LOGO VNBET
PHẬT SỞ HÀNH TÁN

QUYỂN III
 
Phẩm 10: VUA BÌNH-SA ĐẾN VIẾNG THÁI TỬ
 
Ngài từ giã Quốc sư
Và Đại thần chánh pháp
Vượt qua sóng sông Hằng
Thẳng đường đến Linh thứu
Giấu căn trong năm núi
Tài năng dừng trong non
Rừng hoa trái sum suê
Suối chảy chia nóng, lạnh
Vào thành Ngũ sơn kia
Vắng lặng như lên trời.
Người dân thấy Thái tử
Dung mạo quá sáng ngời
Tuổi trẻ, thân rực rỡ
Tướng trượng phu ai bì
Đều cho là khác lạ
Như thấy cờ tự tại.
Người đi thì dừng chân
Bước mau theo sau Ngài
Người đi trước quay nhìn
Chiêm ngưỡng Ngài không chán.
Các tướng tốt trên thân
Ai nhìn mắt không rời
Cung kính đến chiêm ngưỡng
Chắp tay lễ, thăm hỏi
Thảy đều rất vui mừng

* Trang 92 *
device

Tùy nghi mà cúng dường
Chiêm ngưỡng tôn nhan Ngài
Hổ thẹn các hình tướng
Có oai nghi thô tháo
Vắng lặng lại cung kính
Tâm kết hận mở rồi
Tâm từ hòa lớn thêm
Nghiệp chung riêng nam nữ
Đều tiêu tan tất cả.
Kính tướng, tôn trọng đức
Ai thấy đều quên về
Sợi lông trắng giữa mày
Đôi mắt xanh rộng dài
Toàn thân sắc vàng chói
Tay có màng thanh tịnh
Tuy thân là xuất gia
Nhưng có tướng Thánh vương.
Gái, trai thành Vương xá
Lớn nhỏ đều không yên:
Người này còn xuất gia
Sao chúng ta vui tục?
Khi ấy, vua Bình-sa
Ở trên cao nhìn xuống
Thấy các nam nữ ấy
Vẻ bàng hoàng khác thường
Cho gọi một người đến
Hỏi vì lý do gì.
Kính quỳ dưới lầu vua
Nói rõ việc thấy nghe
Xưa nghe dòng họ Thích
Người tốt đẹp khác thường
Trí tuệ hơn người đời
Làm vua cả tám phương
Nay xuất gia ở đây
Mọi người đều đón rước.

* Trang 93 *
device

Vua nghe, vui lẫn sợ
Thân đây, tâm đi rồi
Truyền sứ giả mau đến
Dò xét mọi hành động
Vâng lời, thầm theo chân
Xem xét mọi việc làm.
Vắng lặng, mắt nhìn thẳng
Khoan thai bày dung nghi
Vào làng hành khất thực
Đi trước các khất sĩ
Giữ thân tâm không loạn
Tốt, xấu đều an vui
Ngon, dở đều thọ nhận
Ôm bát trở về rừng
Ăn xong, súc nước trong
Ưa vắng, sống trên núi.
Rừng xanh, riêng non cao
Hoa đỏ trồng xen kẽ
Các chim như công thảy
Bay liệng kêu hót vang
Pháp phục mầu tươi sáng
Như nhật chiếu Phù tang
Ai thấy chẳng muốn rời
Thứ lớp đã trình tâu.
Vua nghe tâm thêm kính
Cho sửa soạn xa giá
Đội mũ, mặc áo đẹp
Sư tử đầu đàn bước
Chọn các bậc tôn túc
Người vắng lặng sáng suốt
Dẫn theo trăm ngàn người
Lướt mây lên Bạch sơn
Thấy Bồ-tát uy nghiêm
Các căn đều vắng lặng
Ngồi thẳng trong hang núi

* Trang 94 *
device

Như trăng giữa trời trong
Sắc mầu nhiệm trang nghiêm
Như hóa thân của pháp,
Phát tâm thành cung kính
Dần bước nhẹ đến gần
Giống như trời Đế Thích
Đến Ma-hê-thủ-la
Khép nép giữ lễ nghi
Kính hỏi Ngài an vui.
Bồ-tát xem xét kỹ
Thuận theo mà trả lời.
Khi vua nhọc hỏi rồi
Ngồi trên tảng đá sạch
Mắt nhìn ngắm dung nghi
Sắc mặt vui, tâm hỷ
Kính nghe dòng vọng tộc
Đức thạnh nối truyền nhau
Điều từ lâu chất chứa
Nay muốn giải thắc mắc:
“Nguồn sáng của mặt trời
Phước thạnh đã muôn đời
Khiến đức cả nối nhau
Ngày nay được mở rộng
Đấng hiền minh tuổi trẻ
Vì sao đi xuất gia?
Ngài là Thánh hơn đời
Khất thực, bỏ vinh hoa
Thân quý đáng xoa hương
Vì sao mặc ca-sa
Tay nên nắm thiên hạ
Lại cầm thức ăn dở
Nếu không thay vua cha
Mà trị vì đất nước
Nay ta chia nửa nước
Hầu mong Ngài ở lại

* Trang 95 *
device

Tôi khỏi mang tiếng đuổi
Thời gian sẽ thuận theo
Xin nể lời tôi thật
Muốn được làm bạn tốt.
Hay cậy dòng vọng tộc
Có tài đức, dung mạo
Mà không muốn hạ mình
Cúi mình thọ ân người?
Sẽ cấp ban dũng sĩ
Gươm giáo và quân lính
Để tự lực thâu tóm
Thiên hạ ai không tôn
Người sáng biết đúng lúc
Pháp tài năm dục tăng
Nếu không giữ ba lợi
Rốt cuộc chỉ luống nhọc
Chuộng pháp, bỏ tài sắc
Tài được mọi người thích
Giàu tài bỏ pháp dục
Đó là giữ tài vật
Nghèo nàn mà quên pháp
Năm dục ai vui được?
Cho nên đủ ba việc
Đức truyền, đạo tuyên dương
Pháp tài năm dục đủ
Gọi trượng phu ở đời
Không khiến thân viên tướng
Luống nhọc và vô công.
Vua chuyển luân Man-đà
Thống lãnh bốn thiên hạ
Đế Thích chia nửa tòa
Sức không làm vua trời
Nay Ngài tay thon dài
Chân đi khắp trời người
Ta không cậy sức vua

* Trang 96 *
device

Mà muốn giữ Ngài lại.
Thấy Ngài đổi hình tướng
Thích mặc y xuất gia
Đã kính trọng đức ấy
Còn thương tiếc lẫn người.
Nay Ngài hành khất thực
Tôi xin dâng đất nước
Tuổi trẻ thọ năm dục
Trung niên tập dụng tài
Tuổi già thuần các căn
Đó là thuận theo pháp.
Tuổi trẻ giữ pháp tài
Sẽ bị dục phá hoại
Già thì khí lực yếu
Thuận theo cầu vắng lặng
Tuổi già thẹn tài dục
Hành pháp mọi người tôn
Tuổi trẻ tâm lao chao
Ruổi theo cảnh năm dục
Bị mọi thứ ràng buộc
Tình cảm giao kết sâu
Về già ít bận bịu
Người thuận pháp y cứ
Năm dục đều dứt bỏ
Tâm ưa pháp thêm lớn.
Lại, chuộng pháp vương giả
Đại hội thờ Thiên thần
Nên cỡi lưng Rồng thần
Thọ vui bay lên trời
Các vua Thánh tài giỏi
Nghiêm thân anh lạc báu
Cúng tế lập đại hội
Cuối cùng được phước trời.”
Như thế vua Bình-sa
Dùng mọi cách thuyết phục

* Trang 97 *
device

Chí Thái tử vững chắc
Không động như Tu-di.

Phẩm 11: THÁI TỬ ĐÁP LỜI VUA BÌNH-SA
 
Vua Bình-sa thuận theo
An ủi mời thỉnh rồi
Thái tử kính đáp tạ
Cảm sâu lời vua nói
Khéo hợp pháp thế gian
Lời nói không trái lý:
“Dòng vọng tộc Ha-lê
Là tri thức mọi người
Nghĩa mang, tâm vướng bận
Pháp nên nói như thế.
Các phàm phu thế gian
Không thể hành nhân nghĩa
Đức mỏng nương tình gần
Đâu được gọi việc tốt.
Noi theo dòng cao quý
Sùng lễ tu kính nhường
Đối với sự khổ nạn
Cứu giúp không lìa bỏ
Cho nên là tướng chân
Thiện tri thức thế gian
Bạn lành cứu giúp tài
Nên gọi kho vững chắc
Giữ gìn tiếc lợi mình
Đó sẽ mau quên mất.
Báu vô thượng của nước
Bố thí làm việc phước
Và thí thiện tri thức
Tuy tán sau không hối
Đã biết Ngài tình sâu

* Trang 98 *
device

Không nói lời trái ngược
Những điều ngày nay thấy
Tâm thành nói nhau biết.
Sợ sinh, già, bệnh, chết
Muốn tìm chân giải thoát
Bỏ cha, lìa ái ân
Há về hưởng năm dục
Không sợ rắn cực độc
Giá rét với lửa hồng
Chỉ sợ cảnh năm dục
Trôi lăn nhọc tâm tôi.
Giặc vô thường năm dục
Cướp báu lành của người
Luống dối trá chẳng thật
Giống như người huyễn hóa
Thoáng trông khiến người mê
Huống thường sống gần gũi.
Năm dục là ngại lớn
Ngăn che pháp vắng lặng
Vui trời còn không thể
Huống dục ở nhân gian.
Năm dục sinh thèm khát
Rốt cuộc không đầy đu.û
Như gió mạnh lửa hừng
Ném củi vào không đủ
Các phi Nghĩa thế gian
Không gì hơn năm dục
Chúng sinh vì ngu tham
Ưa thích nên không giác
Người trí sợ năm dục
Không rơi vào phi Nghĩa
Vua thống lãnh bốn biển
Vẫn mong cầu bên ngoài.
Ái dục như biển cả
Không bao giờ dừng đủ

* Trang 99 *
device

Vua Chuyển luân Man-đà
Khắp trời mưa vàng ròng
Vua trị bốn thiên hạ
Lại mong sinh Đao-lợi
Đế Thích chia nửa tòa
Vì tham muốn phải chết.
Nông-sa tu khổ hạnh
Làm vua trời băm ba
Buông dục tâm cao mạn
Vị tiên kéo xe bộ
Do việc buông lung này
Nên đọa làm mãng xà.
Vua Chuyển luân Yên-la
Dạo chơi trời Đao-lợi
Lấy Thiên nữ làm vợ
Đánh thuế vàng vị tiên
Tiên tức giận đọc chú
Nước diệt, vua qua đời.
Trời Đế Thích Ba-la
Trời Đế Thích Nông-sa
Nông-sa thuộc Đế Thích
Vua trời đâu có thường
Cõi nước chẳng bền chắc
Chỉ người sức mạnh ở
Thường mặc lớp áo cỏ
Ăn trái, uống nước suối
Tóc dài xõa tận đất
Vắng lặng không mong cầu
Tu khổ hạnh như thế
Rồi cũng bị dục hại.
Nên biết cảnh năm dục
Là kẻ thù người tu
Vua Thiên Tý Đại Lực
Mạnh mẽ khó ai địch
Bị tiên La-ma giết

* Trang 100 *
device

Cũng bởi do tham dục.
Huống Ta dòng Sát-lợi
Không bị dục kéo lôi
Nhỏ nếm cảnh giới dục
Nhỏ dứt, lớn càng thêm
Người trí rất chán ghét
Dục độc ai uống ăn
Cầu lợi bằng mọi cách
Đều do tham sai khiến.
Nếu người không tham dục
Siêng năng thì không sinh
Người trí thấy lỗi khổ
Dứt bỏ các tham dục.
Thế gian cho là thiện
Tức đều là pháp ác
Chúng sinh vì ham vui
Sinh ra các buông lung
Buông lung trở hại mình
Chết sẽ đọa đường ác,
Siêng tìm cách đạt được
Phải tìm cách giữ gìn
Không siêng tự đánh mất
Không cách nào giữ được.
Giống như vật giả mượn
Người trí không tham đắm
Siêng năng tìm năm dục
Được thì thêm yêu đắm
Khi vô thường ly tán
Lại càng thêm khổ não
Cầm đuốc tự cháy tay
Người trí không yêu đắm.
Người ngu si thắp hèn
Lửa sẻn tham đốt thân
Suốt đời mãi chịu khổ
Không hề được an vui.

* Trang 101 *
device

Tham giận như rắn độc
Người trí không dám gần
Khổ nhọc gặm xương khô
Không mùi vị, không no
Luống tự mỏi răng miệng
Người trí không dám nếm.
Vua giặc, lửa nước phân
Của chung, con ác thảy
Cũng như cục thịt thối
Cả bầy chim tranh giành
Tham tài cũng như vậy
Người trí không ưa thích.
Chỗ tài sản nhóm họp
Thường sinh khởi thù oán
Ngày đêm tự giữ gìn
Như người sợ oán nặng
Nêu giết chợ đông hạ
Bị lòng người oán ghét
Nêu tham, sân, si cao
Người trí thường xa lìa.
Vào rừng núi, sông biển
Thất bại nhiều, ít an
Như hái quả cây cao
Do tham thường té chết
Cảnh tham dục cũng thế
Tuy thấy nhưng khó lấy
Tìm mọi cách cầu tài
Khó gom mà dễ tan
Như cái được trong mộng
Người trí đâu giữ gìn.
Như hố lửa ngụy trang
Ai đạp thì chết cháy
Lửa tham dục cũng thế
Người trí không đạp lên.
Như Cưu-la bộ kia

* Trang 102 *
device

Bật-sắt-phú-nan-đà
Di-hy-lợi-đàn-trà
Như con dao hàng thịt
Hình ái dục cũng thế
Người trí không dám làm
Gieo mình vào nước, lửa
Hoặc nhảy xuống sườn núi
Cầu được sinh cõi trời
Luống khổ, chẳng được lợi.
Tôn Đào, Bát Tôn Đào
Anh em A-tu-luân
Đều có tâm thương nhau
Vì dục, tàn hại nhau
Thân chết, tiếng tăm mất
Đều là do tham dục.
Tham ái làm người hèn
Roi gậy đánh đập khổ
Ái dục hy vọng hèn
Đêm dài thân tâm nhọc
Nai vì tham tiếng chết
Chim tham sắc mạng vong
Cá tham mồi bỏ xác
Đều bị dục làm khổ.
Quán sát vật nuôi sống
Chẳng phải pháp tự tại
Ăn để chữa bệnh đói
Uống nước để hết khát
Y phục để ngăn lạnh
Nằm để trị ngủ nghỉ
Đi mệt nên ngồi xe
Đứng mỏi chân tìm ghế
Tắm gội để trừ dơ
Đều là dứt bỏ khổ.
Vì thế phải nên biết
Năm dục chẳng tự tại

* Trang 103 *
device

Như người bị sốt cao
Tìm nước mát để trị
Tham cầu dứt khổ hoạn
Người ngu cho tự tại
Nhưng vật nuôi sống kia
Cũng chẳng phải dứt khổ
Lại làm pháp khổ tăng
Nên chẳng phải tự tại.
Áo ấm chẳng thường vui
Hết lạnh cũng sinh khổ
Ánh trăng mùa hạ mát
Mùa đông thêm khổ hạnh.
Đến tám pháp thế gian
Đều chẳng tướng quyết định
Tướng khổ vui bất định
Tớ và vua đâu phân.
Vua ra lệnh, chúng vâng
Vì vua là trên hết
Ra lệnh chính là khổ
Còn mang nhiệm vụ nặng
Đều cân nhắc nặng nhẹ
Các khổ nhóm vào thân
Làm vua nhiều kẻ ghét
Dù thân cũng thành đọa
Không thân ở một mình
Như thế có gì vui?
Vua trị bốn thiên hạ
Nhưng dùng không quá một
Tìm cầu cả muôn việc
Luống khổ, ích gì thân?
Chưa khổ, dứt tham cầu
Dứt việc là an vui
Làm vua vui năm dục
Không làm, vui vắng lặng
An vui đã bình đẳng

* Trang 104 *
device

Thì làm vua mà chi?
Ngài chớ tìm mọi cách
Dẫn tôi vào năm dục
Điều mà tôi mong muốn
Là con đường thoáng mát.
Ngài muốn lợi ích tôi
Xin giúp điều tôi cầu
Tôi không sợ kẻ thù
Không cầu sinh cõi trời
Tâm không Nghĩ danh lợi
Nên cởi bỏ mũ trời
Vì thế trái ý ngài
Không tuân theo ý chỉ.
Như thoát miệng rắn độc
Đâu trở lại nắm giữ
Cầm đuốc tự cháy tay
Vì sao không bỏ ngay?
Người có mắt muốn mù
Đã mở lại muốn buộc
Người giàu lại muốn nghèo
Người trí muốn ngu si
Đời có người như thế
Thì tôi nên làm vua.
Muốn vượt sinh, già, chết
Tiết chế, hành khất thực
Ít muốn, giữ vắng lặng
Đời sau khỏi đường ác
Nên hai đời an vui.
Nay Ngài đừng thương tôi
Nên thương người làm vua
Tâm ấy thường khao khát
Đời nay không được an
Đời sau chịu khổ báo.
Ngài dùng dòng họ quý
Lễ Nghĩa đại trượng phu

* Trang 105 *
device

Đối đãi tôi trọng hậu
Vui đồng vui thế gian
Tôi cũng nên báo ân
Khuyên ngài lợi như tôi.
Nếu tu ba phẩm vui
Đó gọi Đại trượng phu.
Đây cũng là phi Nghĩa
Thường cầu không biết đủ
Nếu không sinh, già, chết
Mới gọi Đại trượng phu
Ngài nói trẻ lao chao
Già mới nên nên xuất gia
Tôi thấy người tuổi già
Sức yếu không kham nổi
Không bằng lúc còn trẻ
Chí vững tâm quyết định
Thần chết cầm kiếm theo
Thường rình dịp giết hại
Đâu chờ đến lúc già
Toại chí đi xuất gia.
Vô thường là thợ săn
Già: cung, bệnh: tên bén
Trong cánh đồng sinh tử
Thường rình nai: chúng sinh
Được dịp liền giết hại
Ai cho sống suốt đời.
Việc làm của con người
Việc sinh hoặc việc diệt
Nhỏ, lớn và trung niên
Đều nên siêng tìm cách.
Cúng tế tu đại hội
Đó đều là ngu si
Phải nên chuộng chánh pháp
Lại giết để tế trời
Giết chúng sinh cầu phước

* Trang 106 *
device

Là người không tâm Từ
Hại sinh, quả hữu thường
Vẫn còn không nên giết
Huống là cầu vô thường
Giết chúng sinh cúng tế
Nếu người không giới, văn,
Tuệ, tu thiền vắng lặng
Không nên theo thế gian
Cúng tế lập đại hội
Sát sinh được hiện vui.
Người trí không nên giết
Huống là giết chúng sinh
Mà cầu phước đời sau.
Quả hữu vi ba cõi
Chẳng phải điều tôi ưa
Pháp trôi lăn các nẻo
Như gió thổi lục bình
Cho nên tôi viễn du
Vì cầu chân giải thoát.
Nghe nói A-la-lam
Khéo giảng đạo giải thoát
Giờ sẽ đến chỗ vị
Đại tiên Mâu-ni kia.
Lời thật xin nén lại
Giờ, tôi xin lỗi vua
Nguyện nước Ngài an ổn
Khéo giữ như Đế Thích
Ánh tuệ soi thiên hạ
Giống như ánh mặt trời.
Một vị vua tối thắng
Hộ mạng bằng giữ tâm
Chánh hóa giữ con mình
Cai trị bằng chánh pháp
Băng tuyết, lửa là thù
Nương cờ khói lửa sinh

* Trang 107 *
device

Cờ khói thành mây nổi
Mây nổi tuôn mưa lớn
Có con chim trong không
Uống mưa, không ướt thân
Giết oán nặng là nhà
Ở nhà oán nặng giết.
Có người giết oán nặng
Nay ngài nên tha họ
Để họ được giải thoát
Như uống không ướt mình.”
Nhà vua liền chắp tay
Kính đức, tâm vui mừng:
“Như điều Ngài mong cầu
Mong cho quả mau thành
Khi thành tựu quả rồi
Xin Ngài về độ tôi.”
Bồ-tát hứa trong tâm
Sẽ khiến vua toại nguyện
Giã từ, Ngài lên đường
Đến chỗ A-la-lam.
Vua và các quyến thuộc
Cùng chắp tay đưa tiễn
Đều cho là kỳ lạ
Trở về thành Vương xá.

Phẩm 12: A-LA-LAM UẤT-ĐẦU-LAM

 
Dòng Nhật quang Cam giá
Đến rừng vắng lặng kia
Tới chỗ vị Mâu-ni
Đại tiên A-la-lam.
Ca-lam dòng quý tộc
Xa thấy Bồ-tát đến
Lớn tiếng xa khen ngợi

* Trang 108 *
device

An ủi rằng lành thay
Chắp tay lẫn cung kính
Hỏi thăm an lành không.
Hỏi thăm sức khỏe rồi
Khoan thai cùng ngồi xuống
Phạm chí thấy Thái tử
Dung mạo rất uy nghi
Gội nhuần, kính đức hạnh
Như khát uống cam lộ
Đưa tay bảo Thái tử:
“Biết Ngài xuất gia lâu
Bỏ cha, mở khóa ái
Giống như voi thoát nài
Trí sâu, tuệ giác sáng
Khỏi ăn quả độc này.
Thuở xưa, vua Minh Thắng
Nhường ngôi lại cho con
Như người đeo tràng hoa
Khô héo nên vất bỏ
Chẳng bằng Ngài tuổi trẻ
Không lên ngôi Thánh vương.
Xét chí vững của Ngài
Xứng đáng là pháp khí
Nên ngồi thuyền trí tuệ
Vượt qua biển sinh tử.
Hễ có người đến học
Xét tài rồi mới dạy
Nay tôi đã biết Ngài
Chí vững chắc, quyết định
Hãy nên hết lòng học
Tôi không giấu điều chi.”
Thái tử nghe dạy bảo
Vui mừng mà đáp rằng:
“Ngài có tâm bình đẳng
Khéo dạy, không thương ghét

* Trang 109 *
device

Chỉ nên hết lòng nhận
Việc mong cầu đã được.
Đi đêm được đuốc sáng
Lạc lối được người dẫn
Qua biển được thuyền nan
Nay tôi cũng như vậy
Đã được Ngài thương xót
Dám hỏi điều tâm nghi:
Khổ sinh, già, bệnh, chết
Làm thế nào được khỏi?”
Bấy giờ A-la-lam
Vừa nghe Thái tử hỏi
Liền đem các kinh luận
Để giải thích sơ lược:
“Ngài là bậc cơ ngộ
Người thông minh bậc nhất
Giờ xin nghe tôi nói
Nghĩa sống chết, sinh diệt.
Tánh, biến, sinh, già, chết
Năm thứ là chúng sinh
Tánh Nghĩa là thuần tịnh
Chuyển biến là năm đại
Ngã, giác cùng với kiến
Căn theo cảnh là biến
Sắc, thanh, hương, vị, xúc
Đều gọi là cảnh giới
Tay chân, ngữ hai đường
Đó gọi năm nghiệp căn.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Đó gọi là Giác căn
Ý căn gồm hai Nghĩa
Vừa nghiệp vừa gọi giác
Tánh chuyển biến là nhân
Người biết nhân là Ngã.
Vị tiên Ca-tỳ-la

* Trang 110 *
device

Và đệ tử quyến thuộc
Đối yếu Nghĩa tôi đây
Tu học được giải thoát.
Tiên Ca-tỳ-la kia
Nay Ba-xà-ba-đề
Giác biết sinh, già, chết
Thuyết này gọi là kiến
Trái với thuyết nói trên
Thuyết gọi là Bất kiến
Nghiệp ngu si ái dục.
Thuyết ấy là luân chuyển
Nếu vướng ba thứ này
Chúng sinh ấy không lìa
Bất tín, ngã, nghi, lạm
Bất biệt, không phương tiện
Cảnh giới sâu chấp trước
Mãi nằm trong ngã sở.
Bất tín, điên đảo chuyển
Làm khác cũng hiểu khác
Ngã nói, ngã hay biết
Ngã đến đi, ngã trụ
Các chấp ngã như thế
Đó gọi ngã tác chuyển.
Đối các tánh do dự
Phải quấy không phải thật
Không quyết định như thế
Thuyết ấy gọi là Nghi.
Nếu nói pháp là Ngã
Nói đó tức là ý
Cũng như Giác và Nghiệp
Nói số lại nói Ngã
Không phân biệt như thế
Thuyết ấy gọi chung Lạm.
Ngu, trí tánh biến đổi
Không rõ gọi Bất biệt

* Trang 111 *
device

Lễ bái, tụng các sách
Sát sinh tế miếu trời
Nước lửa thảy là tịnh
Mà sinh tưởng giải thoát
Các thứ kiến như thế
Đó gọi không phương tiện.
Kẻ ngu si chấp đắm
Ý, lời nói, giác nghiệp
Và cảnh giới chấp đắm
Thuyết ấy gọi là trước.
Các vật đều ngã sở
Đó gọi là nhiếp thọ
Tám thứ hoặc như thế
Càng chìm trong sinh tử.
Những kẻ ngu ở đời
Nhiếp thọ lấy năm tiết:
Ám si và đại si
Tức giận và sợ sệt
Biếng nhác gọi là Ám
Sống chết gọi là Si
Ái dục gọi đại si
Người lớn sinh mê lầm
Ôm hận gọi tức giận
Tâm hãi gọi sợ sệt.
Phàm phu ngu si ấy
Chấp đắm năm dục lạc
Sống chết là gốc khổ
Xoay lăn trong năm đường
Chuyển sinh ngã thấy nghe
Ngã biết, ngã làm ra
Do vì chấp ngã này
Thuận theo dòng sinh tử.
Nhân này không có tánh
Quả cũng chẳng có tánh
Gọi đó suy Nghĩ đúng

* Trang 112 *
device

Bốn pháp hướng giải thoát.
Thông minh và ngu tối
Hiển bày, không hiển bày
Nếu biết bốn pháp này
Lìa được sinh, già, chết.
Sinh, già, chết đã hết
Mau được chỗ vô tận
Bà-la-môn thế gian
Thảy đều nương nghĩa này
Tu hành các phạm hạnh
Cũng nói rộng người nghe.’
Thái tử nghe lời ấy
Lại hỏi A-la-lam:
“Thế nào là phương tiện
Rốt ráo đến chỗ nào?
Thực hành phạm hạnh nào?
Lại nên vào lúc nào?
Vì sao tu phạm hạnh?
Pháp nên đến chỗ nào?
Các yếu Nghĩa như thế
Xin nói đủ tôi nghe.”
Bấy giờ, A-la-lam
Nói như kinh luận kia
Tự dùng tuệ phương tiện
Lại giải thích sơ lược:
“Trước lìa tục xuất gia
Y theo hạnh khất thực
Tu tập các oai nghi
Vâng giữ các chánh giới
Ít muốn và biết đủ
Ngon dở đều thọ nhận
Một mình tu vắng lặng
Siêng tu các kinh luận
Thấy tham dục sợ sệt
Lìa dục được thanh tịnh,

* Trang 113 *
device

Giữ các căn vào làng
Tâm sống trong vắng lặng
Lìa dục ác bất thiện
Các phiền não cõi Dục
Xa lìa sinh vui mừng
Được thiền sơ giác quán.
Đã được vui Sơ thiền
Cùng với tâm giác quán
Cho đó là đặc biệt
Tâm ngu si ưa đắm
Tâm nương xa lìa vui
Qua đời sinh Phạm thiên.
Người trí tự biết được
Phương tiện dùng giác quán
Tinh tấn cầu tiến lên
Tương ưng Thiền thứ hai
Mê đắm vui mừng kia
Được sinh trời Quang âm,
Phương tiện lìa vui mừng
Tu lên Thiền thứ ba
An vui không cầu thắng
Sinh lên trời Biến tịnh,
Xả bỏ ý vui ấy
Chứng được thiền thứ tư
Khổ vui đều đã dứt
Hoặc Nghĩ rằng giải thoát
Nhờ phước Tứ thiền kia
Được sinh trời Quảng quả.
Chư Thiên này sống lâu
Nên gọi là Quảng quả
Ở đó thiền định khởi
Thấy có thân là lỗi
Tăng tiến tu trí tuệ
Chán lìa Thiền thứ tư
Quyết định cầu tiến thêm

* Trang 114 *
device

Tìm cách trừ sắc dục
Trước các lỗ trên thân
Dần dần tu cởi mở
Cuối cùng phần vững chắc
Đều thành tựu không quán
Tiến quán vô lượng thức
Khéo léo trong vắng lặng
Lìa ngã và ngã sở
Quán sát vô sở hữu.
Vô sở hữu xứ này
Văn-xà da xương lìa
Chim hoang thoát khỏi lồng
Xa lìa khỏi cảnh giới
Giải thoát cũng như vậy.
Bà-la-môn trên đây
Lìa thân thường bất tận
Người trí phải nên biết
Đó là chân giải thoát.
Phương tiện mà Ngài hỏi
Và người cầu giải thoát
Như lời tôi nói trên
Người tin sâu nên học.
Vị tiên Lân-kỳ-sa
Cùng với Xà-na-già
Tỳ-đà-ba-la-sa
Và người cầu đạo khác
Đều từ nơi đạo này
Mà được chân giải thoát.”
Thái tử nghe Tiên nói
Suy nghĩ nghĩa thú ấy
Phát khởi duyên đời trước
Rồi lại thưa hỏi nữa:
“Nghe Ngài trí tuệ cao
Nghĩa nhiệm mầu sâu xa
Biết nhân mà không bỏ

* Trang 115 *
device

Chẳng phải đạo rốt ráo.
Tánh chuyển biến biết nhân
Nói rằng người giải thoát
Tôi quán sinh pháp này
Cũng là pháp chủng tử.
Ngài cho ngã thanh tịnh
Đó là chân giải thoát
Nếu gặp nhân duyên hội
Thì trở lại buộc ràng
Giống như chủng tử kia
Giờ, đất nước lửa gió
Lìa tan sinh trái lý
Gặp duyên chủng lại sinh
Nghiệp nhân ái vô tri
Bỏ thì gọi giải thoát.
Các chúng sinh còn ngã
Không giải thoát rốt ráo
Nơi nơi bỏ ba chủng
Mà lại được ba thắng
Vì ngã thường có nên
Kia phải theo nhỏ nhiệm
Vì theo lỗi nhỏ nhiệm
Nên tâm lìa phương tiện
Tuổi thọ được lâu dài.
Ngài cho chân giải thoát
Ngài nói lìa ngã sở
Nếu lìa thì không có
Các số đã không lìa
Làm sao lìa Cầu-na?
Cho nên có Cầu-na
Nên biết chẳng giải thoát.
Cầu-ni và Cầu-na
Nghĩa khác mà thể một
Nếu nói lìa nhau thì
Không hề có việc ấy.

* Trang 116 *
device

Sắc nóng xa lìa lửa
Lửa khác không thể được
Như trước khi có thân
Thì không hề có thân
Như thế trước Cầu-na
Cũng không có Cầu-ni
Cho nên trước giải thoát
Sau mới bị thân buộc
Lại biết do lìa thân
Hoặc biết hoặc không biết
Nếu nói là có biết
Thì nên có chỗ biết
Nếu như có chỗ biết
Thì chẳng phải giải thoát
Còn nếu nói không biết
Thì ngã không dùng được.
Lìa ngã mà có biết
Thì ngã đồng gỗ đá
Biết đủ cả tinh thô
Bỏ thô mà trọng tinh
Nếu bỏ được tất cả
Thì việc làm rốt ráo.”
Lời A-la-lam nói
Không vui lòng Thái tử
Biết chẳng Nhất thiết trí
Nên đi tìm vị khác
Đến chỗ tiên Uất-đà.
Kia cũng chấp có ngã
Tuy quán cảnh nhỏ nhiệm
Thấy lỗi tưởng, bất tưởng
Lìa trụ tưởng phi tưởng
Lại không có đường ra
Vì chúng sinh đến đó
Sẽ lại bị lui sụt.
Vì Bồ-tát mong thoát

* Trang 117 *
device

Lại bỏ tiên Uất-đà
Để cầu đạo mầu hơn
Bèn lên núi Già-xà
Thành tên Khổ hạnh lâm
Năm Tỳ-kheo trước ở.
Thấy năm Tỳ-kheo ấy
Khéo thu nhiếp các căn
Giữ giới tu khổ hạnh
Ở rừng khổ hạnh kia
Cạnh sông Ni-liên-thiền
Vắng lặng rất an vui,
Bồ-tát liền đến đó
Ngồi một chỗ suy nghĩ.
Năm Tỳ-kheo biết Ngài
Chuyên tâm cầu giải thoát
Nên hết lòng cúng dường
Như kính trời Tự tại,
Nhún mình thờ làm thầy
Mỗi bước thường không rời
Giống như người tu hành
Các căn tùy tâm chuyển.
Bồ-tát siêng tìm cách
Để vượt già, bệnh, chết
Chuyên tâm tu khổ hạnh
Tiết chế thân quên ăn
Tịnh tâm giữ trai giới
Người tu khác không kham.
Thiền tư trong vắng lặng
Ròng rã suốt sáu năm
Ngày ăn một hạt mè
Thân thể rất ốm gầy
Mong độ người chưa độ.
Hoặc nặng lại càng chìm
Đạo nhờ tuệ giải thoát
Không ăn, chẳng phải nhân

* Trang 118 *
device

Thân thể tuy suy yếu
Nhưng tâm tuệ càng sáng
Tâm rỗng, thân nhẹ nhàng
Tiếng khen vang khắp nơi
Như vầng trăng mới mọc
Hoa Cưu-mâu-đầu nở
Tiếng thơm vang khắp nước
Gái, trai đua đến xem.
Thân hình như cây khô
Qua thời gian sáu năm
Chán sợ khổ sinh tử
Chuyên cần nhân Chánh giác
Tự Nghĩ chẳng nhờ đó
Lìa dục, tịch quán sinh
Chẳng như Ta lúc trước
Ở dưới cây Diêm-phù
Được pháp chưa từng có.
Nên biết đó là Đạo
Đạo chẳng do thân gầy
Thân cần phải có sức
Uống ăn nuôi các căn
Căn vui giúp tâm an
Tâm an thuận vắng lặng.
Lặng là nhân thiền định
Nhờ thiền biết thánh pháp
Sức pháp được khó được
Vắng lặng lìa già chết
Lìa các cấu bậc nhất
Các pháp mầu như thế
Đều nhờ uống ăn sinh.
Suy nghĩ Nghĩa ấy rồi
Tắm gội sông Ni-liên
Tắm xong, định bước lên
Sức yếu, không lên được
Thiên thần uốn cành cây

* Trang 119 *
device

Đưa tay vịn bước lên.
Bấy giờ, cạnh rừng ấy
Có một cô gái nọ
Chăn bò tên Nan-đà,
Trời Tịnh cư đến bảo:
“Bồ-tát ở trong rừng
Cô nên đến cúng dường.”
Nan-đà-bà-la-xà
Vui mừng đến chỗ Ngài
Tay đeo xuyến ngọc trắng
Thân mặc áo màu xanh
Màu trắng, xanh ánh nhau
Như nước thấy bóng chìm
Tâm kính tin hớn hở
Cúi lễ chân Bồ-tát
Kính dâng cháo sữa thơm
Cúi xin thương xót nhận.
Bồ-tát nhận và dùng
Nàng được quả hiện pháp
Dùng xong, các căn vui
Kham thọ nhận Bồ-đề
Cả thân thể sáng ngời
Đức hạnh càng thêm cao
Như trăm sông đổ biển
Trời, trăng càng thêm sáng.
Năm Tỳ-kheo thấy Ngài
Kinh ngạc, lấy làm lạ
Cho Ngài tâm đạo lùi
Bỏ đi, tìm chỗ tốt
Nếu người được giải thoát
Năm đại đều xa lìa.
Bồ-tát đi một mình
Đến dưới cội Cát tường
Ngay dưới cội cây ấy
Thành đạo Đẳng chánh giác.

* Trang 120 *
device

Nơi ấy đất rộng bằng
Cỏ mềm mơn mởn mọc
Sư tử khoan thai bước
Mỗi bước, đất rung chuyển
Đất cảm động rồng mù
Vui mừng, mắt được sáng
Nói từng thấy Phật trước
Tướng đất rung như nay.
Đấng Mâu-ni tôn quý
Mặt đất không ai hơn
Mỗi bước chân đạp đất
Tiếng rung chuyển ầm ầm
Ánh sáng màu chiếu khắp
Như mặt trời sáng hôm.
Năm trăm con chim xanh
Trên không nhiễu bên phải
Làn gió mát nhẹ nhàng
Thuận theo mà cuốn tròn
Các điều lành như thế
Đều đồng Phật quá khứ
Cho nên biết Bồ-tát
Sẽ thành đạo Chánh giác.
Được người cắt cỏ kia
Cho cỏ mềm thanh tịnh
Bèn trải dưới gốc cây
Chánh thân mà an tọa
Ngồi kiết già, không động
Như rồng buộc lấy thân
Quyết không rời chỗ này
Tu tập đến rốt ráo.
Khi Ngài phát thệ này
Trời, rồng đều mừng vui
Gió mát nhè nhẹ thổi
Cỏ cây không xào xạc
Tất cả các cầm thú

* Trang 121 *
device

Im bặt không tiếng kêu
Đó là tướng nói lên
Bồ-tát sẽ thành đạo.

Phẩm 13: PHÁ MA
 
Đại Tiên vương tộc tiên
Ở dưới cội Bồ-đề
Lập lời nguyện vững chắc
Phải thành đạo giải thoát Quỷ,
Rồng, các Thiên chúng
Thảy đều rất vui mừng.
Vua Thiên ma Pháp Oán
Chỉ buồn mà không vui
Vua năm dục tự tại
Có các thuật chiến đấu
Ganh ghét người giải thoát
Nên gọi là Ba-tuần.
Ma vương có ba gái
Dung nghi đẹp mỹ miều
Có mọi cách mê người
Bậc nhất trong Thiên nữ
Cô cả tên Dục Nhiễm
Cô kế Năng Duyệt Nhân
Cô út Khả Ái Lạc.
Ba cô đồng thời đến
Thưa cha Ba-tuần rằng:
“Chẳng hay có việc gì
Mà cha lo việc ấy?”
Cạn tình bảo các con:
“Đại Mâu-ni ra đời
Thân mặc giáp đại thệ
Tay cầm cung đại ngã
Tên cứng bén trí tuệ

* Trang 122 *
device

Muốn hàng phục chúng sinh
Phá hủy cảnh giới ta.
Một khi ta không bằng
Chúng sinh tin theo kia
Trở về đạo giải thoát
Cõi nước ta trống rỗng.
Thí như người phạm giới
Thân họ còn trống không
Mắt tuệ chưa mở thông
Nước ta còn yên ổn
Phải đến phá chí kia
Phá sập cầu cứu nàn.”
Cầm cung, mang năm tên
Cùng nam nữ thân quyến
Đến rừng Cát tường kia
Cầu chúng sinh chẳng yên.
Thấy Mâu-ni vắng lặng
Muốn vượt biển ba cõi
Tay trái cầm cung mạnh
Tay phải cầm tên nhọn
Mà bảo Bồ-tát rằng:
“Ông Sát-lợi mau dậy
Chết rất đáng sợ hãi
Phá mà ông đang tu
Lìa bỏ pháp giải thoát!
Tu tập hội “thí phước”
Điều phục các thế gian
Chết được sinh cõi trời
Đạo này được khen ngợi
Việc làm tốt trước kia
Vua tiên dòng dõi quý
Điều khất sĩ không nên.
Giờ, nếu không đứng lên
Ông hãy nên yên chí
Chớ xả bỏ yếu thệ

* Trang 123 *
device

Ta bắn một mũi tên
Cháu Yên-la Nguyệt Quang
Cũng do mũi tên ta
Chạm nhẹ như gió thổi
Mà tâm nó phát điên.
Tiên khổ hạnh vắng lặng
Nghe tiếng tên ta bắn
Tâm liền rất sợ hãi
Hôn mê mất bản tánh
Huống ông trong đời mạt
Mong thoát mũi tên ta
Giờ ông mau đứng dậy
May ra được an toàn.
Tên này rất độc hại
Khẳng khái mà chống lại
Người đủ sức chịu tên
Tự an còn rất khó
Huống ông không kham nỗi
Làm sao không kinh hãi?”
Ma nói những điều trên
Để bức hiếp Bồ-tát
Nhưng lòng Ngài thản nhiên
Không nghi, không sợ sệt.
Ma vương liền bắn tên
Ba ngọc nữ tiến lên
Bồ-tát chẳng ngó tên
Cũng chẳng nhìn ba cô.
Ma vừa sợ vừa ngờ
Trong lòng ma tự hỏi
“Từng vì Tuyết sơn nữ
Bắn Ma-hê-thủ-la
Làm biến loạn lòng người
Nhưng không động Bồ-tát.
Không dùng tên này nữa
Và ba ngọc nữ đây

* Trang 124 *
device

Có thể đổi tâm kia
Khiến sinh ra thương giận
Phải hợp quân chúng lại
Dùng sức mạnh ép bức.”
Khi ma Nghĩ như thế
Ma quân bỗng tụ lại
Nhiều hình thù quái dị
Cầm kích, cầm đao kiếm
Nâng cây, cầm chày vàng
Đầu heo, cá, lừa, ngựa
Hình lạc đà, trâu, hổ
Đầu sư tử, voi, rồng…
Và loài cầm thú khác
Hoặc một thân nhiều đầu
Hoặc mỗi mặt một mắt
Hoặc lại rất nhiều mắt
Bụng lớn, thân cao nghều
Hoặc gầy nhom, không bụng
Hoặc chân dài, gối lớn
Hoặc chân lớn, vế mập
Hoặc móng sắc, nanh dài
Hoặc không đầu, mắt, mặt
Hoặc hai chân, nhiều thân
Hoặc mặt lớn, mặt bên
Hoặc có màu tro đất
Hoặc như ánh sao sáng
Hoặc thân tuôn khói lửa
Hoặc tai voi, vác núi
Hoặc khỏa thân, tóc phủ
Hoặc là mặc áo da
Mặt nửa đỏ nửa trắng
Hoặc mặc áo da cọp
Hoặc mặc áo da rắn
Hoặc lưng vác linh lớn
Hoặc tóc quấn trôn ốc

* Trang 125 *
device

Hoặc tóc xõa che thân
Hoặc hút tinh khí người
Hoặc cướp mạng sống người
Hoặc nhảy liệng, kêu lớn
Hoặc chạy đuổi bắt nhau
Hoặc tự giết hại nhau
Hoặc xoay chuyển trong không
Hoặc bay dưới tàng cây
Hoặc lêu la, hét, rống
Tiếng dữ động đất trời
Các thứ ác như vậy
Bao quanh cây Bồ-đề.
Hoặc muốn xé nát thân
Hoặc lại muốn ăn nuốt
Bốn bề dậy lửa đỏ
Khói lửa bốc trời xanh
Gió mạnh dậy tứ phía
Núi rừng đều rung chuyển
Gió lửa lẫn khói bụi
Mờ tối không thấy gì.
Các trời người ái pháp
Và các rồng, quỷ thảy
Đều căm ghét chúng ma
Tức giận máu lệ tuôn.
Các vị trời Tịnh cư
Thấy ma loạn Bồ-tát
Lìa dục, tâm không sân
Thương sợ chúng hại Ngài
Đều đến thấy Bồ-tát
Ngồi ngay không khuynh động
Vô lượng ma bao vây
Tiếng dữ động trời đất
Bồ-tát vẫn an nhiên
Sắc mặc không biến đổi
Như sư tử đầu đàn

* Trang 126 *
device

Ở giữa một bầy thú
Đều khen ngợi: “Ô hô!
Lạ lùng chưa từng có”
Các ma sách đuổi nhau
Đều dùng hết uy lực
Chúng thay nhau tấn công
Giây lát khiến tiêu diệt
Nghiến răng mà trợn mắt
Loạn bay mà níu kéo
Bồ-tát im lặng quán
Như xem trẻ đùa giỡn.
Các ma càng nổi giận
Càng ra sức chiến đấu
Ôm đá không dỡ nổi
Dỡ nổi không ném được,
Phóng giáo, kích sắc bén
Ngưng giữa không, không rơi,
Mưa đá, sấm chớp vang
Hóa thành hoa năm màu,
Hơi độc rắn, rồng dữ
Hóa thành hơi gió thơm.
Các loại các hình tướng
Muốn làm hại Bồ-tát
Không thể làm khuynh động
Gây hại, tự tổn thương.
Ma vương có anh em
Tên Di-đà Ca-lợi
Cầm vũ khí đầu lâu
Đứng trước mặt Bồ-tát
Làm nhiều trò quái dị
Để hoặc loạn Bồ-tát.
Các thứ ma như thế
Nhiều loại thân xấu xa
Gây các tiếng ghê rợn
Muốn làm Bồ-tát sợ

* Trang 127 *
device

Nhưng không động mảy may
Các ma đều lo sầu.
Không trung, nhiều thần giúp
Ẩn thân phát ra tiếng:
“Ta thấy Đại Mâu-ni
Tâm không hề oán hận
Các ma lòng ác độc
Người không oán, sinh oán
Các ác ma ngu si
Luống nhọc, làm được gì.
Nên bỏ tâm sân hại
Sống vắng lặng an nhiên
Ngươi không thể dùng miệng
Thổi động núi Tu-di
Lửa lạnh, nước hừng cháy
Tính đất phẳng mềm mại
Không thể phá Bồ-tát
Nhiều kiếp tu quả lành.
Bồ-tát chánh tư duy
Tinh tấn hành phương tiện
Trí tuệ tịnh soi sáng
Từ bi với mọi loài
Bốn công đức mầu này
Không dứt đoạn giữa chừng
Khó mà cản Bồ-tát
Không thành đạo Chánh giác.
Như ngàn ánh nhật quang
Tất xua tối cõi thế
Dùi gỗ mà được lửa
Đào đất được nước tràn
Tinh tấn hành phương tiện
Không cầu gì chẳng được.
Thế gian không ai cứu
Trúng độc tham, sân, si
Vì thương xót chúng sinh

* Trang 128 *
device

Tìm thuốc hay trí tuệ
Để trừ khổ cho đời
Vì sao ngươi não loạn?
Thế gian các si hoặc
Đều do đắm đường tà
Bồ-tát tu đường chánh
Muốn dẫn dắt chúng sinh
Não loạn Bậc Đạo Sư
Cho nên tuyệt không thể!
Như trong cánh đồng rộng
Dẫn đường lừa người buôn
Chúng sinh lạc đường tối
Không biết nơi sẽ đến
Thắp đèn trí tuệ cho
Vì sao lại muốn tắt?
Chúng sinh bị nổi chìm
Trong biển lớn tử sinh
Làm con thuyền trí tuệ
Sao muốn dìm cho chìm?
Nhẫn nhục là mầm pháp
Chí vững là gốc pháp
Tâm giác là thân cành
Hoa là luật nghi giới
Cây đại thọ trí tuệ
Pháp vô lượng là trái
Bóng che chở chúng sinh
Vì sao lại muốn chặt?
Gông cùm, tham, sân, si
Trói buộc các chúng sinh
Nhiều kiếp tu khổ hạnh
Vì giải thoát chúng sinh
Hôm nay quyết định thành
Chính thức ngồi tại đây
Như các Phật quá khứ.
Đài kim cang vững chắc

* Trang 129 *
device

Các phương đều nghiêng động
Chỉ nơi đây yên ổn
Kham nhẫn được diệu định
Ngươi không phá được đâu!
Phải nên hạ thấp tâm
Dứt bỏ tâm kiêu mạn
Phải tu “tâm tri thức”
Nhẫn nhục mà thờ phụng!”
Ma nghe tiếng trên không
Thấy Bồ-tát an tịnh
Xấu hổ bỏ kiêu mạn
Lại trở về cõi trời.
Các ma đều lo lắng
Mất hết các uy vũ
Các khí trượng chiến đấu
Bỏ ngổn ngang trong rừng
Như người giết kẻ oán
Bè đảng đều tiêu tan.
Các ma đã tan tác
Tâm Bồ-tát vắng lặng
Ánh mặt trời thêm sáng
Bụi mù đều lắng chìm
Trăng sáng các sao hiện
Không còn bóng tối phủ
Không trung mưa hoa trời.
Để cúng dường Bồ-tát.

Phẩm 14: A-DUY-TAM BỒ-ĐỀ
 
Bồ-tát hàng ma rồi
Lòng vững chắc an Tĩnh
Cầu chứng Nghĩa đệ nhất
Vào sâu trong diệu thiền
Các Tam-muội tự tại

* Trang 130 *
device

Lần lượt hiện trước mặt.
Đầu hôm nhập chánh định
Nhớ lại đời quá khứ
Từ nơi đâu tên gì
Mà sinh đến nơi này
Như vậy trăm, ngàn, vạn
Sinh tử đều biết rõ.
Chịu sinh tử vô lượng
Tất cả loài chúng sinh
Đều từng là thân thuộc
Nên khởi tâm đại bi.
Tâm đại bi Nghĩ rồi
Lại quán chúng sinh ấy
Luân hồi trong sáu nẻo
Sinh tử không cùng tận
Luống dối không vững chắc
Như cây chuối mộng huyễn.
Vào ngay lúc nửa đêm
Chứng được tịnh Thiên nhãn
Thấy tất cả chúng sinh
Như xem hình trong kính
Chúng sinh chết rồi sống
Sang hèn và nghèo giàu
Tịnh nghiệp, bất tịnh nghiệp
Tùy thọ báo khổ vui,
Quán sát người làm ác
Sẽ sinh vào đường ác
Người tu tập nghiệp lành
Sinh lên cõi trời, người,
Nếu người đọa địa ngục
Thọ vô lượng thứ khổ
Phải uống nước đồng sôi
Giáo sắt xuyên thân thể,
Xô vào vạc nước sôi
Ném vào đống lửa đỏ

* Trang 131 *
device

Bầy chó nanh dài xơi
Chim mỏ nhọn mổ não,
Sợ lửa chạy vào rừng
Lá kiếm cắt đứt thân
Dao bén chặt thân thể
Hoặc búa bén chém chặt
Chịu biết bao đau khổ
Nghiệp hành, không chết được.
Thích làm việc bất tịnh
Chịu quả báo đau khổ
Vị đắm trong giây lát
Khổ báo rất lâu dài
Trồng nhân khổ cười vui
Mà chịu tội kêu khóc.
Các chúng sinh nghiệp ác
Nếu thấy tự chịu báo
Thì khí mạch đứt liền
Sợ hãi băng huyết chết.
Tạo các nghiệp súc sinh
Các nghiệp đều sai khác
Chết đọa vào súc sinh
Chịu nhiều thân khác nhau,
Hoặc là thân da thịt
Lông, sừng, xương, đuôi, cánh
Lại tàn hại lẫn nhau
Thân thích ăn thịt nhau
Vác nặng mà mang ách
Câu, dùi đâm, roi đánh
Bị thương, chảy máu mủ
Đói khát nhưng không thoát,
Xoay vần giết hại nhau
Không có sức tự tại
Trên đất, nước, không trung
Không có chỗ trốn chết.
Người tham lam keo kiệt

* Trang 132 *
device

Sinh vào đường ngạ quỷ
Thân cao lớn như núi
Cổ họng tựa mũi kim
Lửa đói khát bùng lên
Trở lại tự đốt thân.
Người xin tiếc không cho
Hoặc cản người bố thí
Sinh vào ngạ quỷ kia
Muốn ăn chẳng thể được
Đồ thừa người đổ bỏ
Muốn ăn cũng biến mất.
Những người nghe xan tham
Bị khổ báo như thế
Cắt thịt bố thí người
Như vua Thi-tỳ kia.
Hoặc sinh vào loài người
Thân ở trong nhà xí
Chuyển động rất khổ cực
Ra thai sinh sợ hãi
Thân mềm chạm vật ngoài
Như đao kiếm cắt xẻ,
An phận theo túc nghiệp
Không lúc nào không chết
Cần khổ não mà sinh sống
Được sống mãi chịu khổ.
Nhờ phước sinh cõi trời
Lửa khát ái đốt thân
Lúc phước hết qua đời
Năm tướng suy chết đến
Giống như hoa, cây héo.
Tiều tụy mất ánh sáng
Quyến thuộc người còn mất
Buồn khổ không lưu được,
Cung điện chợt rỗng không
Ngọc nữ đều xa lìa

* Trang 133 *
device

Ngồi nằm trên bụi đất
Buồn khóc luyến mến nhau.
Người sống thường đọa lạc
Kẻ chết buồn luyến tiếc
Tinh tấn tu khổ hạnh
Tham cầu sinh cõi trời
Đã có khổ như vậy
Hèn thay! Gì đáng tham!
Đại phương tiện có được
Không khỏi khổ chia lìa.
Than ôi! Các trời người
Dài ngắn không khác nhau
Nhiều kiếp tu khổ hạnh
Xa lìa hẳn ái dục
Rằng quyết định còn mãi
Mà nay đều đọa lạc
Địa ngục chịu các khổ!
Súc sinh tàn sát nhau
Ngạ quỷ đói khát ngặt
Làm người nhọc khao khát
Tuy nói: sinh Thiên vui
Chia lìa khổ lớn nhất
Mê lầm sinh cõi thế
Không một chỗ nghỉ ngơi!
Than ôi! Biển sinh tử
Lăn lộn không cùng tận
Chúng sinh mãi chìm đắm
Trôi dạt không chỗ nương
“Tịnh Thiên nhãn” như thế
Quán sát trong năm đường
Luống dối không vững chắc
Như cây chuối, chùm bọt!
Vào canh ba đêm ấy
Nhập vào chánh thọ sâu
Quan sát các thế gian

* Trang 134 *
device

Luân chuyển khổ tự tánh
Luôn luôn sinh, già, chết
Số đó không hạn lượng
Tham dục, si ám che
Không biết do đâu xuất.
Suy Nghĩ trong chánh niệm
Sinh tử từ đâu khởi?
Quyết định biết già, chết
Ắt do sinh mà ra
Thí như người có thân
Thì theo thân có khổ
Lại xét sinh do đâu
Thấy từ các nghiệp hữu
Mắt trời quán nghiệp hữu
Chẳng trời Tự tại sinh
Chẳng tự tánh, chẳng ngã
Cũng không phải không nhân.
Đốt tre đều đã chẻ
Các đốt khác không khó
Đã thấy nhân sinh tử
Dần dần thấy chân thật
Nghiệp hữu từ thủ sinh
Giống như lửa thêm củi.
Thủ lấy ái làm nhân
Như lửa nhỏ đốt núi.
Biết ái từ thọ sinh
Biết khổ vui cầu an
Đói khát cầu ăn uống
Thọ sinh ái cũng vậy.
Các thọ, xúc là nhân
Cả ba, khổ vui sinh
Người gia công dùi lửa
Thì được lửa mà dùng.
Xúc từ lục nhập sinh
Vì tối không minh giác.

* Trang 135 *
device

Lục nhập, danh sắc khởi
Như mầm nảy lá cành.
Danh sắc từ thức sinh
Như ươm mầm, lá sinh.
Thức lại từ danh sắc
Xoay vần không còn thừa.
Duyên thức sinh danh sắc
Duyên danh sắc sinh thức
Như người, thuyền tiến lên
Đất, nước lại liền nhau.
Như thức sinh danh sắc
Danh sắc sinh các căn
Các căn sinh ra xúc
Xúc lại sinh ra thọ
Thọ sinh ra ái dục
Ái dục sinh ra thủ
Thủ sinh ra nghiệp hữu
Hữu thì sinh ra sinh
Sinh sinh ra già, chết
Luân hồi mãi không cùng.
Nhân duyên chúng sinh khởi
Chánh Giác đều giác tri
Chánh Giác đã chứng ngộ
Sinh hết, già chết dứt
Hữu diệt thì sinh diệt
Thủ diệt thì hữu diệt
Ái diệt thì thủ diệt
Thọ diệt thì ái diệt
Xúc diệt thì thọ diệt
Lục nhập diệt, xúc diệt
Tất cả nhập diệt hết
Bởi do danh sắc diệt
Thức diệt, danh sắc diệt
Hành diệt thì thức diệt
Si diệt thì hành diệt

* Trang 136 *
device

Đại tiên thành Chánh giác.
Thành Chánh giác như thế
Phật hưng thịnh thế gian
Tám chánh: Chánh kiến thảy
Đường bằng phẳng thản nhiên
Rốt ráo vô ngã sở
Như củi hết lửa tắt
Việc phải làm đã làm
Đã thành đạo Chánh giác
Rốt ráo Nghĩa đệ nhất
Vào nhà bậc Đại tiên.
Tối hết, tướng sáng sinh
Động, Tĩnh đều vắng lặng
Chứng được vô tận pháp
Nhất thiết trí sáng ngời.
Đại tiên đức thuần hậu
Rung chuyển khắp mặt đất
Vũ trụ đều sáng rỡ Thần,
Rồng, Trời nhóm họp
Trên không tấu nhạc trời
Để cúng dường chánh pháp.
Gió mát nhè nhẹ thổi
Mây trời rưới mưa thơm
Hoa mầu nở trái lúc
Trái ngọt chín trước mùa
Các hoa báu cõi trời
Như Đại Mạn-đà-la
Từ trên không rơi khắp
Cúng dường Đấng Thích-ca.
Các chúng sinh dị loại
Lòng lành đến với nhau
Sợ hãi đều dứt hết
Không còn tâm sân mạn.
Tất cả các thế gian
Đều như bậc lậu tận

* Trang 137 *
device

Chư Thiên ưa giải thoát
Đường ác được tạm an
Phiền não tạm ngưng đọng
Trăng tuệ dần thêm sáng.
Vị tiên dòng Cam Giá
Có những người sinh Thiên
Thấy Đức Phật ra đời
Vui mừng đầy khắp thân
Liền từ cung điện trời
Mưa hoa xuống cúng dường.
Các Trời, Thần, Quỷ, Rồng
Cùng khen công đức Phật.
Người đời thấy cúng dường
Và nghe tiếng khen ngợi
Tất cả đều vui theo
Hớn hở không kềm được
Chỉ có Ma thiên vương
Trong tâm rất lo buồn.
Phật trong bảy ngày ấy
Thiền tư tâm thanh tịnh
Quán sát cây Bồ-đề
Chăm chú không chớp mắt:
“Ta nương tựa chỗ này
Được toại tâm nguyện xưa
An trụ pháp vô ngã
Mắt Phật nhìn chúng sinh
Phát tâm rất thương xót
Muốn họ được thanh tịnh
Tham, sân, si, tà kiến
Trôi chìm mất bản tâm
Giải thoát rất nhiệm sâu
Nhờ đâu giảng nói được?
Nếu lìa phương tiện cần
An trụ trong im lặng
Nhớ lại bản thệ nguyện

* Trang 138 *
device

Lại sinh tâm nói pháp
Quán sát các chúng sinh
Ai phiền não tăng giảm?”
Phạm thiên biết Phật Nghĩ
Nên thỉnh Ngài chuyển pháp
Phát ánh sáng Phạm khắp
Vì độ chúng sinh khổ
Đến thấy Đấng Mâu-ni
Tướng đại nhân nói pháp
Nghĩa mầu đều hiện rõ
An trụ trong thật trí
Lìa lỗi gây khó dễ
Không có tâm dối luống
Tâm cung kính vui mừng
Chắp tay khuyên mời rằng:
“Nhờ phước gì thế gian
Gặp được Đấng Đại Bi?
Tất cả loài chúng sinh
Tâm cặn bã nhơ uế
Hoặc phiền não nặng nề
Hoặc phiền não nhỏ nhiệm
Thế Tôn đã hóa độ
Biển khổ lớn sinh tử
Nguyện sẽ cứu giúp họ
Các chúng sinh chìm đắm.
Như Nghĩa sĩ ở đời
Được lợi đồng chúng sinh
Thế Tôn được pháp lợi
Nên cứu giúp chúng sinh
Con người thường tự lợi Ta,
người thêm lợi, nạn
Xin rủ lòng Từ bi
Vì nạn trong các nạn.”
Khuyên mời như thế rồi
Giã từ trở về trời

* Trang 139 *
device

Phật do Phạm thiên thỉnh
Với tâm vui chí thành
Nuôi lớn tâm đại bi
Ý nói pháp tăng thêm,
Nghĩ sẽ đi khất thực
Bốn vua trời dâng bát
Như Lai vì pháp nên
Nhận bốn hợp thành một
Bấy giờ có người buôn
Được Thiên thần mách rằng:
“Đấng Đại Tiên Mâu-ni
Ở trong khu rừng kia
Ruộng phước tốt thế gian
Người nên đến cúng dường”.
Nghe nói rất vui mừng
Dâng cúng bữa cơm đầu.
Dùng xong, Phật lại Nghĩ:
“Khai pháp cho ai trước?
Chỉ có A-la-lam
Và Uất-đầu-la-ma
Có thể thọ chánh pháp
Nhưng nay đã qua đời
Còn năm Tỳ-kheo thôi
Nên nghe pháp đầu tiên.”
Muốn nói pháp vắng lặng
Như ánh nắng xua tối
Liền đến Ba-la-nại
Chỗ ở vị Tiên xưa
Khoan thai bước sư tử
Bình thản mắt ngưu vương
Vì độ chúng sinh nên
Thành Ca-thi thẳng đến
Vua thú bước thanh thản
Ngoái nhìn rừng Bồ-đề.

* Trang 140 *
device

Phẩm 15: CHUYểN PHÁP LUÂN
 
Như Lai khéo vắng lặng
Ánh sáng soi chiếu khắp
Oai nghiêm đi một mình
Giống như đông người theo
Trên đường gặp Phạm chí
Tên là Ưu-ba-ca
Giữ gìn Tỳ-kheo nghi
Cung kính đứng bên đường
Mừng gặp chưa từng có
Chắp tay mà hỏi rằng:
“Chúng sinh đều đắm nhiễm
Dung nhan Ngài không đắm
Tâm người đời dao động
Riêng Ngài các căn lặng
Vẻ sáng như trăng rằm
Tựa như vị cam lộ
Dung mạo tướng đại nhân
Vua sức tuệ tự tại
Điều phải làm đã làm
Học hỏi với thầy nào?”
Đáp rằng: “Ta không thầy
Không nương, không gì hơn
Tự ngộ pháp sâu xa
Được điều người không được
Điều mà người phải giác
Thế gian không ai giác
Ta nay đã tự giác
Nên gọi là Chánh Giác.
Phiền não như kẻ thù
Dùng kiếm tuệ chiết phục
Cho nên đời khen ngợi
Được gọi là Tối Thắng,

* Trang 141 *
device

Sẽ đến Ba-la-nại.
Đánh trống pháp cam lộ!
Không mạn, không còn tên
Cũng không cầu lợi lạc
Chỉ vì tuyên chánh pháp
Cứu vớt khổ chúng sinh.
Do xưa phát thệ rộng
Độ người chưa được độ
Kết quả thệ nay thành
Sẽ toại bổn nguyện này.
Giàu có tự cung cấp
Chẳng gọi là Nghĩa sĩ
Lợi ích cho mọi người
Được gọi Đại Trượng Phu.
Gặp nguy không cứu vớt
Đâu gọi dũng sĩ được,
Thấy bệnh không chữa trị
Đâu gọi thầy thuốc hay,
Thấy lạc không chỉ lối
Ai gọi người dẫn đường?
Như đèn soi chỗ tối
Vô tâm mà tự sáng
Như Lai thắp đèn tuệ
Không cầu các dục tình
Dùi gỗ sẽ có lửa
Không trung gió tự nhiên
Đào đất sẽ được nước
Lẽ tự nhiên như vậy.
Tất cả các Mâu-ni
Thành đạo là Già-gia
Cũng đồng nước Ca-thi
Quay bánh xe chánh pháp”.
Phạm chí Ưu-ba-ca
Kêu lên: Lạ lùng quá!
Theo tâm trước đã hẹn

* Trang 142 *
device

Theo đường riêng khác nhau
Nghĩ rằng chưa từng có
Bước từng bước ngập ngừng.
Như Lai dần tiến bước
Đi đến thành Ca-thi
Đất này rất trang nghiêm
Như cung trời Đế Thích
Sông Hằng, Ba-la-nại
Nằm giữa hai con sông
Rừng cây, hoa quả mượt
Cầm thú đến nhởn nhơ
Vắng lặng, không ồn náo
Nơi các tiên xưa ở.
Ánh Như Lai chiếu sáng
Càng thêm vẻ sáng ngời
Kiều-trần-như tộc tánh
Kế Thập lực Ca-diếp
Ba tên Bà-sáp-ba
Bốn A-thấp-ba-thệ
Năm tên Bạt-đà-la
Tu khổ hạnh núi rừng
Xa thấy Như Lai đến
Họ ngồi lại cùng bàn:
“Cù-đàm đắm vui đời
Xả bỏ các khổ hạnh
Nay lại trở về đây
Ta chớ đứng dậy đón
Cũng đừng lễ, thăm hỏi
Cung cấp đồ cần dùng.
Đã quên lời thề xưa
Không nên thọ cúng dường.
Hễ người thấy khách đến
Nên sửa soạn trước sau
Như chuẩn bị chiếu giường
Để mời họ yên nghỉ”.

* Trang 143 *
device

Giao ước như thế rồi
Thì ai về chỗ nấy
Mỗi người đều ngồi yên
Như Lai dần bước đến
Họ chợt quên giao ước
Có người nhường chỗ ngồi
Có người đỡ y bát
Có người rửa chân Phật
Có người hỏi việc cần
Làm mọi việc như vậy
Tôn kính như bậc Thầy
Chỉ không bỏ dòng tộc
Vẫn gọi tên Cù-đàm.
Thế Tôn bảo họ rằng:
“Chớ gọi dòng họ ta
Đối với A-la-ha
Mà sinh lời ngạo mạn
Dù kính trọng hay không
Tâm ta đều bình đẳng.
Tâm các ông bất kính
Tự vời lấy tội lỗi
Phật độ được thế gian
Cho nên gọi là Phật
Với tất cả chúng sinh
Bình đẳng xem như con
Mà gọi tên họ Ta
Phạm tội như khinh cha!”
Phật dùng tâm đại bi
Thương xót mà bảo họ
Tâm họ vẫn ngu si
Không tin Ngài thật ngộ
Cho rằng trước khổ hạnh
Mà còn không chứng đắc
Nay thân, miệng hưởng lạc
Làm sao mà thành Phật?

* Trang 144 *
device

Cứ như vậy nghi hoặc
Không tin Ngài thành Phật
Được thật Nghĩa cứu cánh
Tất cả trí đầy đủ.
Như Lai liền vì họ
Nói lược về yếu đạo:
“Người ngu tu khổ hạnh
Thích làm vui các căn
Thấy hai khác biệt ấy
Thì đó là lỗi lớn
Không phải đạo chánh chân
Vì trái với giải thoát.
Nhọc thân tu khổ hạnh
Tâm ý vẫn rong ruổi
Thế trí còn chẳng sinh
Huống siêu vượt các căn
Như thắp đèn bằng nước
Không bao giờ hết tối.
Nhọc thân tu đèn tuệ
Không thể dứt ngu si
Dùi củi mục tìm lửa
Tốn công chẳng được gì?
Theo cách người lấy lửa
Liền được lửa dùng ngay.
Cầu đạo không khổ thân
Mà được pháp cam lộ
Đắm dục là phi Nghĩa
Ngu si ngăn tuệ sáng
Kinh luận còn không rõ,
Huống được đạo lìa dục!
Như người bị bệnh nặng
Ăn thức không tùy bệnh
Không biết đó bệnh nặng
Đắm dục làm sao dứt?
Đốt lửa nơi đồng trống

* Trang 145 *
device

Cỏ khô thêm gió mạnh
Lửa tham ái cũng vậy
Ai dập được cháy to?
Ta đã rời “nhị biên”
Tâm sống với “Trung đạo”
Các khổ rốt ráo dứt
Vắng lặng lìa các lỗi
Chánh kiến hơn ánh dương
Xe bình đẳng giác quán,
Chánh ngữ là nhà ở
Rừng chánh nghiệp dạo chơi
Chánh mạng tư cách đẹp
Phương tiện là đường chánh
Chánh niệm là thành quách
Chánh định là giường ghế
Tám đường chánh bằng phẳng,
Thoát khỏi khổ sinh tử
Từ đường ấy thoát ra
Việc làm đã rốt ráo
Không rơi vào kia đây.
Hai đời là thường khổ
Ba cõi thuần nhóm khổ
Chỉ tám đường dứt được
Vốn chưa từng được nghe
Mắt thanh tịnh chánh pháp
Thấy được đạo giải thoát.
Nay chỉ Ta bắt đầu
Khổ sinh, già, bệnh, chết
Yêu chia ly, oán gặp
Việc mong cầu chẳng được
Và các thứ khổ khác
Lìa dục, chưa lìa dục
Có thân và không thân
Lìa công đức thanh tịnh
Nói lược đó đều khổ.

* Trang 146 *
device

Giống như lửa cháy ngưng
Tuy đóm nhỏ vẫn nóng
Vắng lặng còn chút ngã
Tính khổ lớn vẫn còn,
Các phiền não: tham, sân…
Và các lỗi của nghiệp
Đó chính là nhân khổ.
Lìa bỏ thì khổ dứt
Như các hạt giống kia
Không gặp đất, nước… thảy
Các duyên chẳng hòa hợp
Thì mầm lá không sinh
Có tánh, hữu nối tiếp
Từ trời đến đường ác
Luân hồi mãi không dừng.
Đó do tham dục sinh Thấp,
vừa, cao khác nhau
Các thứ nghiệp là nhân.
Nếu dứt được tham thảy
Thì không có nối nhau
Nếu các thứ nghiệp hết
Khổ sai biệt dứt hẳn.
Đây có thì kia có
Đây không thì kia không
Không sinh, già, bệnh, chết
Không đất, nước, lửa, gió
Cũng không đầu, giữa, cuối
Không phải pháp dối gạt
Chỗ trụ của Thánh hiền
Thật vắng lặng vô tận.
Tám đường chánh đã nói
Là phương tiện không thừa
Thế gian không thấy được
Mọi người mãi lầm mê
Ta biết khổ, dứt tập

* Trang 147 *
device

Chứng diệt, tu chánh đạo
Quán bốn chân đế này
Liền thành Đẳng Chánh Giác.
Rằng Ta đã biết khổ
Đã dứt nhân hữu lậu
Đã chứng đắc Diệt tận,
Đã tu tám đường chánh
Đã biết bốn chân đế
Thành mắt pháp thanh tịnh
Với bốn chân đế này
Chưa sinh mắt bình đẳng
Chẳng gọi được giải thoát.
Không nói: làm, đã làm
Cũng không nói: tất cả
Thành trí giác chân thật
Vì biết bốn chân đế
Tự biết được giải thoát
Tự biết làm, đã làm
Tự biết Đẳng Chánh Giác.”
Khi nói lời thật này
Dòng họ quý Kiều-trần
Tám vạn các Thiên chúng
Thấu triệt Nghĩa chân thật
Xa lìa các bụi nhơ
Chứng pháp nhãn thanh tịnh.
Thiên Nhân Sư biết ngài
Việc phải làm đã làm
Tiếng sư tử vui mừng
Hỏi Kiều-trần: “Hiểu chưa?”
Kiều-trần liền bạch Phật:
“Đã hiểu pháp Đại Sư”
Vì ngài hiểu pháp nên
Gọi A-nhã Kiều-trần
Trong các đệ tử Phật
Là người ngộ đầu tiên.

* Trang 148 *
device

Ngài biết tiếng chánh pháp
Nghe được các thần đất
Đều cùng cất tiếng nói:
“Hay thay! pháp sâu xa
Đức Như Lai hôm nay
Chuyển pháp chưa từng chuyển
Khắp vì các trời, người
Mở rộng cửa cam lộ
Tịnh giới là nan hoa
Giúp điều phục vắng lặng
Trí vững là vành bánh,
Hổ thẹn cầu nối thành
Chánh niệm vỏ bọc quanh
Thành pháp Luân chân thật
Chánh chân rời ba cõi
Chẳng lui, theo tà sư.”
Thần đất nói như vậy
Thần hư không ca tụng
Các trời lại khen ngợi
Thấu đến cõi trời Phạm
Các Thiên thần ba cõi
Vừa nghe Đại Tiên giảng
Kinh hãi bảo nhau rằng:
“Khắp nghe Phật ra đời,
Vì muôn loài chúng sinh
Chuyển pháp luân vắng lặng.”
Mây mù tan, gió tạnh
Không trung hoa trời rơi
Chư Thiên tấu nhạc trời.
Mừng khen: Chưa từng có!

* Trang 149 *
device

 
Đại Tập XIV, Bộ Bản Duyên V (Số 192 - 198)