đêm
Để cuộc đời luống qua
Lửa thời gian đốt thân
Tại sao lại yên ngủ?
Các kẻ thù phiền não
Thừa dịp mà theo hại.
Tâm mờ mệt ngủ nghỉ
Chết đến, ai giác được?
Rắn độc trốn trong nhà
Chú hay đuổi ra được
Rắn đen ở trong tâm
Chú hay minh giác đuổi
Không đuổi mà ngủ mãi
Là người không hổ thẹn.
Thẹn là áo làm đẹp
Thẹn là móc giữ voi
Hổ thẹn giúp tâm định
Không thẹn mất căn lành
Hổ thẹn đời gọi hiền
Không thẹn, đồng cầm thú.
Nếu người dùng dao bén
Xẻ thân thành từng phần
Tâm chẳng nên tức giận
Miệng không nói lời ác.
Nghĩ ác và nói ác
Hại mình, không hại người.
Giữ thân tu khổ hạnh
Không gì hơn nhẫn nhục
Chỉ có hành nhẫn nhục
Sức vững bền khó phục
Cho nên chớ mang hờn
Dùng lời ác với người.

* Trang 239 *
device

Giận phá hoại chánh pháp
Phá hoại vẻ xinh đẹp
Mất hết mọi tiếng khen.
Lửa sân tự đốt tâm
Kẻ thù của công đức
Yêu công đức chớ sân.
Tại gia nhiều phiền não
Nên giận hờn không lạ
Xuất gia mà tức giận
Điều đó thật trái lý.
Như khiến trong nước lạnh
Mà có lửa phát ra
Nếu sinh tâm kiêu mạn
Phải tự tay rờ đầu
Cạo tóc, mặc y nhuộm
Tâm cầm bát khất thực
Bên lề đời tự sống
Sao lại sinh kiêu mạn?
Người tục dựa dòng họ
Kiêu mạn còn có lỗi
Huống gì người xuất gia
Chí cầu đạo giải thoát
Lại sinh tâm kiêu mạn
Là điều không thể được.
Tánh cong, thẳng trái nhau
Như sương, lửa không chung
Xuất gia tu đường ngay
Thì không nên tà vạy.
Dua nịnh và luống dối
Chỉ pháp, không lường gạt
Cầu nhiều chính là khổ
Ít muốn thì an vui.
Vì an nên ít muốn
Huống cầu chân giải thoát.
Bỏn sẻn, sợ người xin

* Trang 240 *
device

Làm hao tài sản mình
Người thích thí cũng sợ
Sợ không đủ của thí.
Cho nên phải ít muốn
Thí họ tâm không sợ
Nhờ tâm ít muốn này
Mà được đạo giải thoát
Nếu muốn cầu giải thoát
Cũng nên phải biết đủ.
Biết đủ thường vui vẻ
Vui vẻ chính là pháp.
Vật nuôi sống tuy xấu
Biết đủ nên thường an.
Người mà không biết đủ
Tuy được sinh cõi trời
Lửa khổ vẫn đốt tâm
Vì họ không biết đủ.
Giàu mà không biết đủ
Đó cũng là nghèo khổ
Dù nghèo mà biết đủ
Chính là giàu bậc nhất.
Người mà không biết đủ
Cảnh năm dục càng rộng
Càng tham cầu không chán
Đêm dài ruổi theo khổ.
Ham nhiều tâm lo lắng
Trái lại với biết đủ.
Không nhận nhiều quyến thuộc
Tâm kia thường được yên.
Vì yên ổn, vắng lặng
Người, trời đều thờ phụng
Cho nên phải xa lìa
Hai quyến thuộc thân, sơ
Như cây cối giữa đồng
Bầy chim bu đậu nhiều

* Trang 241 *
device

Chứa chúng đông cũng thế
Đêm dài chịu các khổ.
Nhiều chúng, nhiều trói buộc
Như voi già sa lầy
Nếu người siêng tinh tấn
Không lợi gì không được.
Vậy nên ngày đêm phải
Tinh tấn không biếng nhác
Khe núi, dòng nước con
Chảy mãi đá cũng mòn.
Dùi lửa không tinh tấn
Luống nhọc, không được lửa
Vậy nên phải tinh tấn
Như người khỏe dùi lửa.
Bạn lành tuy là tốt
Cũng không bằng chánh niệm
Trong tâm có chánh niệm
Các ác chẳng xâm nhập.
Cho nên người tu hành
Thường phải niệm thân mình
Nếu mất niệm đối thân
Tất cả thiện đều quên.
Thí như viên dũng tướng
Mặc giáp ngăn địch tiến.
Chánh niệm là áo giáp
Chế ngự giặc sáu trần
Chánh định giữ tâm giác
Quán thế gian sinh diệt
Cho nên người tu hành
Phải tu “Tam-ma-đề”.
Tam-muội đã vắng lặng
Dứt trừ tất cả khổ
Trí tuệ chiếu sáng ngời
Xa lìa sự nhiếp thọ
Quán bình đẳng suy nghĩ

* Trang 242 *
device

Tùy thuận theo chánh pháp
Tại gia và xuất gia
Đều do đường này ra.
Biển lớn sinh, già, chết
Trí tuệ là thuyền nan
Vô minh toàn tối tăm
Trí tuệ là đèn sáng.
Các bệnh cấu buộc ràng
Trí tuệ là thuốc hay
Phiền não là rừng gai
Trí tuệ là búa sắc.
Si ái dòng nước trôi
Trí tuệ là chiếc cầu
Cho nên phải siêng tu
Văn, tư, tu sinh tuệ.
Đầu đủ ba thứ tuệ
Tuy mù, mắt tuệ sáng.
Không tâm tuệ, dối luống
Nên chẳng phải xuất gia.
Vì vậy phải giác biết
Lìa các pháp hư dối
Đạt được vui nhiệm mầu
Nơi vắng lặng an ổn.
Tôn sùng không buông lung
Buông lung: Kẻ thù thiện
Nếu người không buông lung
Được sinh chỗ Đế Thích
Người phóng tâm buông lung
Thì đọa A-tu-la.
Nghiệp từ bi an ủi
Nên làm Ta đã làm
Các thầy nên tinh tấn
Khéo tự tu nghiệp ấy
Nơi rừng núi an nhàn
Tâm vắng lặng thêm lớn

* Trang 243 *
device

Phải cố gắng siêng năng
Chớ để sau hối hận.
Như vị thầy thuốc giỏi
Tùy bệnh mà cho toa
Người bệnh không chịu uống
Chẳng phải lỗi thầy thuốc?
Ta đã nói chân thật
Chỉ con đường bằng phẳng
Nghe mà chẳng chịu đi
Chẳng phải lỗi người chỉ.
Đối Nghĩa bốn chân đế
Có chỗ nào không rõ
Các thầy hãy nên hỏi
Chớ che giấu điều nghi!”
Thế Tôn thương xót dạy
Chúng hội đứng lặng yên.
Bấy giờ A-na-luật
Quán sát các đại chúng
Im lặng, không còn nghi
Chắp tay bạch Phật rằng:
“Trăng nóng, mặt trời lạnh,
Gió yên, tánh đất động
Bốn thứ lầm như vậy
Thế gian đều không có.
Khổ, tập, diệt, đạo đế
Chân thật chưa từng trái
Như lời Thế Tôn nói
Chúng hội đều không nghi
Nhưng Thế Tôn Niết-bàn
Mọi người đều tiếc thương
Đối với lời Phật dạy
Đều Nghĩ là rốt ráo,
Dù cho mới xuất gia
Tâm chưa hiểu sâu xa
Nghe Phật ân cần dạy

* Trang 244 *
device

Dứt bỏ hết thắc mắc.
Đã qua biển sinh tử
Vô dục, không mong cầu
Nay đều sinh buồn thương
Than Phật sao chóng diệt.”
Phật vì A-na-luật
Nói các thứ lo buồn
Lại dùng tâm thương xót
An ủi, mà bảo rằng:
“Dù cho sống một kiếp
Rồi cũng phải chia ly
Khác thể mà hòa hợp
Lý tự không thường chung
Tự lợi, lợi tha rồi
Trụ Không cầu làm gì?
Trời, người đáng được độ
Ta đã độ giải thoát.
Này đệ tử các thầy!
Xoay vần theo chánh pháp
Biết có sinh sẽ diệt
Chớ sinh lo buồn nữa
Phải tự siêng tìm cách
Đến chỗ không biệt ly.
Ta đã đốt đèn tuệ
Soi sáng cho thế gian
Thế gian không bền chắc
Các thầy phải tùy hỷ
Như gần người bệnh nặng,
Chữa trị hết khổ nạn
Đã dứt hết khổ rồi
Ngược dòng biển sinh tử.
Dứt hẳn các khổ nạn
Đó cũng nên tùy hỷ
Các thầy khéo tự giữ
Chớ sinh tâm buông lung

* Trang 245 *
device

Có sinh ắt có diệt
Nay Ta vào Niết-bàn
Từ đây hết nói năng
Đây là lời dạy cuối
Vào Sơ thiền tam-muội
Thứ lớp chín chánh thọ
Ngược thứ lớp chánh thọ
Lại nhập vào Sơ thiền
Sau đó xuất Sơ thiền
Nhập vào đệ Tứ thiền
Xuất định tâm vô ký
Liền nhập vào Niết-bàn.
Vì Phật nhập Niết-bàn
Mặt đất rung chuyển khắp
Không trung mưa lửa nóng
Không củi mà tự cháy,
Lại từ đất khởi lên
Tám phương đều cháy bừng
Cho đến các cõi trời
Cũng cháy hừng như thế.
Sấm chớp vang trời đất
Sét đánh rền núi non
Như tiếng trống chiến đấu
Giữa trời và Tu-la;
Gió bão nổi khắp nơi
Núi đổ, mưa tro bụi
Mặt trời, trăng lờ mờ
Nước trong đều dậy sóng;
Rừng Kiên cố héo úa
Hoa lá rụng tả tơi
Rồng bay cỡi mây đen
Rũ năm đầu rơi lệ;
Bốn vua và quyến thuộc
Ngậm ngùi đến cúng dường.
Trời Tịnh cư xuống trần

* Trang 246 *
device

Đứng hầu giữa hư không
Xem vô thường biến đổi
Không buồn cũng không vui
Than đời lìa Thiên sư
Mất đi sao nhanh quá!
Tám bộ, các Thiên thần
Đầy khắp trong hư không
Tung hoa để cúng dường
Tâm lo lắng không vui,
Chỉ có Ma vương vui
Tấu nhạc để tự vui.
Cõi Diêm-phù mất sáng
Như núi đổ, non lở
Voi lớn bị gãy ngà
Hai sừng trâu chúa lìa
Hư không chẳng trời trăng
Hoa sen gặp sương giá
Đời tiêu điều như thế
Khi Phật nhập Niết-bàn3.

Phẩm 27: TÁN THÁN NIẾT-BÀN
 
Khi có một vua trời
Ngồi cung ngàn ngỗng trắng
Ở trên, giữa hư không
Thấy Phật nhập Niết-bàn
Khắp vì cả chư Thiên
Rộng nói kệ vô thường:
“Tất cả tính vô thường
Chóng sinh cũng chóng diệt
Sinh ra thì đã khổ
Chỉ vắng lặng là vui
_______________
3. Dịch đảo câu.

* Trang 247 *
device

Củi hành nghiệp chất chứa
Lửa trí tự cháy bừng
Khói tiếng khen xông trời
Mưa xuống thì tiêu diệt
Giống như kiếp hỏa khởi
Thủy tai làm tắt ngấm.”
Lại có Trời Phạm tiên
Như tiên Nghĩa bậc nhất
Hưởng vui mầu cõi trời
Mà không đắm báo trời
Than Như Lai Niết-bàn
Tâm định, miệng nói rằng:
“Quán sát pháp ba đời
Rồi cũng đều tiêu vong
Thông đạt Nghĩa đệ nhất
Thế gian không ai sánh
Người có tuệ tri kiến
Cứu giúp các chúng sinh
Thảy đều bị vô thường
Người nào được còn mãi.
Than ôi! Cả thế gian
Chúng sinh theo đường tà.”
Bấy giờ A-na-luật
Thế gian không Luật-đà
Luật-đà đã tịch diệt
Luật-đà không sinh tử Than:
“Như Lai Niết-bàn
Chúng sinh đều mờ tối
Các hành nhóm vô thường
Giống như mây nhẹ nổi
Chóng tụ mà chóng tan
Người trí không giữ gìn.
Chày kim cang vô thường
Hoại núi tiên Tịch mặc
Than ôi! Đời lăng xăng

* Trang 248 *
device

Phá hoại không bền chắc.
Sư tử dữ vô thường
Hại Tiên lớn voi mạnh
Cờ Kim cang Như Lai
Còn bị vô thường hoại
Huống gì chưa lìa dục
Mà chẳng sinh sợ hãi.
Sáu hạt giống một mầm
Một trận mưa rưới xuống
Bốn rễ sâu thấm xuống
Hai dĩa năm thứ trái
Ba đời đồng một thể
Cây đại thọ phiền não
Voi lớn Mâu-ni nhổ
Mà không khỏi vô thường!
Giống như chim Sức khí
Ưa nước, nuốt rắn độc
Bỗng gặp trời nắng lâu
Mất nước mà thân chết
Ngựa hay giỏi chiến đấu
Hết trận lại thuần thục,
Lửa hừng nhờ củi cháy
Hết củi thì tự tắt
Như Lai cũng như vậy
Xong việc, nhập Niết-bàn.
Giống như ánh trăng sáng
Xua bóng tối cho đời
Chúng sinh đều được soi
Và lại che Tu-di,
Ánh tuệ của Đức Phật
Soi sáng, cũng như thế
Xua bóng tối cho đời
Mà ẩn núi Niết-bàn.
Khen ngợi ánh sáng mầu
Soi khắp cả thế gian

* Trang 249 *
device

Xua tan mọi bóng tối
Không dừng, như dòng nước.
Khéo điều bảy ngựa giỏi
Binh chúng theo cùng đi
Rực rỡ vua mặt trời
Còn vào nơi lặn mất.
Năm chướng che trời, trăng
Chúng sinh mất ánh sáng
Thờ lửa, tế trời xong
Chỉ còn là khói đen
Ánh sáng Phật đã khuất
Đời mất sáng cũng vậy.
Dứt ân ái, hy vọng
Đáp ứng chúng sinh muốn
Đã thỏa chúng sinh muốn
Việc xong, dứt ước mong
Lìa phiền não buộc thân
Mà đắc đạo chân thật.
Lìa những sự rối loạn
Nhập vào nơi vắng lặng
Thần thông bay lên không
Xả bỏ mọi nỗi khổ
Bóng tối của ngu si
Ánh trí tuệ xua tan.
Những bụi bặm phiền não
Nước trí tuệ rửa sạch
Không còn dính lại nữa
Ở mãi nơi vắng lặng
Dứt tất cả sinh tử
Tất cả đều tôn kính,
Khiến mọi người ưa pháp
Đem tuệ cho mọi loài
Đều an ủi tất cả
Các công đức đến khắp
Tiếng tăm truyền nơi nơi

* Trang 250 *
device

Thêm sáng đến ngày nay.
Những người có đức dày
Với lòng thương của họ
Được bốn lợi chẳng mừng
Găïp bốn suy chẳng sợ
Khéo nhiếp giữ các căn
Các căn đều thông sáng
Lắng tâm quán bình đẳng
Không nhiễm trước sáu cảnh
Được điều chưa từng có
Được điều người không được.
Dùng các nước xuất yếu
Giúp người khát no lòng
Cho thứ người không cho
Không hề mong báo đền.
Thân nhiệm mầu vắng lặng
Biết hết tất cả niệm
Tốt xấu chẳng nghiêng động
Năng lực thắng mọi oán
Thuốc hay trị mọi bệnh
Mà bị vô thường hoại.
Tất cả loài chúng sinh
Ưa pháp mỗi khác nhau
Đáp ứng mọi mong cầu
Đầy đủ mọi ước nguyện.
Đại thí chủ Thánh tuệ
Hễ đi không trở lại!
Như lửa bừng thế gian
Củi hết không còn cháy.
Tám pháp không làm nhiễm
Điều năm thứ khó điều
Dùng ba để thấy ba
Lìa ba mà thành ba
Cất một để được một
Vượt bảy mà ngủ dài

* Trang 251 *
device

Đạo rốt ráo vắng lặng
Hiền thánh đều tôn kính.
Đã dứt chướng phiền não
Người tôn thờ đã độ
Kẻ đói khát thiếu thốn
Được uống nước cam lộ,
Mặc áo giáp nhẫn nhục
Hàng phục mọi tức giận,
Thắng pháp Nghĩa nhiệm mầu
Làm vui lòng mọi người
Kẻ tu thiện trên đời
Gieo trồng hạt giống Thánh
Người tu chánh, bất chánh
Đều độ không bỏ sĩt,
Quay pháp luân vô thượng
Đời vui mừng lãnh thọ,
Vốn gieo nhân ưa pháp
Thảy đều được giải thoát.
Đi khắp trong nhân gian
Độ những người chưa độ
Người chưa thấy chân thật
Giúp họ thấy chân thật.
Người tu theo ngoại đạo
Trao họ pháp sâu xa
Nói sinh tử vô thường:
Không chủ, không gì vui.
Dựng cờ “Được ngợi khen”
Phá hoại các ma quân
Tiến, lùi không vui buồn,
Chúng sinh than Niết-bàn
Hóa độ người chưa độ
Giải thoát người chưa thoát
Kẻ chưa tịch được tịch
Người chưa giác được giác
Đạo Mâu-ni vắng lặng

* Trang 252 *
device

Để nhiếp hóa chúng sinh.
Chúng sinh trái đạo Thánh
Làm những việc bất chánh
Giống như đại kiếp hết
Người trì pháp ngủ ngon.
Mây dày, sấm nổ vang
Mưa cam lộ phá rừng
Voi trẻ diệt gai góc
Vì người đem lợi lộc,
Mây lìa voi già suy
Điều đó không kham nổi
Phá kiến, để thành kiến
Ở đời mà độ đời,
Đã phá các tà luận
Chứng được đạo Tự tại
Nay nhập vào vắng lặng
Đời không người cứu giúp.
Binh chúng lớn Ma vương
Giương oai rung đất trời
Muốn hại Đấng Mâu-ni
Nhưng không thể nghiêng động.
Thế sao bỗng một sáng
Bị ma vô thường hại
Trời người nhóm họp đông
Đầy khắp giữa hư không
Sợ sinh tử vô cùng
Sinh tâm rất lo sợ.
Thế gian dù xa gần
Mắt trời đều soi thấy
Nghiệp báo thấy rõ ràng
Như nhìn hình trong gương,
Tai trời đều thông đạt
Dù ở xa cũng nghe,
Lên trời dạy các trời
Xuống trần độ kẻ thế

* Trang 253 *
device

Phân thân mà hợp thể
Lội nước mà không chìm,
Nghĩ nhớ đời quá khứ
Trọn kiếp cũng không quên.
Các căn theo cảnh trần
Mỗi người Nghĩ một khác
Biết trí tha tâm thông
Tất cả đều biết hết,
Trí nhiệm mầu thần thông
Quán tất cả bình đẳng
Dứt hết mọi lậu hoặc
Tất cả việc đã xong
Trí bỏ cõi Hữu dư
Bặt trí mà Niết-bàn.
Chúng sinh tâm ngang bướng
Thì được sự mềm mỏng
Các chúng sinh căn thuần
Thì được tuệ sáng suốt
Dứt vô lượng ác nghiệp
Đều được con đường thông
Một sớm bỗng Niết-bàn
Còn ai bày đức ấy?
Đời không người cứu giúp
Khí dứt, hy vọng tan
Ai đem nước mát mẻ
Vẩy lên cho sống lại!
Làm xong việc mình rồi
Đại Bi đã Niết-bàn
Lưới ngu si thế gian
Rồi ai sẽ xé tan?
Dòng sinh tử chảy mau
Ai sẽ gọi quay lại?
Chúng sinh tâm si mê
Ai nói đạo vắng lặng?
Ai chỉ chỗ an ổn?

* Trang 254 *
device

Ai bày Nghĩa chân thật
Chúng sinh chịu khổ lớn
Ai làm cha lành cứu?
Như tụng nhiều đều quên
Lạ đất, ngựa mất uy
Làm vua, mất đất nước
Đời không Phật cũng vậy!
Học rộng, không nói được
Thầy thuốc mà không tuệ
Làm vua mất uy thế
Mất Phật, đời mất sáng.
Ngựa hay mất người khiển
Đi thuyền mất người lái
Ba quân mất tướng giỏi
Người buôn mất dẫn đường
Bệnh mất thầy thuốc giỏi
Thánh vương mất bảy báu
Các sao mất ánh sáng
Thích thọ lại mất mạng
Thế gian cũng như thế
Phật diệt mất Đạo sư.”
Các La-hán cũng vậy
Việc phải làm đã làm
Các lậu đều đã hết
Tri ân, báo ân Phật
Buồn thương nói triền miên
Khen đức, bày khổ đời.
Những người chưa lìa dục
Buồn khóc không kềm được
Người các lậu đã hết
Chỉ than khổ sinh diệt.
Khi ấy các Lực sĩ
Nghe Phật đã Niết-bàn
Liền buồn khóc náo động
Như ngỗng gặp chim ưng

* Trang 255 *
device

Đều đến chỗ song thọ
Thấy Như Lai Niết-bàn
Vẻ giác ngộ không còn
Đấm ngực mà kêu trời
Như sư tử bắt nghé
Đàn bò kêu náo động.
Trong đó, có lực sĩ
Tâm đã ưa chánh pháp,
Nhìn kỹ Đấng Pháp Vương
Đã đi vào vắng lặng Rằng:
“Chúng sinh đều mê
Phật mở bày giác ngộ
Nay Ngài vào vắng lặng
Vào Niết-bàn rốt ráo
Vì người dựng cờ pháp
Mà nay bỗng ngã đổ
Mặt trời tuệ Như Lai
Đại giác chiếu sáng rực
Tinh tấn là lửa nóng
Trí tuệ chiếu ánh sáng
Xua tan mọi bóng tối
Thế sao lại tối mãi?
Một tuệ chiếu ba đời
Làm mắt cho chúng sinh
Nay bỗng nhiên mù lòa
Cả đời không biết lối?
Dòng sông sinh tử chảy
Sóng lớn tham, sân, si
Cầu pháp bỗng sập đổ
Chúng sinh mãi đắm chìm.”
Các chúng kia Lực sĩ
Người buồn khóc kêu la
Người đau thầm không tiếng
Hoặc ngã lăn xuống đất
Hoặc im lặng suy nghĩ

* Trang 256 *
device

Hoặc buồn bã than dài
Sửa soạn xe bằng vàng
Hương hoa đồ trang sức
An trí thân Như Lai
Phía trên che trướng báu
Có cờ phướn, lọng hoa
Đủ các thứ kỹ nhạc
Các nam, nữ Lực sĩ
Đi theo đó cúng dường.
Các trời rải hương hoa
Hư không trổi nhạc trời
Người, trời đều buồn than
Cùng một lời thương tiếc.
Vào thành thấy gái, trai
Già, trẻ cúng dường xong
Ra khỏi cửa Long tượng
Vượt sông Hi-liên-thiền
Đến chỗ tháp diệt độ
Của các Phật quá khứ
Chất Ngưu đầu chiên-đàn
Và các loại gỗ thơm
Đặt thân Phật lên đó
Rưới các loại dầu thơm
Rồi châm lửa ở dưới
Đốt ba lần không cháy.
Khi đó Đại Ca-diếp
Trước ở thành Vương xá
Biết Phật sắp Niết-bàn
Quyến thuộc từ đó đến
Tịnh tâm phát nguyện mầu
Muốn thấy thân Thế Tôn.
Vì nguyện họ chân thành
Nên lửa tắt không cháy
Ca-diếp cùng quyến thuộc
Đến buồn than chiêm ngưỡng

* Trang 257 *
device

Kính lễ hai chân Phật
Sau đó lửa mới cháy.
Trong dứt lửa phiền não
Ngoài lửa không đốt được
Tuy đốt da thịt ngoài
Nhưng còn xương kim cang
Dầu thơm cháy hết xong
Gom xương vào bình vàng
Như pháp giới bất tận
Xương cũng bất tận thế.
Quả trí tuệ kim cang
Khó động như Tu-di
Chim cánh vàng sức mạnh
Không thể nào nghiêng dời
Nằm ở trong bình báu
Để cho đời lưu truyền.
Lạ thay! Thế gian lực
Chuyển được pháp vắng lặng
Đức danh lưu truyền rộng
Đầy khắp cả mười phương
Theo đời, vắng lặng mãi
Chỉ còn lại xương cốt
Ánh sáng soi đất trời
Chúng sinh đều được chiếu
Bỗng ánh sáng tắt mất
Chỉ còn xương trong bình.
Trí bén như kim cang
Phá núi khổ phiền não
Các khổ nhóm trong thân
Chí kim cang giúp an
Chúng sinh chịu khổ lớn
Đều giúp họ dứt bỏ.
Thân kim cang như thế
Nay bị lửa đốt cháy
Các chúng Lực sĩ kia

* Trang 258 *
device

Mạnh mẽ đời không hai
Chiết phục khổ kẻ thù
Cứu giúp khổ, quy y
Thân ái gặp khổ nạn
Chí vững không lo buồn
Nay thấy Như Lai diệt
Đều buồn bã, than khóc.
Tráng sĩ sức khỏe mạnh
Kiêu mạn cao ngút trời
Buồn khổ ép ngặt tâm
Vào thành như đầm rộng
Mang xá-lợi vào thành
Khắp đường phố cúng dường
Đặt trên lầu góc cao
Người, trời đều kính thờ.

Phẩm 28: PHÂN CHIA XÁ-LỢI
 
Các chúng Lực sĩ kia
Kính thờ xá-lợi Phật
Dùng hương hoa tốt đẹp
Cúng dường Đấng Vô Thượng.
Bấy giờ vua bảy nước
Biết Phật đã diệt độ
Sai sứ đến Lực sĩ
Xin chia xá-lợi Phật.
Các chúng Lực sĩ kia
Vì kính trọng thân Phật
Và cậy sức mạnh mình
Nên khởi tâm kiêu mạn
Thà bỏ thân mạng mình
Không bỏ xá-lợi Phật.
Sứ trở về tay không
Bảy vua rất giận dữ

* Trang 259 *
device

Dấy binh như mây mưa
Kéo đến thành Cưu-di.
Nhân dân ra thành thấy
Đều sợ hãi trở về
Bảo các chúng Lực sĩ:
“Binh mã các nước đến
Binh voi, ngựa, xe, bộ
Bao vây thành Cưu-di
Các khu vườn ngoài thành
Ao, suối, cây, hoa quả
Bị binh chúng dày xéo
Thảy đều bị tàn phá.”
Lực sĩ lên thành thấy
Cơ nghiệp bị phá hoại
Liền chuẩn bị chiến cụ
Để đối phó kẻ địch
Cung, nỏ và xe, đá
Đuốc bay… đều đưa đến.
Bảy vua, vây quanh thành
Binh chúng đều tinh nhuệ
Uy vũ rất rõ ràng
Trông như bảy luồng sáng
Chuông, trống như sấm nổ
Dũng khí tợ mây mù.
Lực sĩ rất giận dữ
Mở cửa thành đón giặc
Các nam nữ trưởng túc
Tâm kính tin Phật pháp
Kinh sợ phát nguyện thành:
“Kính phục họ, không hại
Thân thiện, khuyên can nhau
Chẳng muốn họ đánh nhau.”
Dũng sĩ mặc áo giáp
Huơ giáo, múa kiếm dài
Chuông trống rền bãi chiến.

* Trang 260 *
device

Cầm giáo chưa giao tranh
Có một Bà-la-môn
Tên là Độc-lâu-na
Học rộng, trí lược giỏi
Khiêm nhường, mọi người kính
Tâm Từ, ưa chánh pháp.
Bảo các vua ấy rằng:
“Xem hình thế thành kia
Một người đủ đương đầu
Huống là cùng hợp lực
Mà không hàng phục họ.
Dù có phá diệt họ
Cũng có gì tốt đâu
Đao bén nhọn đã giao
Thế không lưỡng toàn được
Đây, đó đều tổn thất
Cả hai đều thương vong.
Chiến đấu nhiều mưu toan
Tình thế khó lường được
Có khi mạnh thắng yếu
Có khi yếu thắng mạnh
Người khỏe khinh rắn độc
Ngờ đâu thân thương tổn.
Có người tính yếu mềm
Được trai gái động viên
Vào trận thành chiến sĩ
Như lửa gặp được dầu
Chớ xem thường giặc yếu
Cho họ không kham nỗi
Sức mình không đủ cậy
Không bằng sức mạnh pháp.
Thuở xưa, có vị vua
Tên Ca-lan-đà-ma
Ngồi thẳng khởi tâm Từ
Hàng phục được kẻ thù

* Trang 261 *
device

Tuy vua bốn thiên hạ
Tiếng tăm, tài lợi nhiều
Rốt cuộc cũng tiêu tan
Như trâu no trở về.
Nên dùng pháp, dùng nghĩa
Nên tìm cách giải hòa
Đánh, thắng tăng thêm oán
Hòa, giải rồi không họa
Nay gây hận nuốt oán4
Việc này rất không nên
Vì muốn cúng dường Phật
Nên nhẫn nhục theo Phật.”
Như thế Bà-la-môn
Quyết định nói lời thật
Dùng Nghĩa lý hòa hợp
Mà nói lời vô úy.
Bấy giờ các vua kia
Bảo Bà-la-môn rằng:
“Nay ông khéo đúng lúc
Nghĩa trí tuệ nhiêu ích
Thân mật chí thành nói
Thuận pháp, nương lý mạnh.
Lắng nghe lời ta nói
Là pháp của nhà vua
Hoặc vì tranh năm dục
Giận ghét tranh sức mạnh
Hoặc nhân việc vui chơi
Không cần phải chiến tranh
Nay chúng ta vì pháp
Chiến tranh có gì lạ!
Kiêu mạn nên trái Nghĩa
Người đời còn phục tùng
Huống Phật lìa kiêu mạn
__________
4. Dịch thoát ý.

* Trang 262 *
device

Dạy người phải khiêm nhường
Nhưng chúng ta không thể
Quên thân để cúng dường!
Thuở xưa, các vua như
Bật-sắc, Nhữu-nan-đà
Vì một cô gái đẹp
Chiến tranh tàn diệt nhau
Huống nay vì cúng dường
Thầy thanh tịch lìa dục
Mà thương thân tiếc mạng
Chẳng dùng sức đấu tranh!
Tiên vương Kiều-la-bà
Đánh với Bát-na-bà
Đánh phá nhau nhiều trận
Chính vì tham lợi lộc
Huống là thầy “Vô tham”
Mà lại tham sự sống!
Con vị tiên La-ma
Tức giận vua Thiên Tý
Phá nước, giết nhân dân
Chính là do tức giận
Huống là thầy “không sân”
Mà tham tiếc thân mạng!
Vì Tư-đà nên khiến
Ma-la giết quỷ thần
Huống thầy “không nhiếp thọ”
Không hy sinh vì đó!
A-lợi và Bà-câu
Hai quỷ thường kết oán
Chính vì sự ngu si
Nên giết hại chúng sinh
Huống là thầy “Trí tuệ”
Mà lại tiếc thân mạng!
Rất nhiều kẻ như thế
Mất mình vì vô nghĩa

* Trang 263 *
device

Huống nay Thầy trời người
Khắp thế gian tôn kính
Mà kể thân, tiếc mạng
Không siêng cầu cúng dường!
Nếu ông muốn dứt tranh
Thì vì ta vào thành
Khuyên họ nên cởi mở
Cho nguyện ta được thỏa.
Do lời pháp của ông
Giúp tâm ta tạm yên
Như loài rắn cực độc
Nhờ sức chú tạm dừng.”
Khi ấy Bà-la-môn
Nhận lời các vua ấy
Vào thành gặp Lực sĩ
Thăm hỏi, tỏ lòng thành:
“Các vua ở ngoài kia
Mang binh khí sáng ngời
Thân mặc áo giáp trận
Tinh nhuệ như ánh trời
Dũng khí như sư tử
Đều muốn phá thành này
Nhưng họ vì pháp nên
Sợ làm đều phi pháp.
Nên sai tôi đến gặp
Chỉ muốn được giải bày
Tôi không vì đất này
Cũng chẳng cầu tiền của
Không có tâm kiêu mạn
Cũng chẳng lòng oán hờn
Chỉ vì kính đại tiên
Mà đến nơi này vậy.
Xin ngài biết ý tôi
Chống trái nhau làm gì?
Kính kia, đây như nhau

* Trang 264 *
device

Nên làm anh em pháp.
Di linh của Thế Tôn
Nhất tâm cùng cúng dường
Tâm sẻn tiếc tiền tài
Đó thật chẳng phải đạo.
Tội sẻn pháp rất nặng
Khắp thế gian xem thường
Người quyết định không thông
Cần phải chờ pháp khách.
Không có “pháp Sát-lợi”
Đóng cửa mà tự phòng
Dạy pháp lành, dữ này
Bọn họ đều như vậy.
Nay tôi đã trộm Nghĩ
Cũng dạy họ thành thật
Chớ kia, đây trái nhau
Lý nên cùng hòa hợp.
Thế Tôn còn tại thế
Thường dạy pháp nhẫn nhục
Không thuận theo Thánh giáo
Làm sao gọi cúng dường?
Người đời tranh năm dục
Tài lợi và ruộng nhà
Nếu người vì chánh pháp
Nên thuận theo thánh lý
Vì pháp mà kết oán
Thì lý này trái nhau,
Phật vắng lặng từ bi
Thường muốn an tất cả
Cúng dường Đấng Đại Bi
Mà gây điều hại lớn.
Nên chia đều xá-lợi
Mọi người được cúng dường
Thuận pháp, danh tiếng vang
Nghĩa thông, lý được nói.

* Trang 265 *
device

Nếu họ làm phi pháp
Nên dùng pháp giảng hòa
Đó gọi là ưa pháp
Giúp pháp tồn tại lâu.
Phật dạy tất cả thí
Pháp thí là trên hết
Người thường hành tài thí
Hành pháp thí mới khó.”
Lực sĩ nghe lời đó
Lòng hổ thẹn nhìn nhau
Đáp lời Phạm chí rằng:
“Cám ân ông ý tốt
Lời thân thiện thuận pháp
Nói lý hòa chánh chân
Phạm chí cần phải nên
Thuận theo công đức mình
Khéo hòa giải kia đây
Chỉ dạy ta yếu đạo
Như chế ngựa đường mê
Trở về với đường chánh.
Nay phải dùng hòa lý
Theo như ông đã nói
Lời thành thật chẳng đoái
Sau sẽ sinh ăn năn.”
Liền mở bình xá-lợi
Chia đều làm tám phần
Tự cúng dường một phần
Bảy phần trao Phạm chí.
Bảy vua được xá-lợi
Vui mừng, cung kính nhận
Thỉnh về đất nước mình
Xây tháp để cúng dường.
Phạm chí xin Lực sĩ
Chia cho bình xá-lợi
Rồi theo bảy vua kia

* Trang 266 *
device

Xin chia phần thứ tám
Đem về xây ngôi tháp
Tên là tháp Kim bình.
Người dân Câu-di-na
Gom lại phần tro than
Mà xây một ngôi tháp
Tên là tháp Khôi thán,
Tám vua xây tám tháp
Kim bình và Khôi thán
Như thế Diêm-phù-đề
Đầu tiên có mười tháp.
Các gái trai cả nước
Đều mang lọng hoa báu
Cúng dường tháp nước mình
Trang nghiêm như núi vàng
Các thứ kỹ nhạc trổi
Ngày đêm ca ngợi mãi.
Giờ năm trăm La-hán
Mất hẳn bóng mát Thầy
Bỗng nhiên không chỗ nương
Về núi Kỳ-xà-quật
Hợp chúng hang Đế thích
Để kiết tập Kinh tạng
Tất cả đều suy tôn
Trưởng lão A-nan-đà:
“Giáo pháp do Phật nói
Lớn nhỏ ngài đều nghe
Tỳ-đề-kê Mâu-ni
Hãy nói đại chúng nghe.”
A-nan giữa đại chúng
Bước lên tòa Sư tử
Nói lại lời Như Lai
Rằng “Tôi nghe như vầy”
Cả chúng đều rơi lệ.

* Trang 267 *
device

Từ ngữ tôi nghe này
Đúng pháp, đúng thời gian
Đúng chỗ, đúng người nghe
Nói ra liền ghi chép
Rốt ráo thành Kinh tạng
Siêng tìm cách tu học
Đều đã được Niết-bàn
Nay được và sẽ được.
Niết-bàn cũng như thế
Vua Vô Ưu ra đời
Làm cho kẻ mạnh buồn
Người yếu thì hết lo
Như cây hoa Vô ưu
Đứng đầu ở Diêm-phù
Tâm thường không lo lắng
Kính tin sâu chánh pháp
Nên hiệu vua Vô Ưu
Con cháu vua Khổng Tước.
Sinh ra từ chánh tánh
Cứu giúp khắp chúng sinh
Xây dựng các tháp miếu
Tên trước Cường Vô Ưu
Nay đổi Pháp Vô Ưu
Mở tháp bảy vua kia
Lấy toàn bộ xá-lợi
Phân bố một ngày xây
Tám muôn bốn ngàn tháp.
Chỉ có tháp thứ tám
Ở tại thôn La-ma
Có Long thần giữ gìn
Vua không thể lấy được
Tuy không được xá-lợi
Biết Phật có di hài
Được Thần long cúng dường
Càng thêm tâm kính tin.

* Trang 268 *
device

Tuy vua thống lĩnh nước
Mà chứng được Sơ quả
Khiến cho khắp thiên hạ
Cúng dường tháp Như Lai
Quá khứ, vị lai, nay
Thảy đều được giải thoát.
Như lai hiện ở đời
Niết-bàn và xá-lợi
Người cung kính cúng dường
Phước kia không khác nhau,
Tuệ sáng, tâm tăng thượng
Quán công đức Như Lai
Giữ đạo cúng dường Phật
Phước đó cũng đều tốt.
Phật được pháp cao quý
Đáng nhận mọi cúng dường
Đã đến cõi bất tử
Người tin cũng được an
Cho nên các trời, người
Đều nên thường cúng dường.
Đại từ bi bậc nhất
Thông đạt Nghĩa đệ nhất
Độ tất cả chúng sinh
Ai nghe chẳng cảm động
Khổ sinh, già, bệnh, chết
Khổ thế gian không hơn
Khổ chết, là lớn nhất
Là điều các trời sợ
Lìa hẳn hai thứ khổ
Vì sao không cúng dường?
Không thọ vui thân sau
Đứng đầu vui thế gian
Thêm lớn nỗi khổ sinh
Khổ thế gian nào bằng!
Phật lìa được khổ sinh

* Trang 269 *
device

Không thọ vui thân sau
Rộng bày rõ cho đời
Vì sao không cúng dường?
Khen các Đấng Mâu-ni
Việc đã làm trước sau
Không tự bày thấy hết
Cũng không cầu danh lợi
Thuận theo lời trong kinh
Để cứu giúp cõi thế.
 

* Trang 270 *
device

 
Đại Tập XIV, Bộ Bản Duyên V (Số 192 - 198)