LOGO VNBET
KINH TRUNG BỔN KHỞI

QUYỂN HẠ

 
Phẩm 7: TU-ĐẠT
 
Đức Phật từ Xá-vệ cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ-kheo Tăng trở về vườn Trúc trong thành Vương xá. Trưởng giả Bá Cần1 đã được sự cảm hóa của Đức Phật nên phát khởi lòng cung kính đi đến vườn Trúc, cúi năm vóc sát đất đảnh lễ chân Phật, đi nhiễu quanh, rồi đứng trang nghiêm tâm ý bạch Phật:
–Cúi mong Đức Thế Tôn hạ cố đến nhà con thọ dụng bữa trai đạm bạc.
Đức Phật im lặng nhận lời. trưởng giả vui mừng lạy dưới chân Đức Thế Tôn rồi lui ra. Khi về đến nhà, trưởng giả sai người chuẩn bị đầy đủ các thứ cần dùng cho trai lễ, sắp xếp lọng, phướn thật trang nghiêm và đích thân ông nấu các thức ăn hương vị tuyệt hảo.
Trong thành Xá-vệ, có một vị trưởng giả tên là Tu-đạt2 tuy chưa từng hội ngộ với trưởng giả Bá Cần nhưng cả hai đều được nghe tiếng tăm của nhau. Đời sống và đức hạnh tương đồng nên dù ở xa mà đã xem nhau như bạn.
Tu-đạt có việc sang thành Vương xá, nhân tiện muốn đến nhà để kết thân. Đúng lúc, trưởng giả Bá Cần đang tự thân sửa soạn trai phẩm cúng dường nên không thể ra ngoài đón tiếp. Tu-đạt ngồi đợi mãi lâu sau mới gọi người hầu hỏi:
–Ta từ xa đến đây thăm viếng vì sao ông chủ ngươi không ra tiếp? Từ trước đến nay ta luôn có lòng kính trọng vị ấy nên đến đây. Nay chẳng lẽ ta phải mất đi tình cảm đó sao? Vì sao hôm nay tiếp đãi lạnh nhạt như vậy?
________________
1. Bá Cần tức trưởng giả Ca-lan-đà, còn gọi là Ca-lan-ca. Xem kinh Trung Bổn Khởi, q.Thượng, Phẩm thứ 4: Độ vua Bình-sa.
2. Tu-đạt, Tấn dịch là Thiện Ôn.

* Trang 792 *
device

Ngay khi đó, Ca-lan-đà vừa xong việc vội ra tiếp đón. Nhưng Tu-đạt ngồi yên quay mặt đi trách móc:
–Xưa nay tôi chưa từng phải chịu cảnh tình nhục nhã, đến thăm viếng lại không được đón tiếp phải ngồi ngóng đợi như thế này.
Ca-la-đà nói:
–Tôi thật không ngờ hôm nay ngài đến thăm. Ngày mai tôi có thỉnh Đức Thế Tôn và chư Tăng, phải đích thân lo lắng sắp xếp mọi thứ việc nên không một phút nào rảnh rỗi để kịp ra nghinh tiếp. Chính vì việc đó nên lòng tôi cứ lo mãi, không yên.
Tu-đạt hỏi:
–Đức Thế Tôn và chư Tăng là ai? Đó là tiệc cưới hay tiệc mừng nhân ngày lễ hội trong nước?
Trưởng giả Ca-lan-đà đáp:
–Này người bạn đồng chí hướng, ngài không biết thật sao? Vị Thái tử con vua Bạch Tịnh vào núi tu tập sáu năm, nay đã thành đạo hiệu là Phật. Phạm tướng trang nghiêm, uy nghi rạng rỡ của Ngài cao vượt hơn tất cả, trí tuệ của Ngài như vầng sáng xua bong tối, thân Ngài cao tầm một trượng sáu, thân sắc đẹp đẽ màu vàng tía tỏa chiếu khắp thế gian. Ngài thuyết pháp thông suốt vô ngại, Nghĩa lý rất rõ ràng, rốt ráo. Các đệ tử theo Ngài tu tập được gọi là Tỳ-kheo Tăng. Các vị ấy thường trú nơi vắng lặng giữ thân ngay thẳng, theo đạo tu tập đức hạnh, không màng vinh hoa lợi dưỡng nên được gọi là bậc Chân nhân, gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Tu-đạt vừa nghe đến tiếng Phật, thân bỗng rung động, long tóc dựng đứng, lòng khấp khởi mừng vui. Đêm đó ông cứ mong chờ trời sáng nên tâm trạng bồn chồn, trằn trọc không sao ngủ được. Tâm niệm vô cùng thành kính của Tu-đạt làm cảm động đất trời, mới nửa đêm mà trời bỗng bừng sáng. Ông lập tức ngồi dậy, vận trang phục đi ra hướng cửa thành. Nhìn sang phía trái thành môn có một ngôi miếu thờ vị thần tên Thấp-ba, ông rảo bước sang đó quỳ lạy. Khi lễ bái xong, ông mới nhận ra trời vẫn tối đen mù mịt. Tu-đạt thoáng hoảng sợ chẳng biết đi đâu. Tuy có sự lạ thường ấy nhưng do tâm ông luôn chí thành Nghĩ đến Đức Phật nên nỗi kinh sợ liền lặng tắt. Từ khoảng không vang lên tiếng nói:

* Trang 793 *
device

–Lành thay! Này Tu-đạt, ông nhờ tâm niệm chí thành mới được như vậy.
Trưởng giả theo hướng thanh âm phát ra từ hư không hỏi:
–Ngài là vị thần nào vậy?
Liền có tiếng trả lời:
–Tôi là quyến thuộc của trời Nhân-đề36.Tu-đạt lại hỏi:
–Ngài vốn từ đâu sinh ra mà sao lại ở giữa hư không?
Vị ấy trả lời:
–Ngày xưa, tôi theo ngài Đại Mục-kiền-liên, đệ tử thần túc của Đức Phật, nghe thuyết kinh pháp. Nhờ phước báo ấy nên tôi được sinh lên tầng trời Đao-lợi thuộc cõi Dục giới nhưng vì công đức quá ít nên được lệnh coi giữ ở đây. Thấy ngài có tâm niệm vô cùng thành kính nên tôi đến để giúp đỡ. Đức Phật là Bậc Chí Tôn, cứ mỗi bước đến với Ngài thì phước đức vô lượng. Tiếc vì lúc còn sống, tôi không được gặp Đức Phật. Nếu nay được diện kiến Ngài, tôi sẽ thấu rõ được chân lý.
Vị Thiên ấy từ thân phóng luồng ánh sáng lớn chiếu đến vườn Trúc. Thiên Ôn theo luồng sáng ấy đi tới. Từ xa trưởng giả thấy Đức Như Lai vượt hơn cả những điều ông được nghe, liền đến trước lễ bái rồi bước qua một bên, lặng lẽ chiêm ngưỡng thân tướng của Đức Phật. Trưởng giả lên tiếng vấn an:
–Bạch Đức Thế Tôn, Ngài có được an ổn không?
Đức Phật vì Tu-đạt nói bài kệ:
Không sầu cũng không vui
Tâm không, lòng an tịnh
Vô sinh nơi tịch trú
Kiến đế-trụ Niết-bàn
Tỉnh giác, niệm đoan chánh
Soi sáng độ quần sinh
__________________
3. Nhân-đề: còn gọi là Nhân-đà-la, Nhân-đạt-la, Nhân-đê, Nhân-đề-lê; tức thần mưa, sấm (Indra). Theo Huyền ứng âm nghóa, q.32, Nhân-đề: Hán dịch là Thiên chủ, Thiên chủ Đê, cũng tức là Thích Đề-hoàn Nhân, trời Đế Thích. Đây là vị trời Hộ pháp tối cao của Phật giáo đương thời, ngang với Phạm thiên.

* Trang 794 *
device

Giác chánh niệm trong sáng
Chặt đứt vòng ân ái
Mãi an lạc, tịch không.
Vừa nghe xong bài kệ, trưởng giả Tu-đạt nhờ công đức trong quá khứ nên liền khởi lên ý niệm thanh tịnh, lập tức đắc được pháp nhãn, cúi đầu xin quy y ba ngôi báu, vâng giữ năm giới làm Thanh tín sĩ. Trưởng giả tiến đến trước Phật bạch:
–Cúi mong Đức Như Lai quang lâm nước Xá-vệ truyền dạy chánh pháp, độ cho người dân nước chúng con trong một thời gian.
Đức Phật hỏi:
–Ông tên họ là gì?
Trưởng giả quỳ xuống bạch:
–Con tên là Tu-đạt. Do con thường nuôi nấng, cấp dưỡng lương thực, quần áo cho những người già cả cô độc, nên mọi người trong nước còn gọi con là Cấp Cô Độc.
Đức Phật hỏi Tu-đạt:
–Ở đó có tinh xá cho các đệ tử của Ta cư trú không?
Tu-đạt thưa:
–Bạch Thế Tôn, chưa có.
Trưởng giả Tu-đạt vâng theo thánh ý của Đức Phật tiến ra trước, quỳ xuống bạch Đức Thế Tôn:
–Con có thể lãnh trách nhiệm xây dựng tinh xá, chỉ cần có một vị Tỳ-kheo đến để xem chỗ nào thuận tiện.
Đức Phật nhìn sang Tôn giả Xá-lợi-phất dạy:
–Ông hãy đến đó giúp đỡ trưởng giả cùng lo việc xây cất.
Tôn giả vâng theo lời dạy của Đức Phật cúi lạy lui ra cùng Tu-đạt trở về Xá-vệ, đi khắp nơi tìm chọn đất. Ngài thấy chỉ có khu vườn của thái tử Kỳ-đà là thuận tiện. Nơi ấy có các loại cây ăn trái, có suối chảy, nhiều giống chim lạ tụ tập, đất đai bằng phẳng, cây cối xanh tươi, lại cách thành Xá-vệ không xa. Trưởng giả Tu-đạt liền đến nơi thái tử Kỳ-đà ngỏ ý muốn mua lại khu vườn, nhưng Kỳ-đà hoàn toàn không có ý bán. Tu-đạt cứ khẩn khoản xin mua mãi, Kỳ-đà tức giận nói:
–Nếu ông có thể đem tiền vàng trải đầy hết khu vườn thì tôi mới bán.

* Trang 795 *
device

Trưởng giả liền hỏi ngay:
–Có thật ngài quyết định như thế không?
Kỳ-đà bảo:
–Ta nêu giá cao như vậy chắc là ông không đủ tiền mua đâu. Ta nói đùa thế thôi.
Tu-đạt nói:
–Ngài đã quyết định rồi, còn nghi ngờ gì nữa!
Tu-đạt từ giã, trở về nhà đưa các xe chở tiền vàng đến. Người giữ vườn không rõ nội vụ vội chạy vào tâu thái tử:
–Ngài Tu-đạt mang tiền đến, không rõ ngài có chấp thuận bán vườn hay không mà sao không truyền lệnh xuống cho thần?
Kỳ-đà đáp:
–Ta chỉ nói đùa như thế. Vị ấy mang tiền đến thì chớ nhận.
Tu-đạt và Kỳ-đà cùng nhau tranh cãi. Các bậc trưởng lão trong nước đến khuyên can, phân xử:
–Thái tử đã quyết định giá đất rồi thì không nên hối tiếc. Chánh trị nước nhà đang thanh bình, thái tử không nên đi ngược lại luật pháp!
Kỳ-đà đồng ý cho Tu-đạt lót tiền trong khu vườn nhưng số tiền vàng đem đến không đủ phủ kín mặt vườn. Kỳ-đà vui mừng thầm Nghĩ: “Khu vườn vẫn thuộc về ta thôi!”, liền sai người đến thúc giục. Tu-đạt đích thân đến xem. Hai người cùng ra vườn, Tu-đạt thấy số tiền vàng chưa trải khắp khu vườn trong lòng bực bội không vui.
Kỳ-đà bảo:
–Thưa Hiền sĩ, nếu ngài hối tiếc hãy ngừng việc trải tiền này lại.
Trưởng giả Tu-đạt thưa:
–Tôi không hối tiếc. Tôi chỉ đang suy Nghĩ nên xuất số vàng của kho nào để lót cho đủ khoảnh đất còn lại thôi.
Lúc ấy, trong lòng thái tử Kỳ-đà khởi lên ý Nghĩ: “Đức Phật chắc phải là Bậc Tôn Kính tối thượng nên mới khiến người này đem hết tiền bạc ra cúng dường mà không hối tiếc. Đối với Bậc Tối Tôn ấy ta nên cúi đầu kính ngưỡng, vì Ngài có sức thần diệu đến như vậy”. Kỳ-đà liền nói với Tu-đạt:
–Ngài không cần mang thêm tiền để trải trên khoảnh đất còn

* Trang 796 *
device

lại. Tôi xin cúng dường các cây cối trong vườn, cùng ngài xây dựng tinh xá.
Tu-đạt đáp:
–Lành thay! Thưa vâng.
Trưởng giả lập tức cho khởi công xây dựng Tăng phòng; sắm sửa tọa cụ, giường chõng, mền nệm đẹp nhất, treo tràng phan, dùng nước hoa rưới trên đất, bày biện đầy đủ vật dụng cúng dường và các thức trai phẩm thật tinh khiết. Sau đó trưởng giả đốt các hương thơm, từ xa quỳ xuống thỉnh Đức Phật:
–Cúi mong Đức Như Lai hạ cố quang lâm.
Bấy giờ Đức Chúng Hựu theo lời thỉnh cầu của Tu-đạt, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ-kheo Tăng đi đến nước Xá-vệ. Oai thần của Đức Phật vang dội khắp mọi nơi, nhân dân trong nước, nam nữ, già trẻ đều hân hoan, mừng đón đứng chật cả đường.
Trưởng giả Cấp Cô Độc và Nan-đà, hoàng đệ của đức vua tiến ra phía trước, lạy dưới chân Đức Phật, thỉnh Đức Thế Tôn và chư Tăng cùng lên tinh xá. Đức Phật chấp nhận sự cúng dường và chú nguyện, dạy gọi trụ xứ này là Khu lâm viên của thái tử Kỳ-đà và trưởng giả Cấp Cô Độc.
Sau đó trong nước có việc nên đức vua sai người mời Tu-đạt về gấp. Tu-đạt đến dự hội nhưng vẫn cung kính hết lòng vâng giữ trai giới. Công việc hoàn tất, trên đường trưởng giả trở về có người dâng một bình sữa. Vì không có ai theo hầu nên Tu-đạt phải tự mình mang bình sữa đi. Đi một đoạn đường gặp một vị Phạm chí, ông nhờ mang hộ bình sữa cùng đến tinh xá. Tự tay ông rót sữa cúng dường rồi quay sang vị Phạm chí bảo:
–Ông cũng nên rót sữa dâng cúng cho Đức Thế Tôn.
Đức Phật độ trai xong, cả hai dâng nước để Ngài rửa tay. Mọi người thân tướng nghiêm trang, giữ lòng thanh tịnh lắng nghe Thế Tôn giảng pháp. Sau thời pháp, tất cả chúng hội đều hoan hỷ, tán thán vô cùng.
Buổi chiều trở về nhà, vị Phạm chí vâng giữ trai giới không dùng cơm. Người vợ ngạc nhiên hỏi:
–Không rõ ông đang oán giận việc gì?
Vị Phạm chí trả lời:

* Trang 797 *
device

–Chẳng phải tức giận, chỉ vì tôi đang vâng giữ trai giới.
Người vợ liền chất vấn:
–Ông nghe theo ai mà lại giữ trai giới?
Phạm chí đáp:
–Trưởng giả Cấp Cô Độc dâng cúng trai thực cho Đức Phật tại khu lâm viên Kỳ hoàn, có mời ta đến tham dự bữa trai giới, được gọi là Bát quan trai.
Người vợ khóc lóc tức giận nói:
–Ông đã bỏ phép tắc xưa nay của Phạm chí thì tai họa sẽ từ đó sinh ra mà thôi. Cù-đàm làm rối loạn phép tắc, sao ông lại có thể tin theo người ấy được?
Vị Phạm chí bị vợ bức ép mãi nên phải dùng bữa cùng với vợ. Vào lúc nửa đêm, vị Phạm chí mạng chung, sinh vào nước Uất-đa-la-vệ làm vị thần cây trong một cái đầm lớn. Khi ấy có năm trăm vị Bà-la-môn muốn đến sông Hằng, chỗ ba cái ao thờ thần, tắm rửa tẩy trừ cấu uế để mong được thần gia hộ. Đi giữa đường thì bị thiếu lương thực, từ xa trông thấy thân cây ấy họ tưởng có dòng suối nên vội chạy đến cội cây nhưng hoàn toàn không thấy gì. Trong đầm, cả đoàn bị cơn đói khát hoành hành, vô cùng nguy khốn. Vị thần cây hóa hiện thành thân người hỏi các vị Phạm chí:
–Các vị từ đâu đến? Nay muốn đi đâu?
Các vị Phạm chí đều lên tiếng trả lời:
–Chúng tôi muốn đến ao thần để tắm rửa, cầu thần gia hộ. Nay bị đói khát mong ngài thương xót cứu giúp.
Vị thọ thần cất tay lên lập tức đầy đủ các món ăn, thức uống ngon thơm hiện ra. Sau khi ăn uống no nê, họ đến chỗ thọ thần thưa hỏi:
–Ngài đã tạo công đức gì mà nay có sức thần biến to lớn như vậy?
Vị thọ thần trả lời:
–Lúc trước, tôi nhờ vị trưởng giả Cấp Cô Độc ở nước Xá-vệ khuyên bảo nên vâng giữ tám pháp trai giới, nhưng lại bị vợ cản trở làm cho không vâng giữ trai giới trọn vẹn. Khi mạng chung tái sinh làm thọ thần ở đầm này. Nếu vâng giữ đầy đủ tám pháp trai giới sẽ được phước báo sinh lên cõi trời.

* Trang 798 *
device

Vị thọ thần nói bài kệ:
Thờ thần gieo gốc họa
Nhánh cành vụt lớn nhanh
Điêu tàn, thân tự khổ
Trai giới độ Thiên, Nhân.
Các vị Phạm chí nghe xong bài kệ liền tỉnh ngộ, vâng nhận lời dạy quay về Xá-vệ. Trên đường trở về, họ đi ngang qua vương quốc Câu-lam-ni4.Trong nước này có vị trưởng giả tên Cù-sư-la5 được nhân dân kính yêu, tin tưởng, trưởng giả nói gì họ cũng nghe. Đoàn Phạm chí đến nhà trưởng giả xin nghỉ qua đêm.
Trưởng giả Mỹ Âm hỏi:
–Quý vị từ đâu đến? Nay muốn đi đâu?
Các vị Phạm chí thuật lại đầy đủ câu truyện công đức của vị thọ thần ở đầm kia cho trưởng giả nghe và tỏ ý muốn đến nước Xá-vệ chỗ trưởng giả Cấp Cô Độc để xin thọ trì tám pháp trai giới mới thỏa nguyện.
Nghe xong, Mỹ Âm toàn thân rung động, mừng vui vô hạn, nhớ lại các hạnh nghiệp đã tạo trong quá khứ nên bày tỏ ý muốn đi theo. Sáng sớm, ông lệnh bảo người trong gia đình và thân bằng quyến thuộc:
–Ai muốn vâng giữ trai giới có thể cùng đi với tôi.
Tất cả có năm trăm người cùng lên tiếng xin đi. Nương theo nguyện lực khi xưa, mọi người đều tận tâm chuẩn bị lên đường đến nước Xá-vệ.
Chưa đến tinh xá Kỳ hoàn, giữa đường Mỹ Âm gặp trưởng giả Tu-đạt đang trên đường đến nơi Phật ngự đi ngang, không biết là ai bèn hỏi các người cùng đi trong đoàn:
–Đó là vị quan nào thế?
Mọi người lên tiếng đáp:
–Đó là vị trưởng giả Cấp Cô Độc.
Các vị Phạm chí và mọi người đều vui mừng đuổi theo, nói:
______________
4. Câu-lam-ni (Pàli: Kosambì; Sanskrit: Kausàmbi): tức Kiều-thường-di.
5. Cù-sư-la (Pàli: Ghosira): còn gọi là Cụ-sử-la, Cồ-tư-la, Cù-sử-la. Đời Tấn dịch là Mỹ Âm.

* Trang 799 *
device

–Mong ước của chúng ta đã thành tựu rồi! Muốn gặp người thì được gặp.
Cả đoàn đuổi theo, gặp được trưởng giả Cấp Cô Độc. Tất cả đều cất lời ngợi khen:
–Từ lâu chúng tôi đã hết lòng ngưỡng mộ, học theo đạo đức của ngài. Chúng tôi được nghe ở đây có Bậc Đạo Sư dạy tám pháp trai giới nên từ xa đến đây để nương học. Thật là may mắn, mong ngài hướng dẫn! Tu-đạt dừng xe lại đáp:
–Vị Đạo sư của tôi hiệu là Như Lai, Bậc Chúng Hựu. Ngài đang trụ tại tinh xá Kỳ hoàn hóa độ mọi người. Các vị có thể cùng tôi đến đó ra mắt Đức Thế Tôn.
Mọi người cung kính vâng theo lời trưởng giả Cấp Cô Độc, giữ trọn tâm thành, quyết chí đi theo. Từ xa trông thấy Đức Như Lai, tất cả đoàn người trong tâm khởi lên niệm hoan hỷ, năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ lui ra, rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật quán sát tâm niệm của họ, theo duyên tuyên giảng pháp yếu. Năm trăm vị Phạm chí nghe pháp xong đều đắc quả A-na-hàm, xin xuất gia làm Sa-môn. Gia thân quyến thuộc của trưởng giả Mỹ Âm đều đắc pháp nhãn.
Các vị Tỳ-kheo bạch Đức Phật:
–Năm trăm vị Phạm chí và các vị trưởng giả vì sao thành tựu đạo quả nhanh như vậy?
Đức Thế Tôn dạy:
–Trong khoảng thời gian không lâu trước đây, khi ấy có Đức Phật hiệu là Ca-diếp giảng pháp cho các vị Phạm chí và trưởng giả này. Ngài dạy rằng Ta sẽ thành tựu Phật ở tương lai. Các vị Phạm chí liền ở trước Phật Ca-diếp hân hoan phát nguyện mong ước trong tương lai được gặp Đức Phật Thích-ca Văn. Các trưởng giả cũng đồng nguyện như vậy. Nhờ nhân duyên ấy nên gặp Ta họ liền được giải thoát.
Các vị Tỳ-kheo vui mừng, vâng nhận lời dạy, theo đó tu tập.
Lúc đó, trưởng giả Mỹ Âm có tâm niệm muốn thỉnh Đức Thế Tôn. Đức Phật biết ý Nghĩ trong tâm của trưởng giả nên dạy:
–Tại Câu-lam-ni chưa có tinh xá vì vậy ý nguyện của ông chưa thể thành tựu.

* Trang 800 *
device

Mỹ Âm vui mừng, tâm niệm thông suốt, ra trước Đức Phật bạch:
–Con có một tòa nhà riêng xin đem làm tinh xá. Cúi mong Đức Thế Tôn thương xót đến đó hóa độ chúng sinh.
Thưa thỉnh xong trưởng giả vội trở về nước; sửa sang tinh xá, sắp xếp đầy đủ vật dụng cúng dường. Sau đó ông đến tinh xá Kỳ hoàn đầu mặt sát đất lạy dưới chân thỉnh Đức Phật quang lâm chứng minh thọ nhận. Lạy thỉnh xong, trưởng giả lui gót ra về.

Phẩm 8: NHÂN DUYÊN CAI DUNG TRAI GIỚI6
 
Bấy giờ Đức Như Lai cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo Tăng từ tinh xá Kỳ hoàn, nước Xá-vệ đi đến tinh xá của trưởng giả Mỹ Âm, nước Câu-­lam-ni. Đức Phật vừa đến cổng thành, đất trời bỗng chấn động, các nhạc cụ bằng ngọc báu không đánh mà tự kêu. Ngay trong ngày hôm ấy mọi thứ độc hại đều biến mất, các điều tốt lành đồng hiện ra. Nhân dân trong nước không ai không cung kính, ngưỡng vọng Đức Thế Tôn.
Trị vì vương quốc lúc bấy giờ là vị quốc vương tên Ưu Điền7.Nhà vua tánh tình rất nghiêm khắc, tàn bạo, thích nghe lời dua nịnh, mê đắm dục lạc, luôn nghi ngờ người khác nên truyền lệnh sắp đặt hai vị phu nhân cận kề hai bên thay phiên nhau hầu hạ. Cả hai vị Hoàng hậu đều có nhan sắc diễm lệ, đẹp nhất nước. Vị phu nhân hầu bên trái tên Chiếu Đường là người có tánh kiêu ngạo, chỉ thích làm những việc ác, ganh ghét, sàm tấu bậc hiền lương, vu khống người vô tội. Vị phu nhân hầu bên phải tên Cai Dung là người hiền hậu, nhân ái, tánh nết khiêm cung, hòa nhã, luôn tự kiềm chế trong nếp sống thanh bạch, đạo đức không ai sánh bằng. Nhà vua rất quý trọng đức hạnh ấy nên việc gì cũng tâm sự. Hoàng hậu Chiếu Đường trong lòng ghen ghét, gièm pha hết lời nhưng nhà vua biết rõ đức hạnh của Cai Dung nên không tin lời sàm tấu ấy.
Hoàng hậu Cai Dung có một vị lão hầu tên Độ Thắng thường ra
_________________
6. Hay Phẩm tiền thân của Hoàng hậu Cai Dung.
7. Ưu-điền (Pàli: Udayana): còn dịch là Vu-điền, Ưu-đà-diên, Ưu-đà-diễn-na, Ô-đà-diễn-na-phạt-sai.

* Trang 801 *
device

chợ mua hương. Một hôm, trên đường trở về được người mách bảo nên thẳng đến tinh xá. Từ đó, mỗi ngày Độ Thắng đều đến đó kính thành tu tập. Bà giảm bớt tiền mua hương, góp lại để dành cúng dường trai phạn cho Đức Phật và các vị Tỳ-kheo. Đức Phật thuyết pháp, bà lão chú tâm nhớ mãi không quên. Khi cúng dường xong trở về cung, Độ Thắng ngang qua chợ lấy hương. Nương theo công đức cúng dường ấy, nên mùi hương tỏa ra thơm ngát, cân lượng cũng tăng lên gấp bội ngày thường. Khi bị Hoàng hậu hỏi, vị lão hầu không trả lời được nên thật tình bày tỏ:
–Mỗi lần đi chợ, thần đều bớt tiền mua hương tích góp lại để cúng trai phạn cho Đức Phật và chư Tăng và được nghe giáo pháp sâu xa, Nghĩa lý vi diệu mà ở thế gian chưa từng được nghe.
Hoàng hậu Cai Dung nghe đến tiếng Phật bỗng nhiên trong lòng hoan hỷ, tự Nghĩ: “Lòng ta thật hân hoan vui sướng. Làm sao để được nghe giáo pháp tối diệu ấy?”, liền bảo Độ Thắng:
–Lão hãy nói lại lời Đức Phật dạy để ta nghe thử.
Vị lão hầu thưa:
–Thân của lão thần thấy hèn, miệng không thanh tịnh nên không dám tự tiện tuyên lại lời dạy tôn quý của Đức Như Lai. Xin Hoàng hậu hãy dời gót đến chỗ Đức Phật nghe pháp rồi trở về.
Hoàng hậu truyền bảo vị lão hầu rời cung đến tinh xá và căn dặn cẩn thận:
–Lão cần phải ghi nhớ đầy đủ nghi thức trong buổi thuyết pháp của Đức Phật.
Độ Thắng chưa trở về mà phu nhân và người hầu đã đứng chờ trong sân.
Đức Phật truyền dạy vị lão hầu Độ Thắng:
–Lão bà hãy trở về cung nói pháp, sẽ có nhiều người được độ thoát. Nghi thức của buổi thuyết pháp trước nhất phải thiết đặt một tòa cao.
Độ Thắng vâng lời Phật dạy, trở về cung tuyên lại đầy đủ lời của Đức Phật dạy. Hoàng hậu Cai Dung hoan hỷ mở rương lấy y xếp thành tòa cao. Lúc ấy vị lão hầu Độ Thắng nương theo oai thần của Đức Phật, thuyết pháp như Bậc Đạo Sư đã giảng.
Hoàng hậu Cai Dung và các nàng hầu tâm không còn nghi ngờ,

* Trang 802 *
device

tiêu trừ tất cả các niệm ác, đắc được quả Câu hạng8.Ngay lúc ấy, Độ Thắng cũng đắc được Tổng trì9.
Chiếu Đường trong lòng càng thêm oán hận, ganh ghét, rất nhiều lần sàm tấu với vua. Nhưng vua ngược lại còn quở trách:
–Ngươi thật hiểm độc, xúc xiểm, vu khống đức hạnh của Dung hậu, người luôn giữ gìn tiết hạnh đáng quý.
Trong tâm của Chiếu Đường rất oán ghét chỉ muốn làm hại hoàng hậu Cai Dung nên bí mật tâu vua:
–Hoàng hậu Cai Dung thường sai người hầu đến chỗ Đức Phật giao tình phóng đãng, có ý dâm dật, bất chánh. Thiếp tình cờ bắt được, vì lòng trung trực, đã nhiều lần khuyên can mà Dung hậu vẫn không bỏ.
Nhà vua cũng bắt đầu sinh lòng nghi ngờ hoàng hậu Cai Dung. Chiếu Đường trong lòng mưu tính thầm Nghĩ: “Dò xét cô ta trong ngày trai giới thì tất biết mà thôi”. Chiếu Đường cho người dò xét ngày trai giới của Dung hậu. Đúng ngày trai giới ấy trong cung có tiệc vui, Chiếu Đường liền tâu với đức vua:
–Hôm nay là ngày vui, Bệ hạ nên mời hoàng hậu Cai Dung đến dự.
Nhà vua truyền tuyên chiếu mời. Mọi người theo lệnh vua đều đến dự hội chỉ có Hoàng hậu Cai Dung vì đang giữ trai giới nên không vâng lệnh đến dự. Nhà vua cho người mời đến ba lần nhưng Hoàng hậu vì giữ giới nên vẫn không đến. Nhà vua vô cùng giận dữ, sai người giải hoàng hậu ra khỏi phòng, trói lại trước cung, dùng xạ tiển hành hình. Hoàng hậu Cai Dung tâm không sợ hãi, vẫn một lòng hướng về Đức Phật. Nhà vua tự mình giương cung bắn, nhưng mũi tên lại bay ngược lại hướng vua. Các lần sau lần nào mũi tên cũng bay ngược trở lại hướng vua. Bấy giờ, vua vô cùng kinh hãi, hoảng sợ buông rơi cung tên, hỏi:
–Ngươi dùng pháp thuật gì mà sao làm được việc ấy?
________________
8. Câu hạng: Thánh vị đầu tiên trong tứ quả A-la-hán, tức quả Dự lưu hay Sơ quả Tu-đà-hoàn (Pàli: Sotapanna, Sanskrit: srotàpanna).
9. Tổng trì: (Sanskrit: Dhàranì): tức niệm tuệ lực có thể tổng nhiếp, chấp trì vô lượng Phật pháp mà không thể mất.

* Trang 803 *
device

Phu nhân tâu:
–Thiếp chỉ phụng thờ Đức Như Lai, quy y ba Bậc tôn quý. Sáng nay vâng giữ trai giới của Đức Phật, không ăn sau giờ ngọ và còn tu tập hành trì tám giới pháp, không trang điểm thân thể, có lẽ là Đức Thế Tôn thương xót nên được như vậy.
Nhà vua thốt lên:
–Lành thay! Lẽ nào lại có việc như nàng nói sao?
Nhà vua lập tức đến tinh xá bày tỏ niềm tin phục, quy kính Đức Phật. Đúng lúc đó có tin quốc gia thù địch đưa đoàn quân đông đảo, hùng mạnh xâm nhập biên giới, đức vua phải đích thân ra trận nên truyền lệnh giao cho Phạm chí Kiết Tinh quyền thống lĩnh chính sự của quốc gia. Chiếu Đường vui sướng nói:
–Cha ta đang nắm giữ việc quốc chính, ta chắc chắn giết y thị được thôi.
Sau khi đức vua ra trận, cô ta cùng cha lập mưu thiêu chết Cai Dung và các vị thị nữ của nàng, rồi tuyên bố dối trá là họ bị nạn lửa thiêu chết. Cả hai cha con cho là có thể giấu kín được độc kế nhưng sự việc bị phát hiện, nhà vua vô cùng phẫn nộ, đuổi Kiết Tinh ra khỏi nước, vì ông ta là tu sĩ Bà-la-môn nên được tha tội chết; còn Chiếu Đường và đồng bọn đều bị giam vào hầm tối dưới đất. Sau đó, nhà vua truyền lệnh dẹp trừ tà giáo, rộng truyền Phật pháp khắp nơi.
Khi ấy, các vị Tỳ-kheo từ tòa ngồi đứng dậy thưa hỏi Đức Phật:
–Hoàng hậu và các vị thị nữ tinh tấn như vậy, đã thấy chân lý đạt được Sơ quả Tu-đà-hoàn, không rõ vì tội gì mà bị lửa hại mạng? Cúi mong Đức Thế Tôn dạy rõ điều chúng con chưa hiểu.
Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo:
–Trong quá khứ, tại thành Ba-la-nại. Có năm trăm cô dâm nữ muốn mời những người nghèo hèn, đói rách để đích thân cứu tế. Vào thời đó, có một vị Bích-chi-phật tên là Ca-la đi hóa đạo, dạy bảo mọi người giữ năm giới. Nam nữ trong nước đều hướng lòng theo ngài. Năm trăm cô gái rất tức giận bảo nhau:
–Tại sao ông ấy đến đây làm mất khách của chúng ta?
Tất cả đều sinh tâm oán giận nên bàn kế để hãm hại ngài. Hôm sau Đức Phật Ca-la vào thành theo thứ tự khất thực đi đến nhà của các cô dâm nữ. Các cô gái rất phẫn nộ cùng chạy ra lấy than củi đang

* Trang 804 *
device

cháy trong lò ném vào người Đức Ca-la, làm thân ngài bị cháy bỏng mà trong lòng không chút hối hận. Đức Ca-la liền hiện thần túc bay lên hư không. Các cô gái hoảng sợ, khóc lóc, hối hận vì tội lỗi đã làm, quỳ thẳng đầu hướng lên cao bày tỏ:
–Chúng con ngu si không biết Đấng Tối Chân, thật là dại khờ mê muội nên làm tổn hại đến Bậc Thánh. Chúng con tự biết đã phạm rất nhiều lầm lỗi, tội ác như núi. Cúi mong Ngài xót thương tha thứ để chúng con được tiêu trừ tội lỗi nặng nề.
Theo lời khẩn thỉnh, Đức Ca-la liền hạ thân xuống và nhập Niết-bàn. Các cô gái cùng nhau xây tháp cúng dường xá-lợi.
Đức Thế Tôn dạy tiếp:
–Các dâm nữ lúc đó nay chính là hoàng hậu Cai Dung và các thị nữ. Tội hay phước đều theo đuổi con người, dù lâu xa nhưng không có gì là không báo ứng rõ ràng.
Khi Đức Phật thuyết bài pháp ấy, tất cả người già trẻ trong nước đều hoan hỷ, tin tưởng vâng theo lời Phật dạy, quy y Ba ngôi báu, nhận lãnh giới pháp rồi ra về.
Đức Phật và các vị Tỳ-kheo cũng trở về tinh xá Kỳ hoàn tại nước Xá-vệ.

Phẩm 9: CÙ-ĐÀM-DI ĐẾN XIN ĐỨC PHẬT XUẤT GIA LÀM
TỲ-KHEO-NI
 
Bấy giờ Đức Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ-kheo Tăng đến trụ tại tinh xá dòng họ Thích, nước Ca-duy-la-vệ. Khi ấy Đại Ái Đạo Cù-đàm-di đi tới chỗ Phật ngự, cúi đầu kính lạy rồi đứng qua một bên, chắp tay bạch:
–Con nghe người nữ tinh tấn tu học có thể đạt được bốn đạo quả Sa-môn nên mong được nhận lãnh giáo pháp và giới luật của Đức Phật. Con ở tại nhà luôn nuôi dưỡng lòng tin nay mong được rời khỏi đời sống gia đình học đạo.
Đức Phật dạy:
–Hãy thôi đi! Cù-đàm-di, thật không an lạc cho nữ giới khi phải khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta, vận pháp y và

* Trang 805 *
device

sống trọn đời Phạm hạnh thanh tịnh giải thoát.
Cù-đàm-di thỉnh cầu đến ba lần nhưng Đức Phật vẫn không chấp thuận nên bà đến trước Đức Phật đảnh lễ, nhiễu quanh rồi ra về.
Sau đó không lâu, Đức Phật cùng các vị đại Tỳ-kheo Tăng từ tinh xá dòng họ Thích đi vào thành Ca-duy-la-vệ. Nghe tin Đức Phật và các vị đệ tử theo sau vào thành, Đại Ái Đạo trong lòng vô cùng mừng vui vội đến chỗ Đức Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân Ngài, thỉnh cầu lần nữa:
–Con nghe người nữ tinh tấn học đạo có thể chứng đắc bốn đạo quả Sa-môn nên nguyện được lãnh nhận giáo pháp và giới luật của Đức Phật. Con ở tại nhà luôn có niềm tin với Phật pháp, nay mong muốn được xuất gia học đạo.
Đức Phật dạy:
–Nên thôi đi! Cù-đàm-di, thật không an lạc cho người nữ khi phải khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta, vận pháp phục và sống trọn đời Phạm hạnh thanh tịnh giải thoát.
Đại Ái Đạo ba lần cầu khẩn nhưng Ngài vẫn không chấp nhận nên đến trước đảnh lễ, nhiễu quanh Đức Thế Tôn rồi ra về.
Đức Phật cùng các vị Tỳ-kheo ở lại nước Ca-duy-la-vệ trú mưa ba tháng. Sau khi vá sửa pháp y, Đức Phật và chư Tỳ-kheo vận y ôm bát rời vương quốc ra đi. Đại Ái Đạo cùng các vị cung phi thị nữ lớn tuổi trong cung vội đuổi theo Đức Phật.
Đến thôn Na-tư, Đức Phật dừng chân nghỉ bên bờ sông. Đại Ái Đạo liền đến trước đảnh lễ Đức Phật rồi đứng qua một bên bạch:
–Con nghe người nữ siêng năng, kiên trì tu tập có thể đạt được bốn đạo quả Sa-môn nên muốn xin được lãnh thọ giới luật và giáo pháp của Đức Phật. Ở tại nhà, con luôn có đức tin với Phật pháp, nay mong được xuất gia học đạo.
Đức Phật dạy:
–Hãy thôi hẳn đi! Cù-đàm-di, thật không an lạc cho giới nữ khi phải khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta, vận y ca-sa, sống trọn đời Phạm hạnh thanh tịnh giải thoát.
Đại Ái Đạo khẩn cầu như vậy ba lần nhưng Đức Phật vẫn không chấp nhận. Bà đến trước đảnh lễ, nhiễu quanh Đức Phật rồi lui ra,

* Trang 806 *
device

đứng ngoài ngõ. Bấy giờ cả đoàn người vận y ca-sa, đứng chân trần trên đất, khuôn diện và y phục lấm lem bụi đường, thân thể mỏi mệt, than khóc rất bi thảm.
Hiền giả A-nan thấy bá mẫu Đại Ái Đạo như thế liền hỏi:
–Cù-đàm-di, vì sao người lại vận ca-sa, đi chân trần, mặt lấm lem, y đầy bụi, có vẻ mệt mỏi và còn khóc than như vậy?
Đại Ái Đạo trả lời:
–Thưa Hiền giả A-nan, nay chỉ bởi tôi mang thân người nữ nên không được nhận lãnh giáo pháp và giới luật của Đức Phật. Do vậy mà tủi hổ thương xót cho bản thân.
Tôn giả A-nan nói:
–Thôi! Thôi đừng than khóc. Cù-đàm-di nên yên lòng. Nay hãy chờ tôi vào thưa thỉnh việc này với Đức Phật.
Hiền giả A-nan lập tức đi vào đảnh lễ dưới chân Đức Phật, quỳ thẳng bạch:
–Con từng được nghe Thế Tôn dạy người nữ nỗ lực siêng năng tu tập có thể đạt được bốn đạo quả Sa-môn. Nay Đại Ái Đạo hết lòng thành kính muốn được nhận lãnh giáo pháp và giới luật. Người ở trong cung luôn có niệm tín thành, nay mong được xuất gia học đạo. Cúi mong Đức Phật chấp thuận việc ấy.
Đức Phật dạy:
–Nên thôi đi! Này A-nan, thật không an lạc nếu Ta cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn, khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta. Vì sao vậy? Này A-nan, thí như trong một gia tộc có nhiều người nữ, ít người nam. Ông nên biết gia tộc đó chính vì thế sẽ bị suy yếu, không thể cường thạnh được. Nếu nay cho phép người nữ xuất gia, khép mình trong giáo pháp và giới luật của Ta chắc chắn sẽ khiến cho đời sống Phạm hạnh thanh tịnh của Tăng đoàn không bền vững dài lâu. Thí như một ruộng lúa đang trổ hạt chín đều gặp phải hơi sương giá rét hay khí hậu xấu sẽ làm cho những hạt lúa tốt bị hư hoại. Nay nếu Ta cho phép người nữ xuất gia, khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta chắc chắn sẽ khiến cho đạo lớn thanh tịnh của Ta không được hưng thịnh lâu dài.
Tôn giả A-nan lại thưa:
–Đại Ái Đạo hiện nay đang có tâm niệm chí thiện, rất thành

* Trang 807 *
device

kính. Từ thuở Thế Tôn ấu niên, chính người đã tự tay nuôi dưỡng, dạy dỗ cho Ngài đến lúc trưởng thành.
Đức Phật dạy:
–Đúng như vậy. Này A-nan, Đại Ái Đạo có đức tin và nhiều tâm niệm trong lành, có ân đối với Ta. Sau khi sinh Ta bảy ngày, mẫu thân của Ta đã mất, chính Đại Ái Đạo đã nuôi dưỡng cho đến khi Ta trưởng thành. Nay tại thế gian này, Ta thành Phật, cũng đã có nhiều ân đức đối với Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo chính do Ta giáo hóa nên tự thân được trở về nương theo Phật, Pháp và chư Tỳ-kheo Tăng; phát khởi lòng tin Phật, Pháp và chư Tỳ-kheo Tăng; dứt bỏ được lòng nghi ngờ đối với Khổ, Tập, Tận và Đạo nên có được đức tin ấy, vâng giữ trọn vẹn giới cấm, trở thành bậc đa văn, thực hành đầy đủ hạnh bố thí, thành tựu được trí tuệ như thế và cũng có thể tự chế ngự bản thân, không giết hại mạng sống, không trộm cắp, không dâm dật, không nói dối, không uống rượu. Như thế, này A-nan, ngay cả ân đức khuyến hóa khiến mọi người bố thí, cấp dưỡng trọn đời tất cả các thứ y phục, đồ ăn thức uống, ngọa cụ, thuốc men khi bị bệnh cho kẻ bần hàn cũng không bằng ân đức ấy của Ta.
Đức Phật dạy Tôn giả A-nan:
–Nếu như người nữ muốn xuất gia làm Sa-môn thì phải vâng giữ tám pháp cung kính, không được vi phạm, phải suốt đời học tập và thực hành tám pháp ấy. Ví như để đề phòng nước lũ phải khéo đắp đê ngăn chận, không cho nước lọt vào mới thôi. Nữ giới nếu vâng giữ được như vậy mới có thể khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ta.
Tám pháp cung kính là gì?
1.Người nữ đã là Tỳ-kheo-ni phải theo Tỳ-kheo Tăng đã thọ Đại giới vâng học chánh pháp.
2.Cứ mỗi nửa tháng, Tỳ-kheo-ni phải sang lễ bái, hầu thỉnh học với Tỳ-kheo Tăng đã thọ Đại giới.
3.Tỳ-kheo Tăng và Tỳ-kheo-ni không được ở chung, sống chung.
4.Sau ba tháng an cư tại một trú xứ, Tỳ-kheo-ni phải cùng nhau tự kiểm thảo về những giới tội nghe được, thấy được và phải tự xét bản thân lầm lỗi ở điểm nào tỉnh ngộ xem xét.

* Trang 808 *
device

5.Tỳ-kheo-ni không được hỏi và trách phạt Tỳ-kheo Tăng về những giới tội nghe và thấy được. Nhưng Tỳ-kheo Tăng đối với những giới tội nghe được, thấy được của Tỳ-kheo-ni được quyền hỏi và trách phạt, Tỳ-kheo-ni phải lập tức tự phản tỉnh.
6.Tỳ-kheo-ni có lòng cầu học đạo pháp được phép hỏi những việc về kinh, luật với Tỳ-kheo Tăng.
7.Tỳ-kheo-ni bản thân chưa đắc đạo, nếu phạm giới luật phải nửa tháng ra giữa chúng nhận tội, tự sám hối để bỏ tánh kiêu mạn.
8.Tỳ-kheo-ni dù một trăm tuổi, đã thọ đại giới đối với Tỳ-kheo Tăng trẻ tuổi mới thọ đại giới phải ngồi dưới và cung kính lễ bái.
Đó là tám pháp cung kính Ta dạy cho hàng nữ giới xuất gia, phải khép mình vào đó, không được vi phạm, phải trọn đời học tập và thực hành. Nếu Đại Ái Đạo xét thấy có thể giữ được tám pháp cung kính đó, Ta sẽ chấp nhận cho xuất gia làm Sa-môn.
Hiền giả A-nan nhận lãnh, nhớ kỹ lời Phật dạy, đảnh lễ rồi bước ra báo cho Đại Ái Đạo:
–Cù-đàm-di, chớ có ưu sầu nữa! Hãy giữ trọn niềm tin sẽ được từ bỏ đời sống gia đình, xa lìa đời sống gia đình, được lãnh thọ giới pháp. Đức Phật dạy người nữ muốn xuất gia làm Sa-môn phải vâng giữ tám pháp cung kính, không được vi phạm, cần phải trọn đời hết lòng học tập và thực hành tám pháp ấy, phải giữ tâm như đề phòng nước lũ, khéo đắp bờ đê không cho nước lọt vào.
Tôn giả A-nan nói lại đầy đủ, trọn vẹn tám pháp cung kính mà Đức Phật đã truyền dạy ban bố cho bá mẫu nghe và nói rõ:
–Thế Tôn đã dạy người nữ nào có khả năng vâng giữ được như vậy có thể xuất gia, khép mình vào trong giáo pháp và giới luật của Ngài.
Đại Ái Đạo vui mừng thưa ngay:
–Thưa vâng. Tôn giả A-nan, cúi xin lắng nghe lời này của con. Ví như các cô gái thuộc bốn đẳng cấp đã tắm rửa xong, dùng hương thơm xoa thân, vận y phục trang nghiêm nhưng có người muốn cho họ thêm lợi ích, an ổn không sợ hãi nên dùng các loại hoa thơm tươi tốt và các vật báu quý giá kết thành chuỗi ngọc đem cho các cô gái ấy. Có lẽ nào họ lại không yêu thích vui sướng mang ngay lên đầu? Nay đối với tám pháp cung kính mà Đức Phật đã ban dạy, con cũng hân

* Trang 809 *
device

hoan xin được đội trên đầu vâng giữ.
Đại Ái Đạo được thọ Đại giới làm Tỳ-kheo-ni, vâng giữ và tu tập theo giáo pháp và giới luật nên đạt được quả vị Ứng chân (La-hán). Một thời gian sau, Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo cùng các vị Tỳ-kheo-ni trưởng lão cùng đi đến chỗ Hiền giả A-nan thưa hỏi:
–Thưa Tôn giả A-nan, các vị Tỳ-kheo-ni trưởng lão này đều tu tập phạm hạnh đã lâu và đều đã thấy chân lý, vậy tại sao lại phải lễ bái các vị Tỳ-kheo Tăng nhỏ tuổi mới thọ đại giới?
Tôn giả A-nan đáp:
–Hãy đợi giây lát, nay tôi sẽ vào để thưa hỏi Đức Phật.
Tôn giả A-nan đi vào, cúi đầu lạy dưới chân Đức Phật bạch:
–Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo thưa hỏi rằng các vị Tỳ-kheo-ni trưởng lão đều tu tập phạm hạnh đã lâu và đều đã thấy chân lý, vậy tại sao lại phải đảnh lễ các vị Tỳ-kheo Tăng nhỏ tuổi, mới thọ đại giới.
Đức Phật dạy:
–Hãy thôi đi! Này A-nan, phải thận trọng, không được nói lời ấy! Chỉ vì hiểu biết của ông không như tri kiến của Như Lai. Nếu Ta không cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn trong đạo của Ta, tất cả Phạm chí dị học ngoại đạo và cư sĩ sẽ lấy y trải trên mặt đất, khẩn cầu các Sa-môn: “Hiền giả là bậc giới hạnh thanh tịnh cao tột. Xin Ngài hãy bước trên tấm y này để con được phước báo lâu dài về sau”.
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
–Nếu Ta không cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn trong đạo của Ta, mọi người trong đời đều trải tóc xuống đất cầu xin các Sa-môn: “Hiền giả là bậc có đầy đủ giới, văn, tuệ, hành. Xin Ngài hãy bước lên trên tóc này để con được phước báo lâu dài về sau”.
Nếu Ta không cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn trong đạo của Ta, người trong thiên hạ đều chuẩn bị đầy đủ y phục, trai phẩm, giường nằm, thuốc men chữa bệnh, và mời thỉnh: “Xin các vị Sa-môn nhận lấy, tùy ý đem về dùng”.
Nếu Ta không cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn trong đạo của Ta, nhân dân ở khắp nơi sẽ kính thờ Sa-môn như thờ mặt trời, mặt trăng, như thờ Thiên thần, còn hơn cả bậc tối cao của các vị dị học ngoại đạo.

* Trang 810 *
device

Nếu Ta không cho phép người nữ xuất gia làm Sa-môn trong đạo của Ta, chánh pháp của Như Lai sẽ được hưng thạnh cả ngàn năm.
Đức Phật lại dạy Tôn giả A-nan:
–Vì người nữ xuất gia làm Sa-môn nên làm cho giáo pháp của Ta suy vi hết năm trăm năm. Vì sao vậy? Này A-nan, vì người nữ có năm ngôi vị không thể đạt được. Năm ngôi vị ấy là gì?
Người nữ không thể đạt được quả vị Như Lai Tối Chân Chánh Đẳng Giác.
Người nữ không thể đạt được ngôi vị Chuyển luân thánh vương.
Người nữ không thể đạt được ngôi vị Đế Thích, vua tầng trời Đao-lợi thứ hai.
Người nữ không thể đạt được ngôi vị vua cõi Thiên ma thứ sáu.
Người nữ không thể đạt được ngôi vị Phạm thiên vương ở cõi trời thứ bảy.
Năm ngôi vị ấy trên chỉ có Bậc Trượng phu mới đạt được. Bậc Trượng phu ở trong đời thành tựu Phật quả, được làm Chuyển luân thánh vương, được làm trời Đế Thích, được làm vua cõi Thiên ma, được làm Phạm thiên vương.
Đức Phật giảng xong lời đó, chúng hội đều hoan hỷ, vâng giữ lời Phật dạy để tu tập.

Phẩm 10: ĐỘ VUA BA-TƯ-NẶC10
 
Bấy giờ Đức Như Lai cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo Tăng trở về nước Xá-vệ, trú tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc. Vua Ba-tư-nặc trong lòng thầm Nghĩ: “Đức Phật vốn thuộc dòng họ Thích, trước đây rời khỏi đời sống gia đình vào núi tu tập, nay đã thành Bậc Toàn Giác Bình Đẳng Chánh Chân Tối Thượng có oai nghi Phạm tướng vi diệu, khiến Trời, Rồng, Quỷ, Thần đều tôn thờ kính ngưỡng. Ngài vì mọi người giảng dạy giáo pháp, lời đầu, lời giữa và lời cuối đều thiện. Những ai được nghe pháp của Ngài giảng đều
__________________
10. Phẩm này còn có tựa là phẩm Vô Thường.

* Trang 811 *
device

hoan hỷ, tu tập phước đức, ngăn chận tai ương; lời Ngài giảng dạy đưa đến Niết-bàn”.
Nhà vua lập tức chuẩn bị rời cung, dẫn quan quân theo hầu như thường lệ lên đường đến nơi Phật ngự. Khi đến trước tinh xá, đức vua xuống xe cùng các quan đi vào, đến trước Đức Phật, đứng thẳng, chắp tay vái rồi ngồi xuống, bạch:
–Tôi được nghe Đức Thích-ca tu tập trong sáu năm, nay đã thành đạo có hiệu là Phật, điều đó có thật không? Hay là do người đời ca tụng?
Đức Phật bảo nhà vua:
–Ta thật là Phật. Người đời không phải truyền tụng điều không thật.
Nhà vua liền hỏi:
–Thưa Đức Cù-đàm, phải chăng danh hiệu Phật là do Ngài tự xưng chứ Ngài chẳng phải là Phật?
Đức Phật trả lời nhà vua:
–Lâu xa về trước, trong quá khứ có một vị Phật hiệu là Định Quang đã thọ ký cho Ta: “Trong tương lai, chín mươi mốt kiếp nữa, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Văn có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, có mười tám pháp đặc thù vi diệu11, mười loại trí lực và bốn đức vô úy. Nếu thiếu một trong những pháp ấy, không thể gọi là Phật. Ta nay đã có đủ các pháp ấy, vì vậy Ta là Đức Như Lai, Bậc Giác Ngộ Chân Chánh không còn cấu nhiễm.
Trong lòng vua vẫn còn nghi hoặc nên chất vấn Đức Phật:
–Cù-đàm tuổi vẫn còn nhỏ, học đạo lại chưa bao lâu. Vì sao được như vậy? Ở đời có những vị Bà-la-môn tu tập theo đạo thờ nước, thờ lửa siêng năng, cực khổ không kể ngày đêm. Chín mươi sáu vị Bà-la-môn không có điều gì không thông suốt. Có sáu vị tuổi cao đức lớn như Bất-lan Ca-diếp…, danh tiếng vang dội khắp nơi còn chưa được thành Phật. Phật là Bậc vô cùng tôn quý. Đem việc này để so với lời Ngài nói, tôi thật nghi ngờ, không tin được.
Đức Phật bảo nhà vua:
_________________
11. Tức mười tám pháp bất cộng (của Phật). Các pháp này chỉ Đức Phật mới có, còn hàng Nhị thừa, Bồ-tát đều không có nên gọi là Bất cộng pháp.

* Trang 812 *
device

–Nay Ta sẽ vì đức vua giảng bày Nghĩa lý chân thật. Đức vua nên lắng nghe thật kỹ, chớ có nghi ngờ.
Nhà vua nói:
–Thật là tốt lành!
Đức Phật dạy nhà vua:
–Có bốn điều nhỏ nhưng không thể coi thường. Bốn điều ấy là gì? Một là vị Thái tử tuy nhỏ nhưng tương lai sẽ là một đấng quân vương. Với người ấy không thể coi thường.
Hai là một đốm lửa tuy nhỏ, nhưng sẽ thiêu rụi cỏ cây, chừng nào cháy hết mới thôi. Với đốm lửa ấy không thể coi thường.
Ba là con của loài rồng tuy nhỏ nhưng sẽ có thể tạo ra mưa gió, giông tố, sấm sét… Với con rồng nhỏ đó, không thể coi thường.
Bốn là vị Tỳ-kheo nhỏ tuổi, nhưng đã đạt được tuệ giác, thấy rõ ràng con đường giải thoát, có thể giảng dạy, độ hóa khắp nơi làm cho mọi người đều giải thoát. Với vị Tỳ-kheo ấy, không thể coi thường.
Bấy giờ Đức Thế Tôn vì vua nói bài tụng:
Thái tử tròn phước
Sẽ thành quốc quân
Kẻ ngu khinh mạn
Vướng họa vào thân
Chính do tâm khởi
Niệm trọng niệm khinh.
Hạnh tròn quả mãn
Phước tự theo mình
Trước xét cội đức
Sau mới quán nhân
Đạo vốn như thế
Đại vương thẩm tư.
Đốm lửa gặp cỏ
Sẽ cháy vô cùng
Tu-di, núi báu
Từ đồi nhỏ sinh
Bậc trí quán vật
Lớn nhỏ không phân

* Trang 813 *
device

Không tránh rồng nhỏ
Độc hại tự thân.
Tỳ-kheo trừ ác
Tĩnh lự chuyên cần
Thành tựu đạo trí
Độ khắp chúng nhân.
Đạt Kiến đế – không nhiễm
Năm đường hiểm – đã vượt
Ta hiện tại cõi đời
Vì chúng sinh trừ khổ.
Nhà vua nghe xong lời pháp vi diệu ấy, trong lòng vốn còn đầy phiền não, lậu hoặc nên vẫn nghi ngờ, chưa tỉnh ngộ. Vua liền đến trước lạy dưới chân Đức Phật, cáo từ trở về cung.
Lúc bấy giờ, trong nước Xá-vệ một vị Bà-la-môn giàu có, tài sản đầy ắp vật báu, tuổi đã cao mà chẳng có con nên hết lòng cầu khấn. Không bao lâu sau, vợ ông sinh được một đứa con trai. Khi lên bảy tuổi, cậu bé mắc bệnh rồi chết. Người cha trong lòng đau đớn, sầu khổ, đứng nằm không yên, chẳng màng đến việc ăn uống. Nghe đồn Đức Phật có thể giải tỏa được mọi tâm trạng sầu khổ, ưu tư, vị ấy vội đi đến tinh xá Kỳ hoàn.
Đức Phật hỏi vị Phạm chí:
–Ông có điều buồn lo, bối rối gì mà khuôn mặt hốc hác, gầy gò như vậy?
Vị Bà-la-môn thưa:
–Tuổi con đã cao, chỉ có một đứa con trai duy nhất nhưng nó vừa mới chết, bỏ con lại một mình khiến lòng con vô cùng buồn thương, đau đớn.
Đức Phật bảo vị Phạm chí:
–Con người vì có yêu thương nên mới bị lo buồn, thương xót.
Trong lòng đang mê loạn nên vị Phạm chí liền thưa với Đức Phật:
–Trong niệm vui của sự yêu thương, có điều gì khiến ta phải thương xót, buồn khổ đâu?
Đức Phật nói:
–Chẳng phải như vậy.
Thế Tôn lập lại lời ấy đến ba lần nhưng vị Bà-la-môn vẫn

* Trang 814 *
device

không thông suốt. Vị ấy liền chạy ra khỏi tinh xá Kỳ hoàn, gặp hai người đang đánh bạc, trong lòng suy Nghĩ: “Chắc họ là người trí, có thể giải tỏa được mối nghi của ta”. Ông ta liền hỏi hai người ấy:
–Yêu thương là vui hay là buồn khổ?
Họ lập tức trả lời:
–Tất cả niềm vui trong cuộc sống không có gì hơn là sự yêu thương.
Phạm chí bảo:
–Tôi gặp Đức Cù-đàm nhưng vị ấy đã nói ngược lại.
Hai người kia lên tiếng bảo:
–Sa-môn Cù-đàm đi ngược lại đời, mê hoặc con người. Ông cần cẩn thận, đừng có tin ông ta.
Người ngu trong nước cùng nhau chê cười lời Đức Phật. Câu chuyện truyền đến tai vua, khiến nhà vua hiểu lầm liền cho mời Hoàng hậu Mạt-lợi đến bảo:
–Cù-đàm thật đáng cười, lập luận ngược đời, vô lý. Sao lại có chuyện yêu thương sinh ra buồn khổ được?
Phu nhân Mạt-lợi tâu:
–Đức Phật không bao giờ nói điều gì sai lầm. Lời dạy đó thật ra là đúng như thế.
Nhà vua liền nói:
–Nàng tôn kính quý trọng Cù-đàm đến như vậy nên mới tin lời của vị ấy mà thôi.
Hoàng hậu tâu vua:
–Sao ngài không tự đến hoặc sai vị nào có trí đến chỗ Đức Phật để thưa hỏi việc này, để chứng thật sự điên cuồng, mê hoặc của người đời.
Nghe xong lời nói ấy, đức vua liền cho gọi một vị đại thần có trí tên Na-lợi-thằng đến truyền lệnh:
–Ông hãy nhân danh ta đến thưa hỏi Đức Cù-đàm: “Người đời ngu si, mê hoặc, truyền miệng sai lầm lời dạy của Thế Tôn, phê bình ngang ngược rằng: Yêu thương mà lại sinh ra buồn khổ. Điều đó thật là quái gở, nghịch lý. Do vậy, nhà vua sai sứ giả đến để báo tin và cúi nghe Đức Phật giáo hóa”. Nếu Đức Phật có dạy điều gì ông phải ghi nhớ thật kỹ.

* Trang 815 *
device

Vị đại thần vâng theo lệnh vua lập tức đến tinh xá Kỳ hoàn. Sau khi lạy Đức Phật xong đứng dậy, vị đại thần tiến tới phía trước Đức Phật, quỳ xuống bạch:
–Quốc vương Ba-tư-nặc cúi lạy trước tòa, xin thỉnh vấn Đức Phật về một điều mà Quốc vương chưa hiểu rõ. Cúi mong Thế Tôn chỉ dạy, giảng rõ ý Nghĩa thật sự.
Đức Như Lai bảo vị đại thần ngồi xuống, Ngài dạy:
–Cội gốc của yêu thương là dòng nước trong chốn vực thẳm sâu không đáy. Mọi phiền não lo buồn, sầu khổ đều là do yêu thương mà ra.
Ngài lại dạy vị đại thần:
– Nay Ta hỏi ngài, ý ngài hiểu thế nào thì trả lời thế ấy. Ví dụ như có một người, cha mẹ đã qua đời, vợ con cũng đều chết, tài sản bị quan tịch thu, có phải là không có sự đau khổ nào hơn nỗi đau phiền muộn, buồn thương của người đó không?
Vị đại thần thưa:
–Thưa vâng, đúng như lời Đức Thế Tôn dạy.
Đức Phật lại dạy tiếp:
–Ngày xưa có một người sống trong cảnh bần cùng khốn khổ cưới được người vợ trong một gia đình giàu có. Gia đình vợ lười biếng, không có phương kế để làm ăn nên gia cảnh ngày càng suy sụp nghèo khổ. Đã cùng khốn mà còn phải lo lót quan trên nên gia đình muốn bắt người vợ tái giá. Người vợ nghe gia đình bàn luận, liền nói lại cho chồng: “Gia đình thiếp có quyền thế chắc chắn họ sẽ buộc thiếp xa chàng. Chúng ta phải tính sao đây?”. Người chồng nghe xong lời ấy bèn dẫn vợ vào phòng nói: “Nay anh muốn chúng ta cùng chết một chỗ”. Anh ta lập tức giết vợ rồi quay ngược dao tự vẫn.
Đức Phật bảo Na-lợi-thằng:
–Vì yêu thương mà giết nhau, đâu phải chỉ có ưu sầu, buồn khổ thôi.
Vị đại thần vâng nhận lời Phật dạy, đảnh lễ rồi trở về cung tuyên lại đầy đủ lời dạy của Đức Phật. Nhưng tâm vua vẫn không tỉnh giác, còn chê cười lời dạy ấy, nói với hoàng hậu Mạt-lợi:
–Vì sao Cù-đàm lại nói lời ấy?
Hoàng hậu tâu với nhà vua:

* Trang 816 *
device

–Nay thiếp muốn thưa một việc này, mong rằng bệ hạ sẽ hiểu rõ được lời dạy ấy.
Vua bảo:
–Nàng hãy nói.
Hoàng hậu hỏi vua:
–Vương quốc ta hiện có hai vùng lãnh địa là Ca-di và Câu-đạt-lô. Nếu có người tâu với Bệ hạ: “Hai vùng lãnh thổ ấy đã bị vua nước khác chiếm đoạt”, Bệ hạ sẽ như thế nào?
Đức vua bảo hoàng hậu:
–Sự phồn vinh và an lạc của nước ta là nhờ hai vùng đấy ấy. Nếu có việc đúng như lời nàng nói, ta sẽ rất buồn lo.
Hoàng hậu lại hỏi:
–Nếu như thái tử Lưu Ly và công chúa Kim Cang bị bệnh hay bị chết, Bệ hạ sẽ làm như thế nào?
Nhà vua đáp trả lời:
–Nếu như vậy thì ta khó lòng chịu nổi!
Hoàng hậu thưa vua:
–Đó có phải là yêu thương làm phát sinh lo lắng, buồn khổ không? Rồi hoàng hậu hỏi tiếp:
–Tiện thiếp xấu xí, được hầu hạ dưới trướng Bệ hạ, nếu một mai bị bệnh mà chết, Bệ hạ sẽ như thế nào? Nhà vua đáp:
–Này Mạt-lợi, nếu vậy thì lòng ta sẽ mê loạn, đời ta sẽ thật trống trải.
Hoàng hậu lại thưa vua:
–Đó có phải là yêu thương làm phát sinh buồn lo, khổ não không?
Ngay khi ấy tâm vua được thông suốt, liền bước xuống giường từ xa hướng về tinh xá Kỳ hoàn đảnh lễ, phát tâm quy y Ba bậc tôn quý, sám hối lỗi lầm, nguyện trọn đời tôn kính vâng theo lời dạy của Đức Thế Tôn.
 

* Trang 817 *
device

Phẩm 11: TỰ YÊU THƯƠNG BẢN THÂN
 
Đức Phật trụ tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc thuộc nước Xá-vệ, đang giảng dạy chánh pháp cho đông đủ Tăng chúng.
Nhân ngày rảnh rỗi, vua Ba-tư-nặc đi đến nơi Phật ngự. Đến nơi, vua xuống xe, cất lọng, vòng tay tiến đến trước Đức Phật cúi lạy sát đất rồi lui về chỗ ngồi.
Đức Phật hỏi nhà vua:
–Đại vương từ đâu đến đây mà y phục nhầu nát, dáng người tiều tụy vậy?
Nhà vua liền rời chỗ ngồi, gạt lệ bạch:
–Hoàng thái hậu, mẹ con vừa từ giã cõi đời. Con theo hầu, đưa tiễn hoàng cữu đi an táng, lo liệu xong con mới trở về. Gần đây được Đức Thế Tôn hạ cố quang lâm đất nước quê mùa của con, lòng con hiện đang đau thương sầu khổ, đang mong mỏi lời dạy của Thế Tôn. Tánh con ngu ám, tâm con bị mê hoặc bởi những lời sai quấy, đến nay mới được giải tỏa, chính nhờ lời dạy sáng suốt, chí lý của Đức Thế Tôn: “Ưu bi khổ não đều do ân ái mà ra”. Mỗi khi Nghĩ tới lời giáo huấn ấy, con Nghĩ đó thật là điều thế gian khó được nghe.
Đức Thế Tôn bảo nhà vua:
–Đại vương hãy trở lại chỗ ngồi và lắng lòng nghe kỹ.
Đức vua thưa:
–Dạ vâng!
Đức Phật dạy:
–Chúng sinh không luận là già hay trẻ, giàu hay nghèo, đã mang thân này đến ngày mạng chung, không ai không bị chia ly, tan rã. Ví như hoa mùa xuân màu sắc không thể tươi mãi, khi kết hạt thì hoa rụng, lúc quả chín thì hoa lìa cành. Núi báu Tu-di đến khi kiếp tạân cũng phải tan nát. Đại dương bao la sâu thẳm còn có lúc khô kiệt. Mạng sống con người vô cùng nguy cấp, người có trí không trông cậy vào nó, chỉ có tu tập đức hạnh, tinh chuyên hành đạo.
Đức Thế Tôn nói bài tụng:
Thân mạng như quả chín
Thường lo sợ rụng rơi

* Trang 818 *
device

Do sinh nên có khổ
Không chết, nào có ai.
Như dòng sông chảy xiết
Lắng chìm vào đại dương
Mạng người cũng như thế
Tan hủy không hoàn quy.
Đức Phật lại dạy vua:
–Vua Giá-ca-việt-la thống lĩnh bốn cõi, khi đi tuần tra có bảy báu theo cùng, tuy thọ một ngàn tuổi cũng không tránh được cái chết. Các vị trời phước đức khi muốn ăn thì các món ăn tự hiện, đến khi phước hết cũng phải mạng chung. Tỳ-kheo phá ác, nội tâm hoàn toàn trú trong thiền định, không dao động trước vinh hoa, lợi dưỡng, ý chí kiên định như núi, thành bậc Chân nhân có uy thần mà còn phải diệt độ. Đức Như Lai dùng phương tiện trí ứng hiện thân tại thế gian, báo thân của Như Lai như Kim cang, hào quang chiếu sáng hơn ngàn thế giới, trùm khắp cõi cứu độ chúng sinh. Bậc Hùng Sư có đủ mười lực tại thế gian còn thị hiện nhập Niết-bàn. Người thế gian, sinh mạng chẳng lâu dài nhanh như ánh chớp, mau như cơn gió thoảng qua, vương vị vinh hiển chỉ như giấc mộng mà thôi. Suy xét từ xưa đến nay, con người từ vô thỉ đã luân chuyển không dừng trong năm đường. Nếu thấy được sự thật giải thoát nên quay về với chân lý.
Đức Phật vì vua nói bài tụng:
Như sông chảy xiết
Trôi qua chẳng lại
Cũng thế mạng người
Mất không hoàn cố
Dẫu ngàn tuổi thọ
Chết tránh được đâu.
Hợp tất phải ly
Lấy gì nương tựa
Ba cõi không an
Thảy đều tan rã
Khoái lạc cõi trời

* Trang 819 *
device

Phước vong đọa xứ.
Tâm bền tợ đất
Đức nặng dường non
Bậc thánh vô nhiễm
Tịch lặng thần thâu.
Báo thân phước đức
Sở nguyện tròn đầy
Phương tiện Như Lai
Nê-hoàn thị hiện.
Bấy giờ vua Ba-tư-nặc lại bạch Phật:
–Sao gọi là tự yêu thương bản thân? Sao gọi là tự phòng hộ bản thân?
Đức Phật dạy:
–Câu hỏi ấy thật là tốt lành! Đại vương hãy lắng nghe. Con người sinh ở thế gian, do tứ đại hợp thành, tâm tánh ngu si, chất chứa phiền não nên phạm các lỗi lầm sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, không tin đạo hạnh. Đó là không tự yêu thương bản thân. Nếu huân tập điều thiện, làm điều nhân, tuệ quán thế gian chẳng phải thường tồn, tin rằng chết rồi lại sinh, lòng tưởng nhớ ba bậc tôn quý, vâng theo giới để nhiếp tâm, giữ đức tin đạo thuần thục, giữ lễ độ bằng niệm khiêm cung, hiếu thuận chí thành. Người ấy ở tại thế gian là bậc biết tự yêu thương bản thân. Người biết tích lũy công đức lành, thân không làm điều sai quấy, quyết chí tu tập hành trì theo đạo giải thoát sẽ được chư Thiên tại cõi trời theo hộ vệ, không luận là nam hay nữ, các hành nghiệp đã làm đều tự thân hưởng thọ, binh đao không thể làm thương tổn, hổ dữ không thể làm hại. Phương pháp tự phòng hộ bản thân chỉ có vâng giữ giới hạnh.
Đức Phật vì vua Ba-tư-nặc nói bài tụng:
Người làm việc ác
Khoái ý ngu si
Không thể tự tỉnh
Lãnh khổ về sau
Sinh hạnh chẳng lành
Chết đọa ác đạo

* Trang 820 *
device

Vào ngục vô gián
Không chỗ tựa nương.
Người biết thương thân
Cẩn tâm gìn giữ
Điều thân theo chánh
Phước cảm chư Thiên,
Bậc có tín hành
Được Thánh khen ngợi
Thương thân như thế
An lạc, không lo.
Hạnh ác hại thân
Kẻ ngu xem dễ
Hành thiện thật an
Người ngu cho khó.
Tin pháp, trì giới
Trí tuệ trau giồi
Chư Thiên hộ vệ.
Bậc trí thích Từ
Không tà, nhân, ái
An ổn không lo
Diệt trừ phẫn nộ
Do đó thoát khổ.
Đức vua nghe xong bài pháp, tâm niệm u mê, sai lầm được giải tỏa liền đến trước Đức Phật nhận lãnh năm giới. Quan quân theo hầu đều phát khởi tâm đạo. Trời, Rồng, Quỷ, Thần đều vui thích lắng nghe.

Phẩm 12: ĐẠI CA-DIẾP LÚC MỚI ĐẾN HỌC ĐẠO
 
Bấy giờ Đức Thế Tôn trú tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ thuyết pháp cho hội chúng rất trang nghiêm gồm có đầy đủ: trời, rồng, quỷ, thần và bốn chúng đệ tử.
Khi ấy Tôn giả Ma-ha Ca-diếp tóc xõa, y rách, đến nơi Phật ngự. Đức Thế Tôn từ xa trông thấy cất lời khen:

* Trang 821 *
device

–Thật tốt lành! Này Ca-diếp, Ta đã để sẵn nửa tòa ngồi. Hãy đến đây cùng ngồi.
Tôn giả Ca-diếp tiến tới trước, cúi đầu mặt lạy Đức Phật, rồi lui lại, quỳ xuống, bày tỏ:
–Con là đệ tử đức hạnh hèn mọn của Đức Như Lai. Ngài xót thương chia nửa tòa ngồi cho con nhưng con chẳng dám vâng lệnh.
Tất cả hội chúng đều Nghĩ: “Vị tu sĩ Trưởng lão này có đức hạnh gì đặc biệt mà khiến Đức Thế Tôn chia nửa tòa bảo ngồi. Người ấy chắc phải là bậc tài trí bậc nhất, điều này chỉ có Đức Phật mới tỏ tường”.
Sau khi quán sát tâm niệm mọi người, Đức Như Lai muốn giải tỏa sự nghi ngờ của họ. Ngài bèn luận giảng rộng về công hạnh lớn lao ngang với bậc Thánh. Đức Thế Tôn dạy:
–Ta đạt được Tứ thiền, trú tâm vào Tĩnh lự, từ đầu đến cuối không thoái giảm. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng có Tứ thiền, do Tĩnh lự mà tâm ý định Tĩnh. Ta đạt được tâm đại từ, nhân ái với tất cả chúng sinh. Bản tâm của Ca-diếp cũng có lòng Từ như vậy. Ta đạt được lòng đại bi, cứu độ chúng sinh. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng có lòng đại bi như vậy. Ta trụ trong Tứ thiền tam-muội, tự thân luôn tịnh lạc suốt ngày đêm. Bốn Tam-muội ấy là gì?
1.Vô hình tam-muội.
2.Vô lượng ý tam-muội.
3.Thanh tịnh tích tam-muội.
4.Bất thoái chuyển tam-muội.
Tỳ-kheo Ca-diếp cũng có Tam-muội ấy. Ta vốn ưa thích Lục thông, nay đã đạt được. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng đắc được Lục thông. Lục thông là gì?
1.Tâm luôn nhớ Nghĩ về Tứ thần túc.
2.Biết tất cả niệm của con người.
3.Tai nghe rất tinh diệu.
4.Thấy được nguồn cội của chúng sinh.
5.Biết chúng sinh do hạnh nghiệp mà đi về đâu.
6.Các lậu đều tận diệt.
Nay Ta đã đạt pháp vô úy, là Bậc Tôn quý nhất trong ba cõi. Ta trú trong Tứ định để xiển dương chánh pháp tối thượng. Tứ định là gì?

* Trang 822 *
device

1.Giải định.
2.Trí định.
3.Tuệ định.
4.Giới định.
Thân tâm Ta hoàn toàn vắng lặng, tuyệt đối thanh tịnh, không có niệm tưởng buồn vui, dứt hẳn cội nguồn sinh tử. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng được như vậy.
Đức Thế Tôn lại dạy:
– Lâu xa về trước, trong quá khứ có một vị Thánh vương tên Văn Đà Kiệt, đức hạnh cao tột chói sáng trong đời, công đức làm cảm động đến vua Đế Thích ở tầng trời Đao-lợi. Đế Thích khâm phục đức hạnh khó có của vị ấy nên ra lệnh ngựa xe, đến cung để rước vua. Khi vua vừa bước lên thiên xa, xe trời bỗng nhiên bay lên hư không. Trời Đế Thích ra nghênh rước cùng ngồi chung với vua, vui chơi hết sức vui thích rồi đưa vua trở về cung.
Đức Phật bảo các vị Tỳ-kheo:
–Trời Đế Thích lúc đó là Đại Ca-diếp, còn vua Văn Đà Kiệt chính là thân của Ta. Xưa kia Đế Thích dùng tòa sinh tử sợ hãi mời Ta cùng ngồi. Nay Ta dùng tòa Chánh pháp Chân thật Tối thượng báo đền công đức xưa.
Đức Phật nói về bổn hạnh trong quá khứ hiển bày rõ Thánh đức. Tỳ-kheo Ca-diếp và tất cả chúng hội đều được giải thoát, cùng phát tâm cầu đạo Vô thượng Chánh chân. Giáo pháp vang truyền khắp nơi, không ai không an lạc.

Phẩm 13: ĐỘ NẠI NỮ12
 
Đức Phật từ nước Ca-duy-la-vệ cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đến nước Bạt-kỳ để độ nhân dân xứ ấy. Khi đến thành Duy-da-ly13, Ngài đi tới vườn cây của Nại nữ. Trong thành có
________________
12. Nại nữ: tiếng Hán dịch ý từ chữ Pàli: Ambapàli (Sanskrit: Àmrapàlì). Phiên âm là A-phàm-hòa-lợi, A-phạm-bà-la, Am-bà-bà-lợi…
13. Duy-da-ly (Pàli: Vesàli; Sanskrit: Vaisàlì): còn phiên âm là Tỳ-xá-li, Tỳ-da-li (nay là Basarh).

* Trang 823 *
device

người con gái tên A-phàm-hòa-lợi nghe Đức Phật đến giáo hóa, vô cùng vui mừng liền sửa soạn cùng với năm trăm cô gái ra đón.
Đức Phật truyền dạy các vị Tỳ-kheo:
–Các ông hãy khép mắt, giữ ý chánh niệm, chớ có vọng tưởng ngoái nhìn, vì sắc dục làm mê loạn con người, chỉ có đạo mới có thể chế ngự tình cảm, kiểm soát tâm ý. Bậc có trí mới làm được như vậy. Nay có cô gái tên A-phàm-hòa-lợi cùng với năm trăm cô gái khác muốn được nghe pháp. Các ông, mỗi người phải phòng hộ, giữ gìn tịnh hạnh, chớ có buông lung tâm ý.
Các vị Tỳ-kheo đều vâng lãnh lời Phật dạy.
A-phàm-hòa-lợi đi đến trước cửa, xuống xe, chắp tay để trước ngực, cúi đầu đi thẳng đến trước, đầu mặt sát đất đảnh lễ Đức Phật rồi đứng về chỗ của nữ giới.
Đức Thế Tôn dạy:
–Thân này không tồn tại lâu dài, nhan sắc không xinh tươi mãi mãi, mạng sống con người như gió thoảng qua, có trẻ mạnh phải có già suy, chớ cậy vào nhan sắc mà làm những việc ô nhiễm. Người thế gian u mê, lầm lỗi sinh ra tai họa đều do sắc dục. Ba đường (ác) rất khổ, bậc có trí mới ngăn chận được chúng.
Các cô gái nghe Đức Phật dạy tâm được thông suốt, lòng dục ngưng tắt, khởi lên ý niệm cầu đạo, tự quy y ba Bậc Tôn quý. A-phàm-hòa-lợi rời chỗ ngồi bạch Đức Phật:
–Đức Thế Tôn đã không vì người nữ thấp hèn, cho chúng con được nghe pháp. Mong Đức Như Lai hoan hỷ cùng chư vị Tỳ-kheo Tăng sáng mai hạ cố đến chỗ chúng con thọ bữa trai thực đạm bạc.
Khi ấy Đức Phật im lặng tỏ ý nhận lời. Các cô gái đứng dậy cúi đầu mặt đảnh lễ Đức Phật, vui mừng ra về.
Bấy giờ, trong thành phố có một chàng trai con nhà trưởng giả cùng năm trăm người bạn nghe Đức Phật đến đây giáo hóa, đang dừng chân nghỉ tại Nại viên liền cùng nhau đến chỗ Đức Phật để nghe pháp. Xe, ngựa và phục sức của họ đều lấp lánh năm màu rực rỡ. Ra khỏi thành, đến khu Nại viên, những người tùy tùng, xe ngựa đều im lặng đúng pháp. Đến trước cửa, họ xuống xe chắp tay tiến tới trước lễ bái, thưa bạch rồi về chỗ ngồi của nam giới. Đức Phật dạy:
–Các vị con trai nhà quý tộc, các vị có được địa vị cao sang, tôn

* Trang 824 *
device

quý, được vui vẻ theo ý muốn đều do phước đức đời trước đưa đến. Nay được gặp Đức Phật, công đức sẽ tăng thêm lợi ích.
Các chàng trai con nhà trưởng giả vui mừng rời khỏi chỗ ngồi, quỳ thẳng thỉnh Đức Phật:
–Sáng mai cúi xin Đức Thế Tôn xót thương đến chỗ chúng con dùng bữa trai thực đạm bạc.
Đức Phật liền bảo:
–Ta đã nhận lời mời trước rồi. Đức Phật không hứa thọ nhận hai lần.
Các trưởng giả tử lại bạch:
–Chúng con không rõ tên họ của người thỉnh đó là ai?
Đức Phật nói:
–Vừa rồi, Ta đã thọ nhận lời thỉnh cầu của A-phàm-hòa-lợi, sáng mai Ta sẽ đến đó.
Các chàng trai con nhà trưởng giả bạch Đức Phật:
–Họ chỉ là thường dân trong nước, có lẽ nào lại được ưu tiên?
Đức Phật dạy:
–Này các vị con trai nhà quý tộc, lòng Từ của Như Lai trải đến khắp nơi, không phân biệt giàu sang hay thấp hèn.
Các vị trưởng giả tử đến trước đảnh lễ dưới chân Đức Phật rồi giã từ trở về nhà. Họ đến gặp A-phàm-hòa-lợi, bảo:
–Đức Phật là Bậc Tôn quý nhất, Ngài vì lợi ích cho tất cả mọi người nên đến nước ta giáo hóa. Việc cúng dường trai thực cho Đức Phật và chúng Tăng phải dành cho chúng ta trước bởi vì nam vốn cao quý, nữ vốn thấp kém nên cô phải cúng dường sau. Phải cẩn thận! Đừng có bày biện gì để cúng dường. Vì việc ấy, chúng ta đến đây để nói với cô.
Cô gái bảo các vị trưởng giả tử:
–Các anh không nên dùng sức mạnh giàu sang, quyền quý lấn lướt người yếu kém. Nay tôi xin bốn điều, nếu các anh làm được thì tôi không dám cúng dường trước. Bốn điều ấy là gì?
Một là xin làm cho tâm tôi luôn giữ được ý niệm lành không thay đổi.
Hai là xin làm cho mạng sống của tôi tồn tại mãi không mất.
Ba là xin làm cho tài sản của tôi còn mãi không hao giảm.

* Trang 825 *
device

Bốn là xin làm cho Đức Thế Tôn thường ở đây giáo hóa, không sang nước khác.
Các chàng trai liền nói:
–Thiện tâm rất khó giữ, mạng người cũng vậy, chúng ta thật không thể làm được.
Họ cùng bảo nhau:
–Cô gái này là người có phước, nên mới được cúng dường Đức Phật trước và thấu hiểu được lý vô thường. Thật là đáng mừng!
Có những chàng trai nhỏ tuổi trong nhóm xấu hổ vì họ phải cúng dường sau nên sinh lòng hẹp hòi, ra lệnh cho người coi chợ phải bãi chợ. A-phàm-hòa-lợi sai người hầu ra chợ mua đồ nhưng chẳng mua được gì. Nàng vào xem lại trong kho thì thấy chứa đầy mọi thứ thực phẩm, chỉ thiếu than củi. Đi tìm mãi không có, nàng liền mở kho lấy bông vải tẩm dầu thơm đốt lên nấu nướng, chuẩn bị đầy đủ các thức trai phẩm cúng dường. Sang ngày mai, đến giờ thọ trai nàng sai người đến bạch Đức Phật nhưng cửa thành lại bị đóng kín. Người ấy trở về thưa:
–Cửa thành không mở.
Biết việc này do các chàng trai con trưởng giả làm, nàng thầm Nghĩ: “Đúng theo pháp, ta phải cử người đến thưa thỉnh với Đức Phật việc cúng dường đã chuẩn bị xong, nhưng làm thế nào để ra khỏi thành?”
Cô liền bảo chim Anh vũ:
–Ngươi hãy đến bạch thỉnh Đức Phật.
Chim Anh vũ vâng lệnh bay ra khỏi nhà. Các chàng trai con trưởng giả liền giương cung bắn chim. Chim Anh vũ vâng lệnh đến thỉnh Phật nên được oai thần che chở, các mũi tên đều hóa thành bông hoa. Chim bay tới nơi Phật ngự, trụ giữa hư không bạch:
–Tất cả trai nghi đã chuẩn bị xong, cúi xin Đức Thế Tôn quang lâm chứng minh.
Khi ấy Bậc Chúng Hựu hiện uy nghi của Bậc Đạo Sư, chân vừa bước thì cửa thành liền mở, đất trời chấn động, loài rồng phun mưa khắp mặt đất, nhạc trời theo đó tấu lên. Các khí cụ âm nhạc tự nhiên vang rền. Sau khi thọ thực, lấy nước rửa tay xong, Đức Phật giảng dạy kinh pháp cho năm trăm vị trưởng giả tử, nàng A-phàm-hòa-lợi và năm trăm cô gái, khiến họ đều đạt được pháp nhãn và nhận lãnh

* Trang 826 *
device

năm giới. Sau đó, Đức Phật và các vị Tỳ-kheo Tăng trở về vườn cây của nàng A-phàm-hòa-lợi. Tất cả mọi người đều hoan hỷ, không ai không vui thích nghe pháp.

Phẩm 14: NI-KIỀN VẤN NGHI
 
Đức Phật từ Duy-da-ly cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo Tăng và một ngàn vị Ưu-bà-tắc đồng đến vườn Ba-hòa-ly, nước Na-nan-đà. Bấy giờ nước ấy đang mê theo tà hạnh, phụng thờ sáu vị ngoại đạo sư. Trong thành có một vị trưởng giả giàu có tên A-di-bạt-đề-phất hết sức siêng năng phụng sự cho vị ngoại đạo sư Ni-kiền. Ông ta nghe Đức Phật đến xứ này nhưng vẫn đến chỗ Ni-kiền lễ bái như thường lệ. Ngoại đạo sư Ni-kiền hỏi:
–Ông có nghe Cù-đàm đến đây không?
Trưởng giả thưa:
–Đã nghe.
Ni-kiền bảo:
–Ông hãy đến vấn nạn Sa-môn Cù-đàm một việc sẽ làm cho ông ta bị nghẹn họng.
Bạt-đề-phất hỏi:
–Việc ấy là gì mà khiến ông ta không thể trả lời được?
Ni-kiền trả lời:
–Ông hãy hỏi Cù-đàm: “Tôi nghe Sa-môn thường tụng niệm cầu nguyện cho tất cả chúng sinh đều được no đủ, nay lại hèn hạ cùng đông người đến một đất nước nghèo đói, làm phí tổn lương thực của mọi người. Điều này thật không có lợi ích gì cả!”.
Bạt-đề-phất vâng lệnh lui ra, lập tức đến chỗ Đức Phật. Nhìn thấy Phạm tướng uy nghiêm, oai đức rạng ngời của Đức Phật, chư vị đệ tử của Ngài pháp tướng oai nghi tề chỉnh, nghiêm trang, tâm trưởng giả bỗng hân hoan cung kính, vòng tay tiến đến trước Đức Phật, đứng thẳng vái chào rồi ngồi xuống bạch:
–Con muốn thưa hỏi một việc, kính mong Ngài giải thích.
Đức Phật bảo:
–Hãy nói điều ông muốn được nghe.

* Trang 827 *
device

Bạt-đề-phất thưa:
–Con được nghe Đức Cù-đàm làm lợi ích cho muôn loài, khiến cho tất cả đều được an ổn. Nhưng nay Ngài lại cùng đông người đến một đất nước nghèo đói làm tốn lương thực của nhân dân, chỉ làm hao tổn mà không đem lại ích lợi gì.
Đức Phật bảo A-di-­bạt-đề-phất:
–Từ chín mươi mốt kiếp đến nay, Ta chưa nghe nói khuyên người làm việc phước đức chỉ đem lại sự hao phí của cải mà không lợi ích gì. Nhưng Ta nghe rằng sự giàu sang, an lạc vinh hiển đều do nhân hạnh bố thí trong quá khứ, chưa từng có ai hao tổn nhiều tài sản mà không có quả báo. Người làm việc nhân Nghĩa, hiện tại được người đời truyền tụng ca ngợi, tương lai được sinh lên Thiên giới. Do vậy Ta thường khuyên dạy mọi người vui làm việc lành sẽ có phước báo theo thân.
Đức Phật lại dạy trưởng giả:
–Tài sản con người có tám điều nguy hại làm cho hao tổn mà không đem lại lợi ích:
Một là bị quan thu lấy.
Hai là bị kẻ đạo tặc cướp đoạt.
Ba là bị lửa cháy mà không biết.
Bốn là bị nước trôi.
Năm là bị oan gia trái chủ cướp giật một cách ngang ngược.
Sáu là có ruộng vườn mà không khai khẩn.
Bảy là buôn bán mà không có lợi.
Tám là bị con bất hiếu lén lấy tiêu xài phung phí, vô đạo.
Tám việc như vậy rất nguy hại, khó bảo tồn. Khi tám điều tai họa này ập đến thì không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Cho nên Đức Như Lai vì lý do đó khuyên người bố thí, đưa đến ruộng phước an ổn, vô cùng bền vững, khó thể chuyển dời, nước, lửa hay giặc cướp không thể làm hại được. Lúc mạng chung người ấy sẽ được sinh lên cõi trời, mọi thứ ăn, mặc đều tự nhiên hóa hiện.
Đức Phật dạy vị trưởng giả:
–Pháp ngữ này rất cần thiết, làm chuyển hóa sự ngu si, lầm lạc của người đời. Nếu không tin sẽ hủy hoại tập tánh thiện của bản thân, phải rơi vào ba đường (ác). Nếu có thể tỉnh giác phân biệt rõ,

* Trang 828 *
device

thay đổi nhận thức và hành động hướng tâm vào Niết-bàn, an tịnh thì con đường tu tập rất rõ ràng.
A-di-bạt-đề-phất nghe Đức Phật thuyết pháp lòng vui mừng, nội tâm định Tĩnh, từ tòa ngồi đứng dậy bày tỏ:
–Con thật ngu si, trong lòng chất chứa mê hoặc, không phân biệt được Nghĩa lý chân thật nên mới chất vấn điều phi pháp. Thật ra đó chẳng phải là ý thô lậu của con mà do Ni-kiền sai khiến, con phải vâng lời không thể từ chối. Mong Đức Phật rủ lòng thương, tha thứ tội lỗi của con.
Đức Phật bảo:
–Ông có thể tự tỉnh thức, phước ấy thật vô lượng.
Trưởng giả vui mừng bạch Phật:
–Tâm con mê ám khó ngộ, có điều nghi ngờ muốn được thưa hỏi.
Đức Phật dạy:
–Hãy tùy ý hỏi! Nay Ta sẽ vì ông phân biệt mọi việc.
Trưởng giả hỏi:
–Con được nghe Đức Như Lai với lòng Từ bình đẳng cứu độ tất cả, không rõ vì sao giáo pháp lại thiên lệch, lẫn lộn, không đồng. Có người đắc đạo, có người thì không đắc đạo. Lâu nay con ôm ấp mãi mối nghi này, cúi mong Đức Thế Tôn mở bày cho con.
Đức Phật dạy:
–Câu hỏi đó thật là tốt lành! Ông hãy lắng nghe và nhớ thọ trì. Ví như một nông phu có hai thửa ruộng: thửa ruộng thứ nhất ở trên cao khô ráo, đất phì nhiêu; thửa ruộng thứ hai ở dưới ẩm thấp thì đất xấu. Vào mùa xuân, người ấy vẫn ra sức cày bừa như nhau, gieo hạt đúng thời tiết, cuốc xới trừ cỏ dại. Đến mùa thu thì gặt hái nhưng sản lượng của hai thửa ruộng lại khác nhau.
Đức Phật bảo vị trưởng giả:
–Công sức người ấy bỏ ra vốn như nhau nhưng sản lượng thu hoạch lại không đồng là do đất nhiều dinh dưỡng hay ít dinh dưỡng. Những người nghe pháp của Ta, tin tưởng vâng giữ theo đó tu tập sẽ tùy theo tâm niệm mà được thành tựu đạo quả, ví như ruộng lúa phì nhiêu nên sản lượng thu hoạch được rất nhiều. Nay các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di này tùy theo tâm niệm có thể đi sâu

* Trang 829 *
device

vào thần thông không chướng ngại. Còn những kẻ nghe giảng dạy mà chống chế không tin tưởng, ví như ruộng lúa ở dưới thấp bị ngập nước, ít dinh dưỡng nên không thể sinh trưởng được. Chính là sáu vị thầy ngoại đạo ni-kiền hiện nay.
Đức Thế Tôn lại dạy:
–Ví như một người đem hai chiếc bình đi lấy nước, bình thứ nhất thì nguyên vẹn rất bền chắc, còn bình thứ hai thì bị thủng hư hoại. Khi dùng đựng nước thì chiếc bình nguyên vẹn luôn đầy, còn chiếc bình thủng thì bị chảy hết. Những người nghe giáo pháp, tinh cần tu tập, vâng giữ không phạm giới, theo lời dạy giữ gìn trang nghiêm thân, khẩu, ví như chiếc bình nguyên vẹn chứa nước được lâu dài. Còn những kẻ nghe giáo pháp, không lãnh nhận, không tin tưởng, lại còn chê bai, gièm pha, quên lãng, đánh mất tập tánh thiện của con người, sẽ phải quay trở lại đường ác, ví như chiếc bình bị lủng, không thể chứa đầy nước.
Đức Phật bảo trưởng giả:
–Ông nhờ thiện hạnh đời trước nên mới được gặp Phật. Tuy được giàu sang nhưng lại không tin tưởng giáo pháp, ví như loài hoa dại sẽ rơi rụng mà không kết thành trái được.
Trưởng giả A-bạt-đề-phất lòng mừng vui, vô cùng thành kính cất lời ca ngợi lời dạy của Đức Phật thật là tốt lành, lời dạy thật vi diệu, lập tức phát tâm cầu đạo Vô thượng chánh chân, nhận lãnh giới pháp rồi lui ra.
Tất cả người trong nước đều phát tâm hướng đạo. Mọi tà thuật của sáu vị ngoại đạo sư bị phá bỏ. Trời, Người, Rồng, Quỷ đều ca ngợi lời Phật dạy.

Phẩm 15: ĐỨC PHẬT ĂN LÚA NGỰA
 
Bấy giờ Đức Phật từ Ba-hòa-ly cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo trở về khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc.
Khi ấy ở giữa biên giới nước Xá-vệ có một địa phương tên Tùy-lan-nhiên, tại đó có một Bà-la-môn tên A-kỳ-đạt, là người đa trí thông minh, nhà cửa giàu có không ai sánh bằng. Một hôm, vị Bà-la-

* Trang 830 *
device

môn đi đến nhà của A-nan-bân-kỳ bàn bạc công việc. Sau khi xong việc, ông hỏi Tu-đạt:
–Hiện nay tại vùng này có vị Thánh nhân nào xứng đáng là Bậc Tôn Sư không?
Tu-đạt đáp:
–Ông chưa nghe sao? Có vị Vương tử dòng họ Thích xuất gia học đạo, nay đã thành đạo, hiệu là Phật. Hình tướng dung mạo của người đều rất đẹp, chẳng phải là bậc mà người đời dễ gặp, oai nghi của người rất đoan chánh, thanh nhã. Ngài soi chiếu làm tiêu trừ cấu nhiễm, phiền não trong tâm niệm chúng sinh; là Bậc đã thể đạt trí tuệ thần thông, biết rõ nguồn cội của muôn loài. Các vị Trời, Rồng, Thần đều thờ kính. Mỗi pháp ngữ của Ngài giảng, ý Nghĩa đều rõ ràng, thuần nhất đưa đến giải thoát, không thể dùng trí tuệ le lói như đom đóm của tôi mà nói hết được.
A-kỳ-đạt được nghe đức hạnh siêu việt của Thế Tôn, trong lòng rất hồi hộp liền hỏi:
–Hiện nay Đức Phật ngự ở đâu? Tôi có thể gặp được không?
Tu-đạt trả lời:
–Ngài trụ tại tinh xá Kỳ hoàn ở gần đây, đang rộng mở tuyên bày diệu pháp.
Sáng ngày mai A-kỳ-đạt đến tinh xá Kỳ hoàn. Vừa vào cửa, nhìn thấy Phạm tướng uy nghi rạng rỡ của Đức Phật, trong lòng ông khởi lên niệm cung kính, liền tiến đến phía trước lạy dưới chân Đức Phật, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật thuyết pháp cho ông nghe, tâm A-kỳ-đạt rất vui mừng phấn khởi lập tức rời khỏi chỗ ngồi thỉnh cầu Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo Tăng hứa nhận đến Tùy-lan-nhiên giáo hóa trong ba tháng.
Đức Phật dùng tuệ quán, biết rõ nhân duyên trong quá khứ nên im lặng nhận lời thỉnh cầu. A-kỳ-đạt được Đức Phật hứa nhận vội từ giã quay về nước. Trở về nhà, A-kỳ-đạt chuẩn bị, sắp xếp vật dụng, vật thực để cúng dường đều là những thứ quý giá, ngon đẹp nhất.
Đến ngày đó Đức Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo Tăng đi tới Tùy-lan-nhiên. Ngay khi ấy A-kỳ-đạt bị thiên ma mê hoặc, lòng chìm đắm trong năm dục: 1. Vật trang sức quý báu; 2. Nữ nhạc; 3. Y

* Trang 831 *
device

thực; 4. Vinh lợi; 5.Sắc dục; nên ông ta ra nhà sau lệnh cho người giữ cửa:
– Trong ba tháng, không được tiếp khách bất kể là người sang hay kẻ hèn. Phải tuân lệnh của ta.
Đức Như Lai đến nhà A-kỳ-đạt nhưng cửa đóng kín không vào được nên bèn đến nghỉ trong một ngôi nhà sát bên dưới một cây cội lớn. Đức Phật bảo các vị Tỳ-kheo Tăng:
–Địa phương này bị đói kém, người dân lại không ưa thích đạo, mỗi người hãy tự đi khất thực tùy theo chỗ thích hợp.
Tôn giả Xá-lợi-phất vâng lời Phật dạy, bay lên cõi trời Đao-lợi, mỗi ngày độ các thứ thiên thực tự nhiên. Ba ngày sau, chúng Tăng đi khất thực trên các cõi trời trở về. Lúc đó có một người làm nghề huấn luyện ngựa lấy bớt phần lúa mạch của ngựa dâng cúng cho Đức Phật và vị Tỳ-kheo kia. Tôn giả A-nan lấy bát đựng phần lúa mạch ấy, trong lòng đau xót nói:
–Hương vị thơm ngát trong các món thiên thực của các vị trời, các món ăn của quốc vương cúng dường, mỗi thứ đều có hương vị thơm ngon còn không thể xứng dâng cho Đức Thế Tôn. Nay loại lúa mạch này vô cùng thô dở có thể nào lại đem nó cúng dường cho Đức Phật sao?
Tôn giả đem phần lúa mạch được cúng dường đến bảo một bà lão:
–Đức Phật là Bậc vô cùng tôn kính, là Bậc Pháp Ngự trên tất cả. Nay tôi muốn làm cơm cúng cho Ngài, mong lão bà nấu giúp. Công đức ấy thật lớn vô cùng.
Bà lão trả lời Tôn giả A-nan:
–Tôi bây giờ đang bận việc, không thể nấu được.
Một bà lão ở gần đó nghe được lời ca ngợi Đức Phật, Thế Tôn bèn chạy tới xin nấu cơm hộ. Tôn giả A-nan chấp nhận liền nhờ bà lão nấu. Đức Phật độ thực xong, chú nguyện. Lòng Tôn giả A-nan như thắt lại. Đức Phật muốn giải tỏa tâm niệm của A-nan nên trao phần cơm còn lại cho Tôn giả. Ngài A-nan thấy cơm ấy có đủ trăm hương vị thơm ngon, thế gian chẳng thể có được. Tâm Tôn giả A-nan được giải tỏa, bạch Phật:
–Diệu đức của Như Lai thật không thể Nghĩ bàn.

* Trang 832 *
device

Bấy giờ Đức Như Lai muốn đến nước Bạt-kỳ, nên truyền bảo ngài A-nan đến báo trước cho trưởng giả A-kỳ-đạt. Tôn giả A-nan vâng lệnh lập tức đến báo tin. A-kỳ-đạt tâm ý vẫn chưa tỉnh ngộ thấy Tôn giả A-nan đi đến, liền hỏi:
–Đức Như Lai hiện nay đang ở đâu?
Tôn giả A-nan báo tin:
–Trước đây Thế Tôn đã nhận lời thỉnh cầu của ông nên trong ba tháng qua Ngài đã trụ tại đây. Bậc Tôn quý không nói hai lời. Nay đã xong ba tháng nên đến cáo từ ông để ra đi.
A-kỳ-đạt nghe Đức Phật ban ân đến giáo hóa mà bản thân không kịp cúng dường nên lòng buồn lo lẫn lộn liền chạy đến chỗ Đức Phật, đầu mặt sát đất đảnh lễ bày tỏ:
–Con thật tội lỗi, bị màn si ám che phủ nên đã không giữ tròn lời hứa. Cúi mong Đức Thế Tôn từ bi tha thứ tội nặng này của con.
Đức Phật bảo vị Phạm chí:
–Ta đã rõ tấm lòng chí thành của ông.
A-kỳ-đạt mừng vui đến trước Đức Phật bạch:
–Cúi xin Thế Tôn ở lại bảy ngày để con được cúng dường.
Vì vừa đến ngày mãn hạ nên Đức Phật nhận lời. Đến ngày đó, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng từ cõi trời đi xuống. Sau lễ tự tứ, Đức Phật sắp khởi hành đến nước Bạt-kỳ. A-kỳ-đạt đem tất cả đồ cúng dường còn dư bày ra khắp mặt đất muốn để Đức Phật dẫm đạp lên đi qua. Đức Phật bảo vị Phạm chí:
–Tất cả lương thực, lúa gạo và trai phẩm để ăn, không nên lấy chân dẫm lên trên.
Đức Phật thọ nhận sự cúng dường ấy, chú nguyện bằng bài kệ:
Phái ngoại đạo tu hành
Siêng thờ lửa tối thắng
Học vấn ngày một cao
Thông Nghĩa là bậc nhất.
Mọi người đồng kính ngưỡng
Đứng đầu Giá-ca vương
Sông ngòi nguồn suối chảy
Biển lớn sâu thắng vượt,
Tinh tú trụ khoảng không

* Trang 833 *
device

Mặt trời, trăng sáng nhất
Phật xuất hiện thế gian
Thọ thí, phước tối thượng.
Tâm A-kỳ-đạt vui mừng, giải tỏa mọi phiền não rang buộc, liền được pháp nhãn thanh tịnh. Mọi người già trẻ ở trong nước đều phát tâm hướng theo đạo, đến trước lạy dưới chân Đức Phật rồi hoan hỷ ra về. Bấy giờ Tôn giả A-nan nương theo oai thần của Đức Phật, biết trong tâm các Tỳ-kheo có mối nghi lớn, nên bạch Đức Phật:
–Đức Như Lai thần thông diệu dụng, Tam đạt14 rộng chiếu, biết rõ mọi tâm niệm của chúng sinh do nhân duyên gì khởi, không rõ vì sao có lúc phải ăn lúa mạch? Mong Đức Phật giảng bày để giải tỏa mối nghi của chúng Tăng.
Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo:
–Trong quá khứ lâu xa về trước, có một nước lớn tên Bàn-đầu-việt do vị vua tên Tần-đầu thống lĩnh. Vua có một thái tử tên là Duy-vệ xuất gia học đạo. Khi thành tựu Phật quả vẫn lấy tên là Duy-vệ có tướng tốt uy đức đứng đầu trong các Đức Phật ở quá khứ, giáo pháp của Ngài cũng thế, có sáu vạn hai ngàn (62.000) Tỳ-kheo theo hầu. Đức phụ vương dâng cúng trai thực cho Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo Tăng nên cho người chuẩn bị trai lễ, trang hoàng bằng tràng phan quý nhất thế gian, trong thành được sửa sang, sắp xếp thật huy hoàng, tráng lệ. Khi ấy có một Phạm chí đức hạnh thanh cao, cùng các đệ tử có việc phải vào thành. Vị Phạm chí thấy vậy nên hỏi mọi người:
–Có lễ hội gì đặc biệt mà trang hoàng rực rỡ như vậy?
Người đi đường đáp:
–Vị thái tử con vua Tần-đầu đắc đạo, hiệu là Phật. Hôm nay vì vua và quan dân thiết lễ cúng dường nên Đức Phật sắp đến đây.
Vị Phạm chí nói:
–Người đời thật mê muội, tổn phí dâng món ăn cao sang cho vị ấy làm gì. Theo lời ông nói thì vị ấy chỉ xứng được ăn lúa mạch của ngựa.
Năm trăm đệ tử cũng đồng thanh khen thầy nói phải. Trong nhóm có một người lên tiếng can thầy:

* Trang 834 *
device

–Lời thầy nói thật chẳng đúng. Thầy nên nói: “Đức hạnh của vị ấy thật đáng tôn kính, xứng đáng thọ nhận cơm của chư Thiên”.
Đức Phật dạy các Tỳ-kheo:
–Vị Phạm chí có đức hạnh thanh cao lúc ấy chính là thân Ta, năm trăm vị đệ tử nay chính là các ông, còn người can gián vị thầy lúc ấy là Xá-lợi-phất. Ta gieo cái nhân ấy đến nay mới hoàn trả xong.
Đức Phật dạy bảo các vị Tỳ-kheo:
–Các ông mỗi người phải giữ gìn tâm, miệng, cẩn thận chớ buông lung. Việc thiện, ác sẽ đi theo con người, dù lâu xa vẫn không mất. Cần phải tu tập trí hạnh mới có thể nhờ đó đắc đạo. Các ông theo quả báo phải hoàn trả của Ta thì tỏ tường.
Các vị Tỳ-kheo nghe pháp xong đều hoan hỷ vâng lời Phật dạy để tu tập.

* Trang 835 *
device

* Trang 836 *
device

 
Đại Tập XIV, Bộ Bản Duyên V (Số 192 - 198)